Giá nông sản hôm nay (3/8): Giá heo hơi chưa thoát khỏi xu hướng giảm, cà phê tăng nhẹ

Bản tin cập nhật những thông tin đáng chú ý trên thị trường nông sản; giá cả các mặt hàng chủ lực như thịt lợn, lúa gạo, cà phê, hồ tiêu…

0:00 / 0:00
0:00
Giá nông sản hôm nay (3/8): Giá heo hơi chưa thoát khỏi xu hướng giảm, cà phê tăng nhẹ

Ngày 3/8, giá các mặt hàng nông sản chủ lực có xu hướng biến động không đáng kể tại thị trường trong nước.

GIÁ GẠO ỔN ĐỊNH

Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 hôm nay dao động ở mức 9.700 - 9.800 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động ở mức 9.800 - 9.900 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 5451 dao động ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.

20250818065206-101lg.jpg
Giá lúa gạo hôm nay tại Đồng bằng sông Cửu Long ổn định

Với phụ phẩm, giá các mặt hàng phụ phẩm dao động khoảng từ 7.850 - 8.700 đồng/kg. Hiện tấm thơm dao động ở mức 8.550 - 8.700 đồng/kg; giá cám dao động ở mức 7.850 - 8.000 đồng/kg.

Tại các chợ lẻ giá gạo bình giá. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 13.000 - 20.500 đồng/kg; gạo Đài thơm dao động 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; giá gạo thường dao động ở mốc 12.000 - 15.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg; gạo OM 18 dao động ở mốc 14.000 - 18.500 đồng/kg.

Phân khúc nếp vững giá. Cụ thể, nếp IR 4625 (khô) duy trì ở mức 9.500 - 9.700 đồng/kg; giá nếp IR 4625 tươi hiện ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg; nếp 3 tháng khô ở mức 9.600 - 9.700 đồng/kg.

Với mặt hàng lúa, giá lúa tươi IR 50404 hôm nay dao động ở mức 5.400 - 6.500 đồng/kg; lúa tươi Đài Thơm 8 dao động ở mốc 6.000 - 7.100 đồng/kg; lúa OM 5451 (tươi) dao động mốc 5.400 - 6.900 đồng/kg; lúa tươi OM 18 dao động ở mốc 6.200 - 7.100 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 6.000 - 6.100 đồng/kg.

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu Việt Nam đi ngang so với hôm qua. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm dao động trong khoảng 455 - 459 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm dao động từ 359 - 363 USD/tấn; gạo Jasmine được chào bán ở mức 546 - 550 USD/tấn.

Trên thị trường thế giới, giá gạo 5% tấm tại Thái Lan dao động 455 - 459 USD/tấn, gạo 100% tấm dao động từ 382 - 386 USD/tấn.

Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm dao động ở mức 363 - 367 USD/tấn, còn gạo 100% tấm dao động 290 - 294 USD/tấn.

GIÁ CÀ PHÊ TĂNG NHẸ

Khảo sát tại các tỉnh Tây Nguyên cho thấy, giá cà phê nhân xô trong nước kết thúc tuần giao dịch ở mức 96.200 - 97.000 đồng/kg, tăng 900 - 1.000 đồng/kg so với cuối tuần trước.

Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) tiếp tục là địa phương có mức tăng mạnh nhất khi tăng 1.000 đồng/kg, lên 97.000 đồng/kg, đồng thời giữ vị trí có giá thu mua cao nhất cả nước.

Tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cà phê cùng tăng 900 đồng/kg, hiện được các đại lý thu mua ở mức 96.700 đồng/kg. Trong khi đó, Lâm Đồng cũng tăng 900 đồng/kg, lên 96.200 đồng/kg, thấp nhất trong nhóm các vùng nguyên liệu trọng điểm.

Như vậy, sau một tuần giao dịch, mặt bằng giá cà phê nội địa đã lấy lại đà tăng sau những phiên điều chỉnh mạnh trước đó, bám sát diễn biến tích cực của thị trường thế giới.

