Giá nông sản hôm nay (4/5): Giá cà phê quay đầu giảm, hồ tiêu tăng mạnh

Bản tin cập nhật những thông tin đáng chú ý trên thị trường nông sản; giá cả các mặt hàng chủ lực như thịt lợn, lúa gạo, cà phê, hồ tiêu…

Ngày 4/5, giá các mặt hàng nông sản chủ lực có xu hướng biến động không đáng kể tại thị trường trong nước.

GIÁ GẠO

Giá gạo hôm nay tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ít biến động, trong khi đó, một số loại gạo nguyên liệu xuất khẩu tăng nhẹ. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 tăng 100 đồng/kg dao động ở mức 8.100 - 8.200 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 tăng 50 đồng/kg dao động ở mức 8.150 - 8.250 đồng/kg…

Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 hôm nay tăng 100 đồng/kg dao động ở mức 8.100 - 8.200 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 tăng 50 đồng/kg dao động ở mức 8.150 - 8.250 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 8.000 - 8.050 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.700 - 8.900 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 5451 ở mức 8.650 - 8.750 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo thành phẩm IR 504 tăng 300 đồng/kg dao động ở 10.750 - 10.090 đồng/kg.

Tại các chợ lẻ, giá gạo đi ngang. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 14.000 - 15.000 đồng/kg, gạo thường dao động ở mốc 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.

Tương tự với mặt hàng lúa, giá lúa tươi OM 18 hôm nay dao động ở mốc 6.000 - 6.200; lúa Đài Thơm 8 (tươi) dao động ở mốc 6.000 - 6.100; lúa OM 5451 (tươi) dao động mốc 5.800 - 5.900 đồng/kg; lúa IR 50404 (tươi) dao động ở mức 5.500 - 5.600 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.100 - 5.200 đồng/kg

Tại các địa phương hôm nay, giao dịch khởi sắc, giá ít biến động. Tại An Giang, Cần Thơ, nguồn lúa Đông Xuân thu hoạch rộ, nguồn nhiều, giá chững, thương lái chốt mua mới ít. Tại Tây Ninh, nguồn chưa thu hoạch còn lượng khá, nông dân chào giá cao hơn. Tại Cà Mau, Đồng Tháp, Tây Ninh, Vĩnh Long, giao dịch mua bán ít, giá ít biến động.

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu Việt Nam hiện duy trì ở nhiều mức khác nhau. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm đang được chào bán trong khoảng 490 - 500 USD/tấn; gạo 100% tấm dao động từ 334 - 338 USD/tấn; gạo Jasmine dao động ở mức 465 - 469 USD/tấn.

Trên thị trường thế giới, giá gạo tăng nhẹ. Cụ thể, tại Thái Lan, gạo 5% tấm dao động 386 - 390 USD/tấn, tăng 4 USD/tấn; gạo 100% tấm đạt 364 - 368 USD/tấn, tăng 5 USD/tấn.

Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm ở mức 342 - 346 USD/tấn, tăng 2 USD/tấn; gạo 100% tấm chào bán 283 - 287 USD/tấn.

GIÁ CÀ PHÊ

Thị trường cà phê trong nước khép lại tuần giao dịch đầu tháng 5 với xu hướng giảm rõ rệt. Theo khảo sát tại khu vực Tây Nguyên, giá cà phê hiện dao động trong khoảng 86.000 - 86.600 đồng/kg, giảm từ 1.400 - 1.500 đồng/kg so với tuần trước.

Cụ thể, Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) giảm 1.400 đồng/kg, đưa giá thu mua xuống còn 86.600 đồng/kg, cao nhất trong khu vực nhưng đã mất mốc 87.000 đồng/kg. Tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cà phê cùng giảm 1.500 đồng/kg, hiện ở mức 86.500 đồng/kg.

Trong khi đó, Lâm Đồng tiếp tục là địa phương có giá thấp nhất, giảm 1.500 đồng/kg, xuống còn 86.000 đồng/kg.

Việc giá cà phê trong nước giảm sâu cho thấy tác động trực tiếp từ thị trường quốc tế, đặc biệt là kỳ vọng nguồn cung gia tăng trong thời gian tới.

Trên thị trường quốc tế, giá cà phê trong tuần qua đồng loạt giảm mạnh trên cả hai sàn giao dịch lớn. Cụ thể, trên sàn London, giá cà phê Robusta hợp đồng giao tháng 7/2026 ở mức 3.364 USD/tấn, giảm 3,4% (tương đương 119 USD/tấn) so với tuần trước. Hợp đồng giao tháng 9/2026 cũng giảm 3,8%, xuống còn 3.275 USD/tấn.

