Mỹ phẩm giả - Tiền mất, da hỏng

Những vụ án mỹ phẩm giả bị phát hiện và bắt giữ trong thời gian qua cho thấy những hành vi vi phạm không còn là hành vi gian lận nhỏ lẻ mà đã trở thành loại tội phạm kinh tế có tổ chức, lợi dụng công nghệ số và tâm lý tiêu dùng để thu lợi bất chính...

Mỹ phẩm giả bị thu giữ trong một vụ việc do cơ quan chức năng Quảng Trị triệt phá

Điều đó cho thấy thị trường mỹ phẩm đang tồn tại quá nhiều "vùng tối" khiến cơ quan chức năng khó kiểm soát, người tiêu dùng rất khó nhận biết.

NHỮNG KHO HÀNG GIẢ SAU LỚP VỎ "HÀNG XÁCH TAY"

Đầu năm 2026, Công an tỉnh Quảng Trị triệt phá một đường dây buôn bán mỹ phẩm giả hoạt động trên nền tảng Facebook và Shopee. Để triệt phá đường dây này, lực lượng chức năng phải mất gần một năm điều tra. Ban đầu lực lượng chức năng phát hiện các đối tượng nhập số lượng lớn mỹ phẩm giả từ nước ngoài, sau đó dán nhãn các thương hiệu nổi tiếng, gắn tem chống hàng giả rồi rao bán với danh nghĩa "hàng xách tay", "hàng nội địa".

Các đối tượng trong đường dây gồm Nguyễn Văn Chung (sinh năm 1993, trú tại tỉnh Ninh Bình); Phạm Thị Tuyết (sinh năm 1995) và Lê Hữu Minh (sinh năm 1993), cùng trú tại TP. Hà Nội.

Kết quả điều tra ban đầu xác định, Phạm Thị Tuyết là người trực tiếp nhập các loại mỹ phẩm giả do Trung Quốc sản xuất thông qua một đối tượng người nước ngoài sinh sống tại khu vực cửa khẩu Móng Cái. Sau đó, Tuyết sử dụng mạng xã hội để rao bán số mỹ phẩm giả với giá rẻ cho nhiều cá nhân trên phạm vi cả nước.

Nguyễn Văn Chung tiếp tục mua lại số hàng hóa này, tạo lập nhiều tài khoản trên sàn thương mại điện tử Shopee nhằm hợp thức hóa hoạt động kinh doanh và tiêu thụ mỹ phẩm giả đến tay người tiêu dùng. Lê Hữu Minh tham gia hỗ trợ lưu kho, vận chuyển và phân phối hàng hóa.

Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Quảng Trị đã thi hành lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở và kho hàng của các đối tượng tại Hà Nội và Ninh Bình, qua đó phát hiện, thu giữ hơn 25 tấn hóa mỹ phẩm các loại là hàng giả, hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ. Bước đầu xác định, đường dây này đã tiêu thụ khoảng 100.000 đơn hàng mỹ phẩm giả, thu lợi bất chính ước tính khoảng 6 tỷ đồng.

Điểm nhấn của vụ việc này là nhiều sản phẩm được đóng gói rất tinh vi, bao bì gần như giống hệt hàng chính hãng khiến ngay cả người kinh doanh cũng khó phân biệt nếu không kiểm tra kỹ nguồn gốc.

Trước đó, hồi giữa năm 2025, từ một cuộc kiểm tra đột xuất một cơ sở kinh doanh tại Nha Trang, cơ quan điều tra phát hiện dấu hiệu sản xuất và buôn bán mỹ phẩm giả.

Theo Công an tỉnh Khánh Hoà, thời điểm kiểm tra tại căn hộ của bà Hồ Thị Dung Thoa (31 tuổi) tại chung cư CT4 VCN Phước Hải lực lượng chức năng phát hiện gần 6.000 sản phẩm là mỹ phẩm dưỡng da của 14 nhãn hiệu khác nhau không giấy tờ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ. Bà Thoa sau đó thừa nhận đã tự mua nguyên liệu không rõ nguồn gốc xuất xứ tự pha trộn rồi dán nhãn bán cho khách hàng.

Bác sỹ Trần Vũ Anh Đào - Phó khoa thẩm mỹ da Bệnh viện Da liễu TP.HCM cho biết, các sản phẩm mỹ phẩm giả, nhái là mối nguy lớn đối với làn da và sức khỏe người tiêu dùng bởi chúng không được kiểm định thành phần, không đảm bảo vô khuẩn, không tuân thủ quy trình sản xuất đạt chuẩn.