Trên thị trường quốc tế, giá cà phê biến chuyển khởi sắc trên cả hai sàn giao dịch lớn. Cụ thể, trên sàn London, giá cà phê Robusta hợp đồng giao tháng 9/2026 đóng cửa ở mức 3.782 USD/tấn, tăng 25 USD/tấn (0,8%) so với tuần trước. Hợp đồng giao tháng 11/2026 tăng 37 USD/tấn (1%), lên 3.775 USD/tấn.

Trên sàn New York, giá cà phê Arabica tăng mạnh hơn đáng kể. Hợp đồng giao tháng 9/2026 tăng 18,3 US cent/pound (5,8%), đạt 332,1 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 12/2026 tăng 16,6 US cent/pound (5,6%), lên 314,65 US cent/pound.

GIÁ HỒ TIÊU GIẢM

Khảo sát sáng 3/8 cho thấy, thị trường hồ tiêu trong nước điều chỉnh giảm 1.000 đồng/kg so với phiên giao dịch trước, sau nhiều ngày duy trì ở vùng giá cao. Hiện giá thu mua tại các vùng nguyên liệu trọng điểm dao động trong khoảng 138.000 - 141.000 đồng/kg.

Cụ thể, Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) tiếp tục là địa phương có giá thu mua cao nhất cả nước với 141.000 đồng/kg. Đắk Lắk đứng ngay sau với mức 140.000 đồng/kg.

25-3-ho-tieu-duoc-gia-nong-dan-van-chua-vui-5-17175601969981915774124.jpg
Giá tiêu hôm nay giảm nhẹ

Trong khi đó, Gia Lai, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh) cùng được các thương lái thu mua ở mức 138.000 đồng/kg.

Mặc dù giảm nhưng nhìn chung thị trường vẫn duy trì mặt bằng giá khá cao so với nhiều tháng trước.

Tính chung cả tuần, giá tiêu tại Gia Lai và Đồng Nai vẫn tăng 500 đồng/kg so với cuối tuần trước. Đắk Lắk và Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh) giữ ổn định, trong khi Đắk Nông (TP. Hồ Chí Minh) tiếp tục duy trì vị trí dẫn đầu về giá thu mua.

Theo cập nhật từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, thị trường hồ tiêu thế giới tuần qua nhìn chung khá ổn định, chỉ ghi nhận biến động tại một số mặt hàng của Indonesia và Việt Nam.

Đối với tiêu đen, giá xuất khẩu của Indonesia giảm 63 USD/tấn so với tuần trước, xuống còn 6.760 USD/tấn. Trong khi đó, giá tiêu đen tại các quốc gia xuất khẩu lớn khác hầu như không thay đổi.

Brazil tiếp tục chào bán tiêu đen ASTA 570 ở mức 5.700 USD/tấn, thấp nhất trong nhóm các nước xuất khẩu chủ chốt. Malaysia duy trì mức 9.300 USD/tấn, cao nhất thị trường.

Đối với Việt Nam, giá chào bán tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l và 550 g/l tiếp tục giữ ổn định trong khoảng 5.970 - 6.050 USD/tấn.

Ở phân khúc tiêu trắng, thị trường ghi nhận diễn biến trái chiều. Giá tiêu trắng Muntok của Indonesia giảm 87 USD/tấn, xuống còn 9.317 USD/tấn.

Ngược lại, giá tiêu trắng xuất khẩu của Việt Nam tăng thêm 100 USD/tấn, đạt 8.350 USD/tấn, phản ánh nhu cầu đối với dòng sản phẩm chế biến vẫn khá tích cực.

Trong khi đó, Malaysia tiếp tục giữ nguyên giá tiêu trắng ở mức 12.200 USD/tấn trong suốt tuần qua.

GIÁ CAO SU ỔN ĐỊNH

Giá cao su tại các doanh nghiệp trong nước tiếp tục duy trì ổn định. Cụ thể, tại Công ty Bình Long, giá cao su thu mua tại Nhà máy ở mức 540 đồng/độ TSC/kg; thu mua tại đội sản xuất 530 đồng/TSC/kg; giá mủ tạp (DRC 60%) 18.000 đồng/kg.

