10 mẫu đồng hồ đeo tay nổi tiếng nhất mọi thời đại

Thời gian là thứ tài sản quý báu nhất mà tự nhiên đã ban tặng cho con người và công cụ mà chúng ta dùng để chế ngự cũng như quản lý thời gian hiệu quả nhất chính là… đồng hồ.

Có thể nói, đồng hồ là một trong những phát minh vĩ đại nhất của con người, từ phát minh công cụ đo này mà con người đã sử dụng thời gian một cách hiệu quả và đã đạt được rất nhiều thành tựu vượt bậc trong nhiều lĩnh vực khác nhau, cũng như làm thay đổi, nâng cao tiến trình phát triển của nhân loại. Trên khắp thế giới, đồng hồ kết nối mọi người từ nhiều tầng lớp khác nhau bởi vì họ cùng chia sẻ niềm đam mê với những chiếc đồng hồ tinh xảo.

Thương Gia đã từng giới thiệu với bạn đọc 10 thương hiệu đồng hồ tốt nhất mọi thời đại và dưới đây sẽ bài viết cụ thể về 10 mẫu đồng hồ cụ thể được đánh giá là nổi tiếng nhất mọi thời đại. Có những mẫu đồng hồ không chỉ đơn thuần dừng lại ở mục đích xem giờ mà còn là câu chuyện lịch sử huy hoàng cho đến những thiết kế vượt thời gian không bao giờ lỗi mốt.

Đồng hồ Omega Speedmaster Professional có xuất xứ từ Thụy Sĩ, được sản xuất bởi thương hiệu cao cấp Omega, thuộc Tập đoàn Swatch Group có trụ sở tại Biel/Bienne.

Giới thiệu lần đầu năm 1957, mẫu đồng hồ ban đầu thiết kế cho đua xe thể thao (motorsport). Speedmaster Professional nổi tiếng toàn cầu với tên gọi "Moonwatch" khi là chiếc đồng hồ đầu tiên được đeo trên Mặt Trăng trong sứ mệnh Apollo 11 vào năm 1969.

Nếu muốn đánh giá chiếc đồng hồ nào có câu chuyện lịch sử hay nhất, thì Royal Oak, Nautilus và Daytona hoàn toàn có thể bị loại. Omega Speedmaster Professional lại gắn liền với nhiều lần đổ bộ thành công lên Mặt Trăng, một nhiệm vụ giải cứu trong không gian và vô số cuộc phiêu lưu ngoài vũ trụ cùng NASA.

Thường sử dụng bộ máy lên cót tay (manual winding) caliber 1861, 1863, hoặc 3861, vỏ thép không gỉ 316L, mặt kính Hesalite hoặc Sapphire. Điều này đã biến Moonwatch trở thành một huyền thoại thực sự khi thiết kế vượt thời gian của nó hầu như không thay đổi kể từ những ngày đầu tiên.

Hãng đồng hồ Rolex được thành lập bởi Hans Wilsdorf và Alfred Davis tại London nước Anh vào năm 1905, sau đó đến năm 1919, Rolex đã chuyển toàn bộ hoạt động cũng như cơ sở sản xuất sang Geneva, Thụy Sỹ.

Rolex Submariner là chiếc đồng hồ bị làm giả nhiều nhất trên thế giới. Ngay cả khi không am hiểu gì về đồng hồ, chắc chắn ai cũng đã từng nhìn thấy biểu tượng phong cách này. Mặc dù đã được liên tục cải tiến và hoàn thiện kể từ khi ra mắt lần đầu vào năm 1953, nó vẫn là chiếc đồng hồ không thể nhầm lẫn, nổi tiếng nhờ các bộ phim James Bond và vẫn được coi là biểu tượng địa vị cho đến ngày nay.

Biểu tượng đồng hồ lặn này đã kỷ niệm 70 năm ngày ra đời và vẫn luôn là xu hướng thời thượng.

Audemars Piguet Royal Oak là dòng đồng hồ xa xỉ đến từ Thụy Sĩ. Thương hiệu Audemars Piguet được thành lập năm 1875 tại vùng Vallée de Joux và bộ sưu tập Royal Oak danh tiếng ra mắt lần đầu năm 1972, tiên phong trong thiết kế đồng hồ thể thao cao cấp bằng thép.

Thiết kế kinh điển với vành bezel hình bát giác, 8 ốc vít lục giác, dây đeo tích hợp (integrated bracelet). Mặt số Tapisserie cùng họa tiết kẻ ô vuông nhỏ (Petite), vừa (Grande) hoặc lớn (Mega) đặc trưng.