Sau đó, kiểm tra kho hàng của bà Thoa, lực lượng chức năng còn phát hiện hàng ngàn tem chống hàng giả, gần 11.000 vỏ hộp mỹ phẩm các loại của nhiều nhãn hàng nổi tiếng. Chỉ trong một thời gian ngắn cơ sở này đã xuất bán hơn 26.000 sản phẩm ra thị trường, thu về gần 3 tỉ đồng.

Sau quá trình điều tra, đầu năm 2026 vụ án chính thức được khởi tố về hành vi "Sản xuất, buôn bán hàng giả là mỹ phẩm". Vụ việc cho thấy nhiều cơ sở nhỏ vẫn ngang nhiên tự pha chế, sang chiết và đưa sản phẩm ra thị trường mà không qua bất kỳ quy trình kiểm định nào.

Tháng 11/2025, Bộ Công an kiểm tra nhiều cơ sở thuộc hệ thống Thẩm mỹ viện Mailisa và thu giữ lượng lớn mỹ phẩm có dấu hiệu nhập lậu.

Kết quả điều tra xác định trong thời gian từ năm 2020 đến năm 2024, với mục đích nhập mỹ phẩm về Việt Nam bán kiếm lời thông qua chuỗi thẩm mỹ viện Mailisa, Phan Thị Mai cùng chồng là Hoàng Kim Khánh thỏa thuận mua mỹ phẩm sản xuất tại Quảng Châu (Trung Quốc) với giá rẻ, không đảm bảo chất lượng và thành phần theo công bố, không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận lưu hành tự do (CFS) tại Trung Quốc. Sau đó câu kết với các đối tượng người Trung Quốc, ký kết hợp đồng ngụy tạo, thay đổi nguồn gốc mỹ phẩm (từ Quảng Châu, Trung Quốc thành Hong Kong) để được cấp CFS tại Hong Kong.

Nhóm của Mai tổ chức nhập lậu về Việt Nam và quảng cáo là mỹ phẩm được sản xuất tại Hong Kong thu hút thị hiếu, sự tin tưởng của khách hàng trong nước, bán với giá cao gấp nhiều lần, thu lời bất chính hàng nghìn tỉ đồng.

Sau đó, C03 đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam bà Phan Thị Mai - Giám đốc Công ty TNHH Thẩm mỹ viện Mailisa, cùng chồng là ông Hoàng Kim Khánh - Tổng giám đốc và 6 đồng phạm về tội "Buôn lậu" xảy ra tại Công ty MK Skincare và các đơn vị liên quan.

Dù đây là vụ án về buôn lậu, không phải kết luận sản xuất mỹ phẩm giả, nhưng qua vụ việc này cho thấy mặt hàng mỹ phẩm vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro về nguồn gốc và tính hợp pháp của sản phẩm lưu hành.

THỊ TRƯỜNG HỖN LOẠN, NGƯỜI TIÊU DÙNG TRỞ THÀNH "CON MỒI"

Hiện nay, không khó để tìm mua một lọ serum được giới thiệu là "hàng nội địa Nhật", một hộp kem dưỡng "hàng xách tay Hàn Quốc" hay một chai kem chống nắng của một thương hiệu nổi tiếng trên thế giới với giá chỉ bằng một phần ba hàng chính hãng.

Trước tình trạng mỹ phẩm giả được buôn bán tràn lan, mới đây một lãnh đạo của Chi cục Quản lý thị trường TP. Hà Nội khuyến cáo người tiêu dùng cần lựa chọn sản phẩm tại các cơ sở kinh doanh uy tín, có hóa đơn, chứng từ và thông tin nguồn gốc rõ ràng, đồng thời nâng cao cảnh giác đối với các sản phẩm mỹ phẩm giá rẻ bất thường hoặc quảng cáo quá mức trên mạng xã hội.

Chỉ sau vài cú nhấp chuột trên mạng xã hội hoặc sàn thương mại điện tử, hàng nghìn sản phẩm xuất hiện trước mắt với đủ những lời quảng cáo hấp dẫn. Đằng sau sự sôi động ấy là một thị trường mỹ phẩm đang bộc lộ nhiều dấu hiệu hỗn loạn, nơi ranh giới giữa hàng thật và hàng giả là rất mong manh.