Công ty Cao su Bà Rịa thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 14.600 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.

Công ty Phú Riềng, chào giá thu mua mủ tạp ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.

cao-su-1776813587.jpg
Giá cao su tại các doanh nghiệp lớn tại thị trường trong nước bình ổn

Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước ghi nhận khoảng 458 - 463 đồng/TSC (loại 2 - loại 1), mủ đông tạp khoảng 404 - 459 đồng/DRC (loại 2 - loại 1).

Kết thúc phiên giao dịch, giá cao su RSS3 trên sàn TOCOM (Tokyo) - Nhật Bản trái chiều tại các kỳ hạn. Cụ thể, hợp đồng giao tháng 8/2026 tăng 0.10 Yên/kg (+ 0,02%), lên mức 426.40 Yên/kg; hợp đồng tháng 9/2026 giảm 0.10 Yên/kg (+ 0,02%), về mức 423.60 Yên/kg.

Tương tự, trên sàn Giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải (SHFE) - Trung Quốc, giá cao su tự nhiên cũng tăng giảm đan xen tại các kỳ hạn. Cụ thể, hợp đồng giao tháng 8/2026 tăng 90 Nhân dân tệ/tấn (+ 0,55%), lên mức 16.435 NDT/tấn; hợp đồng tháng 9/2026 giảm 20 Nhân dân tệ/tấn (- 0,12%), xuống mức 16.440 NDT/tấn.

Tại Thái Lan, giá cao su RSS3 giao tháng 8 tiếp tục ổn định ở mức 89 baht/kg.

Trên Sàn Giao dịch SGX - Singapore, hợp đồng cao su kỳ hạn tháng 10 giao dịch gần nhất tăng 0,6%, lên 212 US cent/kg.

Diễn biến tuần qua cho thấy đợt điều chỉnh ngắn hạn nhiều khả năng đã chậm lại sau khi TOCOM và SGX phục hồi mạnh trong hai phiên cuối tuần. Tuy nhiên, để hình thành một chu kỳ tăng mới, thị trường vẫn cần thêm các tín hiệu tích cực từ nhu cầu tiêu thụ tại Trung Quốc và ngành sản xuất lốp xe toàn cầu.

Theo Hiệp hội các quốc gia sản xuất cao su thiên nhiên, sản lượng cao su tự nhiên của các nước Đông Nam Á sẽ bước vào giai đoạn tăng theo mùa trong quý III. Nguồn cung dồi dào có thể hạn chế tốc độ tăng giá nếu nhu cầu không cải thiện tương ứng. Trong khi đó, các tổ chức như S&P Global Commodity Insights và LSEG cho rằng, triển vọng tiêu thụ sẽ phụ thuộc nhiều vào tốc độ phục hồi của ngành ô tô tại Trung Quốc, Mỹ và châu Âu.

GIÁ THỊT LỢN TIẾP TỤC GIẢM

Tại miền Bắc, giá lợn hơi tiếp tục đi xuống trong tuần qua, với mức giảm phổ biến từ 1.000 - 2.000 đồng/kg so với cuối tuần trước.

Hà Nội và Hưng Yên là hai địa phương duy trì mức giá cao nhất khu vực, cùng đạt 64.000 đồng/kg.

Nhóm các tỉnh Tuyên Quang, Cao Bằng, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hải Phòng, Điện Biên, Phú Thọ, Sơn La và Lai Châu hiện cùng giao dịch ở mức 63.000 đồng/kg, sau khi giảm từ 1.000 - 2.000 đồng/kg trong tuần.