Các dòng chính của mẫu đồng hồ bao gồm Royal Oak "Jumbo" Extra-Thin (39mm), Royal Oak Automatic (41mm, 37mm, 34mm) và các phiên bản Chronograph. Bộ máy của Royal Oak là Cal.4302 thế hệ mới với khả năng trữ cót 70 giờ và tần số 4Hz.

Bên cạnh đó, phiên bản kỷ niệm 50 năm (như Ref. 16202ST) là mẫu đồng hồ được săn đón cao độ. Royal Oak khẳng định vị thế tiên phong trong dòng đồng hồ thể thao cao cấp và là biểu tượng mang tính đột phá của hãng.

Rolex Datejust là dòng đồng hồ tự động (automatic) đầu tiên trên thế giới có ô cửa sổ hiển thị ngày tự động chuyển lịch tại vị trí 3 giờ.

Datejust có xuất xứ từ Thụy Sĩ, được thương hiệu Rolex giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1945, nhân dịp kỷ niệm 40 năm thành lập hãng. Dù được sáng lập bởi Hans Wilsdorf tại London, Anh năm 1905, Rolex đã chuyển toàn bộ hoạt động sản xuất về Geneva, Thụy Sĩ từ năm 1919.

Rolex Datejust là một biểu tượng phong cách thực sự, từng chi tiết đều làm nên sự độc đáo và danh tiếng toàn cầu của chiếc đồng hồ này trong lịch sử chế tác đồng hồ. Vòng bezel khía rãnh là một dấu ấn không thể nhầm lẫn, cũng như thấu kính Cyclops đặc trưng và dây đeo Jubilee, vốn được thiết kế đặc biệt cho chiếc Rolex này.

Rolex Datejust đã là một phần trong danh mục sản phẩm của Rolex từ năm 1945 và luôn là một sản phẩm không thể thiếu kể từ đó. Dựa trên Datejust, Rolex Day-Date cũng không kém phần mang tính biểu tượng với màn hình hiển thị thứ bổ sung, dây đeo President và cấu tạo bằng kim loại quý.

Rolex Datejust đã xuất hiện trong vô số các bộ phim điện ảnh và vẫn là một trong những chiếc đồng hồ nổi tiếng nhất từng được sản xuất, là sự kết hợp giữa thiết kế cổ điển và kỹ thuật tiên tiến, bền bỉ theo thời gian.

Nautilus có xuất xứ từ Thụy Sĩ, được thương hiệu xa xỉ bậc nhất thế giới Patek Philippe (thành lập 1839 tại Geneva) cho ra mắt lần đầu tiên vào năm 1976. Đây là dòng đồng hồ thể thao cao cấp, được thiết kế bởi huyền thoại Gérald Genta, lấy cảm hứng từ cửa sổ tàu biển.

Toàn bộ bộ máy và vỏ được phát triển, sản xuất tại các xưởng của Patek Philippe ở Thụy Sĩ, đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng cao nhất. Nautilus nổi tiếng với thiết kế vỏ hình bát giác bo tròn độc đáo, mang vẻ đẹp mạnh mẽ, thể thao nhưng rất thanh lịch.

Đồng hồ Patek Philippe Nautilus đã đóng một vai trò quan trọng trong xu hướng đồng hồ cao cấp hiện nay. Khi ra mắt vào năm 1976, thiết kế Genta thanh lịch là một trong những chiếc đồng hồ thép đầu tiên trong phân khúc cao cấp.

Nautilus hiện là một trong những bộ sưu tập đồng hồ thể thao xa xỉ phổ biến và được săn đón nhiều nhất trên thế giới.

Rolex Cosmograph Daytona là một mẫu đồng hồ đeo tay bấm giờ cơ khí được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của các tay đua bằng cách đo thời gian trôi qua và tính toán tốc độ trung bình.

Tên gọi của nó lấy cảm hứng từ Daytona Beach, Florida, nơi môn đua xe phát triển mạnh mẽ vào đầu thế kỷ XX. Rolex đã sản xuất chiếc đồng hồ này từ năm 1963 với 4 thế hệ khác nhau; dòng thứ 2 được giới thiệu vào năm 1988, dòng thứ 3 vào năm 2000 và dòng thứ 4 vào năm 2023.