Một trong những nguyên nhân chính khiến thị trường mỹ phẩm trở nên hỗn loạn là nguồn cung quá phức tạp. Bên cạnh hàng nhập khẩu chính ngạch còn có hàng xách tay, hàng miễn thuế, hàng nhập lậu, hàng OEM, hàng gia công, hàng sang chiết và cả hàng giả. Nhiều sản phẩm được quảng cáo là nội địa Hàn Quốc, nội địa Nhật Bản nhưng không có bất kỳ giấy tờ nào chứng minh nguồn gốc ngoài chính những dòng chữ Nhật, chữ Hàn trên vỏ hộp hay tờ hướng dẫn sử dụng mà bất cứ cơ sở in ấn nào cũng có thể in được.

Thực tế, nhiều đối tượng nhập mỹ phẩm giá rẻ hoặc nguyên liệu từ nước ngoài, sau đó thay bao bì, dán nhãn các thương hiệu nổi tiếng, in tem chống giả và đưa ra thị trường tiêu thụ khiến người tiêu dùng gần như không thể phân biệt bằng mắt thường.

Đáng lo ngại hơn, không ít cơ sở còn tự pha chế kem dưỡng, serum, kem trị nám từ nguyên liệu trôi nổi rồi quảng cáo là "công thức độc quyền", "chiết xuất từ thiên nhiên", "sản phẩm được bác sĩ khuyên dùng". Nhưng thực tế, những sản phẩm này hoàn toàn không trải qua quy trình kiểm nghiệm về chất lượng hay độ an toàn nào cả.

Nếu trước đây mỹ phẩm giả chủ yếu được tiêu thụ tại các chợ đầu mối hoặc hệ thống cửa hàng nhỏ thì hiện nay môi trường số đã trở thành kênh phân phối lớn nhất. Việc mở một gian hàng trực tuyến quá dễ dàng, trong khi người bán có thể sử dụng thông tin không chính xác hoặc liên tục thay đổi tài khoản. Khi bị phản ánh, họ chỉ cần đóng gian hàng cũ và mở gian hàng mới là xoá hết các thông tin.

Các buổi livestream với hàng nghìn đơn hàng mỗi phiên, chương trình "flash sale", "tri ân khách hàng", "giảm giá sốc", "mua một tặng ba" khiến người tiêu dùng bị cuốn vào tâm lý mua nhanh, mua rẻ mà ít kiểm chứng thông tin.

Trong khi đó, cơ chế kiểm duyệt của nhiều nền tảng vẫn chủ yếu dựa trên phản ánh sau khi sản phẩm đã được bán ra, khiến hàng giả có cơ hội tiếp cận hàng triệu khách hàng trước khi bị phát hiện.

Một nguyên nhân khác khiến thị trường mỹ phẩm trở nên hỗn loạn là sự chồng chéo trong quản lý. Hiện nay, mặt hàng mỹ phẩm liên quan đến nhiều cơ quan như y tế, hải quan, quản lý thị trường, công an và chính quyền địa phương. Tuy nhiên, việc chia sẻ dữ liệu, phối hợp kiểm tra và giám sát môi trường số chưa theo kịp tốc độ phát triển của thị trường.

Và chúng ta không thể phủ nhận rằng, chính tâm lý chuộng hàng hiệu giá rẻ của người tiêu dùng đang tiếp tay cho mỹ phẩm giả. Nhiều người tiêu dùng tin rằng có thể mua một chai serum trị giá hơn một triệu đồng với giá chỉ vài trăm nghìn đồng vì là "hàng xách tay". Thay vì kiểm tra giấy công bố sản phẩm, đơn vị nhập khẩu hay hóa đơn, họ lại đặt niềm tin vào lượt theo dõi, bình luận hoặc những lời cam kết của người bán.

Trong khi đó những yếu tố này đều có thể được các chủ gian hàng mua từ các đơn vị cung cấp dịch vụ kiểu Phone farm (một hệ thống gồm từ vài chục đến hàng nghìn thiết bị di động (thường là Android) được kết nối chung với máy tính và phần mềm điều khiển trung tâm. Mô hình này dùng để tự động hóa các tác vụ như nuôi tài khoản ảo, tăng tương tác mạng xã hội, cày view hoặc chạy ứng dụng kiếm tiền). Điều này tạo ra một vòng luẩn quẩn là nhu cầu về hàng giá rẻ càng lớn thì nguồn cung mỹ phẩm giả càng phát triển.

