Vì sao lãi suất cho vay chưa hấp dẫn doanh nghiệp?

Dù lãi suất huy động liên tiếp giảm theo quy định của NHNN nhưng lãi suất cho vay vẫn ở mức cao khiến doanh nghiệp không mất mặn mà. Tại sao lại như vậy?

Động thái liên tục giảm lãi suất điều hành cùng với việc đề xuất sửa đổi Thông tư 01 theo hướng kéo dài thời gian cơ cấu nợ, miễn giảm lãi vay cho doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của Covid-19 cho thấy, NHNN đang áp dụng nhiều biện pháp cùng lúc để thúc đẩy hỗ trợ doanh nghiệp, tăng trưởng kinh tế.

Thời gian qua dù lãi suất vay đầu ra đã giảm khá nhiều nhưng cầu tín dụng vẫn tăng thấp. Tăng trưởng tín dụng 9 tháng chỉ ở mức 6,09%, thấp nhất trong 5 năm qua, trong khi huy động vốn tăng 7,7%. 

Ghi nhận tại nhiều ngân hàng, lãi suất huy động dưới 6 tháng xuống dưới 4% và cao nhất ở mức 7,2%/năm cho kỳ hạn trên 12 tháng. Tuy nhiên, lãi suất cho vay đang ở mức 5%-8%/năm cho vay ngắn hạn và 8%-11%/năm cho vay trung - dài hạn (phải có tài sản thế chấp).

Riêng lãi suất ngắn hạn và các gói cho vay ưu đãi 5%-6%/năm được nhiều doanh nghiệp phản ánh điều kiện cho vay quá khắt khe, khó tiếp cận.

Theo các doanh nghiệp, lãi suất cho vay trung và dài hạn trong bối cảnh hiện naychỉ nên ở mức +2%-3% so với lãi huy động, tức quanh mức 6%-7%/năm. Một số doanh nghiệp và hiệp hội ngành nghề đã đề xuất cho vay vốn với lãi suất 0% nhằm giúp doanh nghiệp vượt qua mùa dịch.

Quảng cáo

Lý giải nguyên nhân vì sao lãi suất cho vay chưa được như kỳ vọng của doanh nghiệp,  lãnh đạo một ngân hàng lớn, hiện vẫn đang cho các doanh nghiệp tốt, khách hàng lâu năm vay trung và dài hạn với mức lãi suất 5-6%.

Thực tế, không hẳn doanh nghiệp nào cũng từ chối nguồn vốn, có một số doanh nghiệp tha thiết vay, thậm chí chấp nhận với lãi suất 11%-12%/năm nhưng ngân hàng e ngại.

Cũng theo vị lãnh đạo này, dù rất muốn đẩy tăng trưởng tín dụng nhưng không phải hồ sơ vay nào cũng được giải ngân, ngân hàng sẽ ưu tiên những doanh nghiệp hoạt động ổn định, an toàn và đảm bảo có khả năng trả nợ.

Báo cáo phân tích lợi nhuận ngành ngân hàng của Công ty Chứng khoán Maybank KimEng cũng cho biết, việc hỗ trợ doanh nghiệp giãn, hoãn nợ đã ảnh hưởng đến chỉ số NIM (biên độ lãi ròng) bình quân của các ngân hàng trong 6 tháng đầu năm, chỉ còn 3,2% (giảm khoảng 0,4% so với cuối năm 2019). Ước tính chỉ số NIM của hệ thống ngân hàng cuối năm 2020 sẽ giảm về khoảng 3%, nên dư địa giảm lãi suất cho vay còn rất ít.

Cũng bày tỏ quan ngại với bức tranh kinh doanh của ngành ngân hàng, báo cáo mới đây về tình hình kinh tế Việt Nam, Ngân hàng Thế giới (WB) nhận định, một hiệu ứng khi nới lỏng cho vay là một số ngân hàng kết quả kinh doanh kém đi do tỷ lệ nợ xấu trong danh mục tăng lên.

Theo WB, giữa năm 2020, khoảng 1/4 danh mục vốn vay của Việt Nam đã bị ảnh hưởng bởi Covid-19 và một số có khả năng thành nợ xấu. NHNN cho biết, ước tính khoảng 2,5 triệu tỷ đồng dư nợ bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh (khoảng 30% tín dụng toàn hệ thống), tiềm ẩn rủi ro với hoạt động ngân hàng.

Trong khi đó, theo TS Lê Xuân Nghĩa, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia, nếu áp dụng lãi suất 0% cho một số doanh nghiệp đặc thù thì Chính phủ phải tài trợ lãi suất này, vì thực tế chỉ có ngân hàng trung ương mới có chính sách lãi suất 0%. Các ngân hàng thương mại (NHTM) có thể cho vay hỗ trợ doanh nghiệp ở mức 2%-3%/năm với điều kiện được ngân sách Nhà nước cấp bù chênh lệch lãi suất, nhưng trong bối cảnh hiện nay, giải pháp này không được đánh giá cao. Thay vào đó, Chính phủ cần tập trung tháo gỡ những vướng mắc cho gói hỗ trợ kinh tế được hiệu quả hơn.

Tin tức liên quan

Có thể bạn quan tâm

Nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, tính minh bạch và tuân thủ các chuẩn mực quốc tế, Chính phủ đặt mục tiêu đưa từ 3 đến 5 ngân hàng niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài.

Thứ tư, 21/10/2020