Trong khi đó, Lào Cai và Ninh Bình tiếp tục là hai địa phương có giá thấp nhất miền Bắc khi cùng lùi về 62.000 đồng/kg.

thit-heo-3.jpg
Giá lợn hơi hôm nay tiếp tục giảm tại nhiều địa phương trên cả nước

Hiện giá thu mua lợn hơi tại miền Bắc dao động trong khoảng 62.000 - 64.000 đồng/kg. So với những tuần trước, mức giá 65.000 đồng/kg đã không còn xuất hiện tại khu vực này, cho thấy xu hướng điều chỉnh giảm vẫn đang chiếm ưu thế.

Tại Miền Trung - Tây Nguyên, giá lợn hơi tuần qua chứng kiến nhiều đợt điều chỉnh giảm, đưa mặt bằng giá về dao động trong khoảng 60.000 - 62.000 đồng/kg.

Cụ thể, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị và Gia Lai cùng giảm 1.000 đồng/kg, từ 63.000 đồng/kg xuống còn 62.000 đồng/kg. Khánh Hòa cũng giảm 1.000 đồng/kg, hiện được giao dịch ở mức 61.000 đồng/kg.

Trong khi đó, Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi và Lâm Đồng đồng loạt giảm 2.000 đồng/kg, xuống còn 61.000 đồng/kg.

Đáng chú ý nhất là Đắk Lắk, nơi giảm mạnh nhất khu vực khi mất tới 3.000 đồng/kg, từ 63.000 đồng/kg xuống còn 60.000 đồng/kg, trở thành một trong những địa phương có giá lợn hơi thấp nhất cả nước.

Diễn biến này cho thấy khu vực miền Trung - Tây Nguyên tiếp tục chịu áp lực lớn về nguồn cung cũng như sức tiêu thụ trong những ngày gần đây.

Tại miền Nam, giá lợn hơi cũng giảm khá mạnh trong tuần qua. Nếu như cuối tuần trước mặt bằng giá phổ biến ở mức 62.000 - 63.000 đồng/kg, thì đến nay đã lùi xuống còn 60.000 - 62.000 đồng/kg.

Hiện Đồng Nai và TP Hồ Chí Minh vẫn là hai địa phương có mức giá cao nhất khu vực, cùng đạt 62.000 đồng/kg.

Các tỉnh Tây Ninh, Vĩnh Long và Cần Thơ tiếp tục giao dịch ở mức 61.000 đồng/kg. Trong khi đó, Đồng Tháp, An Giang và Cà Mau cùng duy trì mức 60.000 đồng/kg, thấp nhất khu vực cũng như thấp nhất trên cả nước.

Nhìn chung, xu hướng giảm vẫn chiếm ưu thế trên thị trường lợn hơi trong tuần qua khi cả 3 miền đều ghi nhận nhiều địa phương điều chỉnh giảm giá. Theo khảo sát mới nhất, giá lợn hơi trên toàn quốc hiện dao động trong khoảng 60.000 - 64.000 đồng/kg.

Theo khảo sát từ trang winmart.vn giá thịt lợn ghi nhận giữ giá ổn định, niêm yết trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg. Cụ thể, thịt lợn xay là sản phẩm có giá bán thấp nhất, duy trì mức 102.322 đồng/kg. Tiếp đó là các sản phẩm thịt nạc đùi, nạc vai lợn và chân giò rút xương, với giá bán lần lượt là 122.320 đồng/kg, 126.320 đồng/kg và 127.922 đồng/kg.

Như vậy, giá thịt lợn tại WinMart hiện dao động trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg và được giảm giá 20% theo chương trình ưu đãi dành cho hội viên của WinMart.

Xem thêm

Có thể bạn quan tâm

Hà Nội phê duyệt đề án liên thông dữ liệu phục vụ logistics - xuất nhập khẩu

Hà Nội phê duyệt đề án liên thông dữ liệu phục vụ logistics - xuất nhập khẩu

Đề án trên vừa được UBND thành phố Hà Nội ký quyết định phê duyệt. Mục tiêu tổng quát của đề án là nhằm đề xuất cơ chế phối hợp liên thông dữ liệu phục vụ logistics trong xuất nhập khẩu giữa cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp nhằm mục đích tối ưu hóa chi phí logistics - xuất nhập khẩu...