CÁI GIÁ ĐẮT CỦA NHỮNG LỌ KEM "SIÊU RẺ"

Đằng sau một lọ kem dưỡng được bán với giá vài chục nghìn đồng, một chai serum gắn mác "hàng xách tay" hay một hộp kem chống nắng được livestream là "chính hãng 100%" không chỉ là hành vi gian lận thương mại. Đó còn là mối đe dọa đối với sức khỏe cộng đồng, là nguyên nhân gây thiệt hại kinh tế cho người tiêu dùng, làm méo mó môi trường cạnh tranh và bào mòn niềm tin vào thị trường. Những chuyên án lớn liên tiếp bị triệt phá trong thời gian qua chỉ phản ánh phần nổi của "tảng băng chìm" mang tên mỹ phẩm giả.

Khác với quần áo, giày dép hay các mặt hàng tiêu dùng thông thường, mỹ phẩm là sản phẩm được sử dụng trực tiếp trên da, tóc, môi, mắt – những bộ phận rất nhạy cảm của cơ thể. Vì vậy, chỉ cần một thành phần không bảo đảm chất lượng cũng có thể gây hậu quả nghiêm trọng.

Báo cáo của Euromonitor cho thấy thị trường mỹ phẩm đại chúng (Mass Beauty & Personal Care) tại Việt Nam tiếp tục mở rộng, trong đó hai doanh nghiệp lớn là Unilever Việt Nam và L'Oréal Việt Nam chỉ chiếm khoảng 33% thị phần. Điều này phản ánh thị trường còn rất phân mảnh với hàng nghìn thương hiệu và nhà phân phối khác nhau, tạo điều kiện cho hàng giả, hàng nhái và hàng không rõ nguồn gốc len lỏi vào hệ thống phân phối.

Theo các bác sĩ chuyên khoa da liễu, nhiều loại mỹ phẩm giả bị phát hiện chứa hàm lượng kim loại nặng vượt ngưỡng cho phép như chì, thủy ngân hoặc các chất cấm như corticoid. Ban đầu, các chất này có thể tạo cảm giác da trắng nhanh, giảm mụn tức thì hoặc làm mờ nám chỉ sau vài ngày sử dụng. Tuy nhiên, đó chỉ là hiệu ứng giả tạo.

Sau một thời gian, người tiêu dùng có thể phải đối mặt với tình trạng da mỏng, nổi mạch máu, viêm da tiếp xúc, dị ứng kéo dài, nhiễm trùng, tăng sắc tố hoặc mất sắc tố da. Nhiều trường hợp phải điều trị hàng tháng, thậm chí hàng năm để phục hồi làn da nhưng không thể trở lại trạng thái ban đầu.

Đáng lo ngại hơn, một số thành phần độc hại có thể thẩm thấu qua da và tích tụ trong cơ thể nếu sử dụng trong thời gian dài, làm tăng nguy cơ ảnh hưởng đến gan, thận và hệ nội tiết. Đây là những rủi ro không thể nhận biết ngay bằng mắt thường nhưng để lại hậu quả lâu dài.

Nhiều người mua mỹ phẩm giả với mong muốn tiết kiệm chi phí. Thế nhưng, số tiền "tiết kiệm" ban đầu thường nhỏ hơn rất nhiều so với khoản chi phí phải bỏ ra để khắc phục hậu quả.

Một lọ kem dưỡng giá vài trăm nghìn đồng có thể khiến người tiêu dùng phải chi hàng chục triệu đồng cho việc khám, điều trị da liễu, mua thuốc hoặc thực hiện các liệu trình phục hồi da.

Không ít trường hợp còn mất thêm thời gian nghỉ việc, ảnh hưởng đến thu nhập và chất lượng cuộc sống. Đối với những người làm các ngành nghề cần giao tiếp hoặc hoạt động trong lĩnh vực làm đẹp, ngoại hình bị tổn thương còn ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hội nghề nghiệp.

Đáng nói, khi mua mỹ phẩm giả qua mạng xã hội hoặc livestream, người tiêu dùng gần như không có cơ hội đòi bồi thường. Người bán thường sử dụng tài khoản ảo, địa chỉ không rõ ràng hoặc nhanh chóng xóa gian hàng sau khi xảy ra khiếu nại. Điều đó khiến toàn bộ rủi ro cuối cùng đều đổ lên vai người mua.

Không chỉ người tiêu dùng, các doanh nghiệp làm ăn chân chính cũng là nạn nhân. Để đưa một sản phẩm mỹ phẩm ra thị trường, doanh nghiệp phải đầu tư nghiên cứu, kiểm nghiệm, công bố sản phẩm, xây dựng nhà máy đạt tiêu chuẩn, thực hiện các nghĩa vụ về thuế và bảo đảm chất lượng.