Chiếc Cosmograph Daytona mới nhất được trang bị thang đo tốc độ, kim giây quét để đọc đến 1/8 giây, màn hình hiển thị giờ và phút đã trôi qua. Bộ máy Rolex calibre 4131 của nó có đặc điểm là sử dụng bộ ly hợp dọc (thay vì ngang) để kích hoạt chức năng bấm giờ và được thiết kế để có số lượng linh kiện ít hơn nhằm tăng độ tin cậy.

Hệ thống phút và giờ của dòng này được đơn giản hóa với một cơ chế duy nhất được đặt ở một bên của bộ máy (trước đây bao gồm 2 cơ chế được đặt ở cả 2 bên của bộ máy). Với vỏ 40mm, mẫu đồng hồ có nhiều chất liệu khác nhau, bao gồm vàng 18 karat như trong chiếc đồng hồ ref. 116598 thuộc sở hữu của Elton John, được bán đấu giá là 176.400 đô la (hơn 4,6 tỷ đồng).

Rolex Daytona được xem là "unicorn" (kỳ lân) trong giới sưu tầm đồng hồ và vẫn duy trì vị thế biểu tượng của hiệu suất và sự sang trọng.

Đồng hồ Navitimer được hãng Breitling SA ra mắt năm 1954 tại Thụy Sĩ. Kể từ đó, nó luôn là một trong những mẫu đồng hồ bán chạy nhất của Breitling. Tên Navitimer xuất phát bởi 2 từ được dùng để mô tả mục đích của nó: Điều hướng và Bộ hẹn giờ.

Năm 1941, Breitling đã được cấp bằng sáng chế cho một chiếc đồng hồ bấm giờ thước trượt tròn cải tiến, dễ dàng xử lý máy đo tốc độ, máy đo khoảng cách, máy đo nhịp tim và nhiều phép toán khác nhau. Chiếc đồng hồ ra đời năm 1942, có tên là “Chronomat”, viết tắt của Chronograph for Mathematician (Đồng hồ bấm giờ dành cho nhà toán học), cho phép thực hiện các phép tính trực tiếp trên đồng hồ.

Vòng bezel này trở nên gắn liền nhất với Navitimer. Đáp lại yêu cầu từ Hiệp hội Chủ sở hữu và Phi công Máy bay (AOPA), Breitling đã sản xuất Navitimer vào năm 1954. Ban đầu chỉ dành cho các thành viên của AOPA và được sản xuất với logo của họ trên mặt số, Navitimer sau đó đã được bán rộng rãi cho công chúng với logo Breitling “chữ B có cánh” vào năm 1956.

Năm 1961, Scott Carpenter, một trong những phi hành gia đầu tiên của chương trình không gian Mercury, đã giao nhiệm vụ cho Breitling tích hợp mặt số 24 giờ thay vì mặt số 12 giờ thông thường, do thiếu ngày và đêm trong du hành vũ trụ. Breitling đã sản xuất chiếc Navitimer 24 giờ, mà Carpenter đã đeo trong chuyến bay vào vũ trụ năm 1962 của mình. Breitling tiếp tục sản xuất phiên bản thương mại của phiên bản 24 giờ, Cosmonaute Navitimer , với cả logo của Breitling và AOPA.

Chiếc đồng hồ bấm giờ Navitimer tự động đầu tiên được giới thiệu ra công chúng vào năm 1969; bộ máy của nó được phát triển chung bởi Breitling, Dubois-Depraz, Heuer và Hamilton. Đó là một dự án liên doanh bí mật có tên gọi “Dự án 99” do Breitling dẫn đầu.

Đồng hồ Breitling Navitimer đã được đeo bởi một số cá nhân có tầm ảnh hưởng trong thế giới hàng không vũ trụ và hơn thế nữa bao gồm phi hành gia Scott Carpenter, nhạc sĩ nhạc jazz Miles Davis và diễn viên hài Jerry Seinfeld.

Đồng hồ Cartier Santos có xuất xứ từ Pháp, được thương hiệu xa xỉ Cartier (thành lập năm 1847 tại Paris) phát triển vào năm 1904. Đây là mẫu đồng hồ đeo tay nam chuyên dụng đầu tiên trên thế giới, được Louis Cartier thiết kế riêng cho phi công người Brazil - Alberto Santos-Dumont để tiện xem giờ khi bay.