Trong khi đó, các cơ sở sản xuất hàng giả chỉ cần mua nguyên liệu giá rẻ, sang chiết, in bao bì và gắn nhãn của các thương hiệu nổi tiếng là có thể thu lợi nhuận rất lớn.

Sự chênh lệch về chi phí khiến hàng giả có mức giá thấp hơn nhiều, tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh. Nhiều doanh nghiệp uy tín mất khách hàng, doanh thu sụt giảm và phải bỏ thêm chi phí để chống hàng giả, xác minh sản phẩm và bảo vệ thương hiệu.

Đặc biệt, uy tín của các nhãn hàng cũng bị ảnh hưởng khi người tiêu dùng sử dụng phải mỹ phẩm giả nhưng lại cho rằng đó là lỗi của thương hiệu thật.

Ở góc độ vĩ mô, mỹ phẩm giả gây ra những thiệt hại không nhỏ cho nền kinh tế. Các đối tượng sản xuất và buôn bán mỹ phẩm giả thường không kê khai thuế, không thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước và hoạt động ngoài sự kiểm soát của cơ quan chức năng. Điều này làm thất thu ngân sách, đồng thời tạo ra một khu vực kinh doanh "ngầm" ngày càng mở rộng.

Bên cạnh đó, Nhà nước phải bỏ ra nguồn lực rất lớn để điều tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm và tiêu hủy hàng giả. Mỗi chuyên án lớn đều huy động nhiều lực lượng từ công an, quản lý thị trường, hải quan đến ngành y tế.

Chi phí cho công tác chống hàng giả ngày càng tăng trong khi các đối tượng liên tục thay đổi phương thức hoạt động, chuyển sang kinh doanh trên môi trường số hoặc lợi dụng dịch vụ chuyển phát nhanh để che giấu dấu vết.


Một trong những hệ lụy nghiêm trọng nhất nhưng khó đo đếm là sự suy giảm niềm tin của người tiêu dùng. Khi mỹ phẩm giả xuất hiện tràn lan, người mua bắt đầu nghi ngờ cả những sản phẩm chính hãng. Họ e ngại khi mua sắm trực tuyến, mất niềm tin vào các chương trình khuyến mại và cả các thương hiệu lớn nếu không thể phân biệt thật – giả.

Niềm tin bị suy giảm không chỉ ảnh hưởng đến ngành mỹ phẩm mà còn tác động tiêu cực đến sự phát triển của thương mại điện tử và thị trường bán lẻ nói chung.

Những vụ án mỹ phẩm giả bị phát hiện trong thời gian qua cho thấy đây không còn là hành vi gian lận nhỏ lẻ mà đã trở thành loại tội phạm kinh tế có tổ chức, lợi dụng công nghệ số và tâm lý tiêu dùng để thu lợi bất chính. Hệ lụy của mỹ phẩm giả không chỉ dừng lại ở những làn da bị tổn thương hay số tiền người tiêu dùng mất đi. Nó còn làm thất thu ngân sách, gia tăng chi phí thực thi pháp luật, bóp méo môi trường cạnh tranh, ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp chân chính và làm suy giảm niềm tin vào thị trường.

Do đó, muốn giải quyết tận gốc vấn nạn này, cần sự vào cuộc đồng bộ của cơ quan quản lý, lực lượng thực thi pháp luật, doanh nghiệp, các nền tảng thương mại điện tử và chính người tiêu dùng. Chỉ khi mọi mắt xích trong chuỗi quản lý và tiêu dùng cùng được siết chặt, thị trường mỹ phẩm mới có thể phát triển minh bạch, an toàn và bền vững.

Thị trường mỹ phẩm Việt Nam đang được đánh giá là một trong những thị trường tăng trưởng nhanh nhất khu vực Đông Nam Á nhờ thu nhập người dân tăng, xu hướng làm đẹp phổ biến và sự bùng nổ của thương mại điện tử. Theo Statista Market Insights, riêng phân khúc chăm sóc da (skin care) tại Việt Nam năm 2026 dự kiến đạt doanh thu khoảng 874,5 triệu USD và tiếp tục tăng trưởng bình quân gần 3%/năm trong giai đoạn 2026–2031. Đây mới chỉ là một phân khúc trong toàn bộ ngành mỹ phẩm, cho thấy quy mô thị trường làm đẹp tại Việt Nam đã lên tới hàng tỷ USD nếu tính cả mỹ phẩm trang điểm, chăm sóc tóc, nước hoa và các sản phẩm chăm sóc cá nhân khác.

Có thể bạn quan tâm