Thiết kế mặt vuông với các ốc vít lộ rõ trên vành bezel, số La Mã. Chiếc đồng hồ được chế tác với vỏ bằng bạch kim hoặc vàng kích thước 25 x 35mm và là chiếc đồng hồ đầu tiên có khóa gập. Điều đáng chú ý là Santos có khả năng chống nước ở độ sâu 100m mà không cần núm vặn, giúp nó đạt được vị thế của một chiếc đồng hồ thể thao và cạnh tranh sòng phẳng với các đối thủ như Rolex Datejust.

Cartier Santos mang tinh thần thiết kế sang trọng của Pháp và chất lượng kỹ thuật cơ khí chính xác của Thụy Sĩ. Thiết kế nổi tiếng của mẫu đồng hồ hầu như không thay đổi kể từ lần đầu tiên ra mắt vào năm 1911.

Jaeger-LeCoultre Reverso có xuất xứ từ Thụy Sĩ, được ra mắt lần đầu vào năm 1931, đây là dòng đồng hồ biểu tượng nổi tiếng với thiết kế vỏ có thể lật ngược, được tạo ra nhằm bảo vệ mặt kính khỏi va đập trong các trận đấu Polo của sĩ quan quân đội Anh tại Ấn Độ.

Được thiết kế bởi René-Alfred Chauvot theo yêu cầu của doanh nhân César de Trey, người muốn tạo ra một chiếc đồng hồ bền bỉ cho người chơi Polo. Mặc dù ý tưởng xuất phát từ nhu cầu tại Ấn Độ, bộ máy và việc chế tác được thực hiện bởi nhà sản xuất đồng hồ danh tiếng Jaeger-LeCoultre tại Thụy Sĩ.

Đến năm 1933, LeCoultre mới trang bị cho Reverso bộ máy 410/411 của riêng mình - lên dây cót thủ công, hình thùng rượu, kích thước 17,85 x 24,55mm và dày 3,35mm, được chế tạo với 17 chân kính và hoạt động ở tốc độ 18.000 dao động/giờ. Bộ máy Cal. 410 và 411 khác nhau ở cách hiển thị giây; Cal. 410 có kim giây phụ nhỏ, còn Cal. 411 có kim giây trung tâm. Ngoài ra, một bộ máy nhỏ hơn được thiết kế dành cho các mẫu đồng hồ nữ, đó là Cal. 404.

Reverso là một trong những mẫu đồng hồ mang tính biểu tượng nhất của ngành chế tác đồng hồ Thụy Sĩ, trải qua hơn 90 năm vẫn giữ được nét độc đáo với sự tự chủ trong việc thiết kế và sản xuất bộ máy của đồng hồ.

Được giới thiệu vào ngày 3/3/1969 bởi Jack Heuer, Monaco là chiếc đồng hồ chronograph tự động có vỏ vuông và khả năng chống nước đầu tiên trên thế giới.

TAG Heuer Monaco được trang bị bộ máy Calibre 11, đây là kết quả của sự hợp tác giữa Heuer, Breitling, Hamilton và Dubois-Dépraz nhằm tạo ra một trong những bộ máy chronograph tự động đầu tiên. Cái tên "Monaco" được Jack Heuer đặt để vinh danh giải đua xe Monaco Grand Prix.

Với đường kính 39mm, các góc cạnh sắc sảo, sự kết hợp giữa bề mặt chải xước và đánh bóng, cùng núm vặn bên trái cho thấy việc lên dây cót không còn quan trọng, chiếc Monaco khác biệt hoàn toàn so với bất kỳ chiếc đồng hồ nào khác tại Basel năm 1969. Những phiên bản đầu tiên, mẫu 1133B “Chronomatic”, có mặt số màu xanh lam ánh kim với kim chỉ giờ và phút bằng thép hình vuông và dòng chữ “Chronomatic” phía trên biểu tượng Heuer.

Trong số các cột mốc quan trọng, chúng ta có thể kể đến đồng hồ bấm giờ đầu tiên cho các phương tiện được tạo ra vào năm 1911 hoặc bằng sáng chế “Mikrograph“, đồng hồ bấm giờ đầu tiên trên thế giới với độ chính xác 1/100 giây vào năm 1916. Phải thừa nhận rằng, TAG Heuer Monaco có lẽ không trường tồn mãi mãi nhưng nó vẫn là một biểu tượng đồng hồ đích thực cho đến ngày nay.

Chiếc đồng hồ bấm giờ này đã làm nên lịch sử trên cổ tay của những tay đua nổi tiếng như Jo Siffert và Jochen Rindt. Heuer Monaco đã trở thành huyền thoại tuyệt đối cùng với Steve McQueen trong bộ phim Le Mans.

Có thể bạn quan tâm