Trên sàn New York, giá cà phê Arabica giao tháng 7/2026 giảm 2,9% (8,5 US cent/pound), còn 286,4 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 9/2026 giảm 3,2%, xuống mức 275,9 US cent/pound.

GIÁ TIÊU

Thị trường hồ tiêu trong nước tuần qua ghi nhận diễn biến tích cực khi giá tăng khá mạnh tại hầu hết các vùng trồng trọng điểm. Theo khảo sát mới nhất, giá tiêu hiện dao động trong khoảng 140.500 - 144.000 đồng/kg, tăng từ 2.000 - 3.000 đồng/kg so với tuần trước.

Trong đó, Đắk Lắk và Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) tiếp tục là hai địa phương có mức giá cao nhất, đạt 144.000 đồng/kg. Đây là vùng sản xuất trọng điểm, thường đóng vai trò dẫn dắt xu hướng giá toàn thị trường.

Theo sau là Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. HCM) với mức 142.500 đồng/kg, Đồng Nai đạt 142.000 đồng/kg, trong khi Gia Lai ở mức 140.500 đồng/kg.

Theo nhận định của Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương), đà tăng của giá tiêu nội địa phản ánh nguồn cung đang dần thắt chặt sau vụ thu hoạch chính, trong khi nhu cầu từ các doanh nghiệp xuất khẩu vẫn duy trì ổn định. Diễn biến này giúp giá tiêu tiếp tục neo ở vùng cao, tạo điều kiện thuận lợi cho người trồng sau giai đoạn dài giá thấp trước đó.

Trên thị trường quốc tế, giá hồ tiêu tuần qua ghi nhận xu hướng phân hóa giữa các quốc gia sản xuất lớn.

Theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, giá tiêu đen Indonesia chốt tuần ở mức 6.966 USD/tấn, giảm 0,59% (tương đương 41 USD/tấn) so với tuần trước.

Ngược lại, tiêu đen Brazil loại ASTA 570 tăng 1,67% (100 USD/tấn), lên mức 6.100 USD/tấn cho thấy sự phục hồi nhất định của thị trường này.

Tại Malaysia, giá tiêu đen tiếp tục duy trì ổn định ở mức 9.300 USD/tấn. Trong khi đó, giá tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam đi ngang trong khoảng 6.100 - 6.200 USD/tấn đối với các loại 500 g/l và 550 g/l.

Ở phân khúc tiêu trắng, giá tiêu Muntok của Indonesia giảm nhẹ xuống 9.178 USD/tấn. Trong khi đó, giá tiêu trắng tại Việt Nam và Malaysia không thay đổi, lần lượt ở mức 9.000 USD/tấn và 12.200 USD/tấn.

GIÁ CAO SU

Ở thị trường trong nước, giá thu mua mủ cao su tại các doanh nghiệp lớn tiếp tục đi ngang. Cụ thể, tại Công ty Cao su Bà Rịa cũng báo giá thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 14.600 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.

Công ty Phú Riềng, chào giá thu mua mủ tạp bình ổn ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.

Công ty Bình Long, giá cao su thu mua bình ổn tại Nhà máy ở mức 432 đồng/độ TSC/kg; giá thu mua tại đội sản xuất 422 đồng/TSC/kg; giá mủ tạp bình ổn (DRC 60%) 14.000 đồng/kg.

Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước trong khoảng 458 - 463 đồng/TSC (loại 2 - loại 1), mủ đông tạp khoảng 404 - 459 đồng/DRC (loại 2 - loại 1).

Nhìn chung, thị trường cao su thế giới đang ở trạng thái giằng co với các tín hiệu tăng - giảm đan xen. Trong khi đó, thị trường trong nước vẫn ổn định do cung - cầu chưa có nhiều biến động. Trong ngắn hạn, giá cao su được dự báo sẽ tiếp tục dao động theo xu hướng của thị trường quốc tế và diễn biến của giá dầu cũng như tỷ giá tiền tệ.

Trên thị trường thế giới, kết thúc phiên giao dịch, giá cao su RSS3 trên sàn Tocom - Tokyo biến động trái chiều giữa các kỳ hạn. Cụ thể, hợp đồng tháng 6/2026 tăng 2,10 Yên/kg (+0,53%), lên 399,10 yên/kg. Ở chiều ngược lại, hợp đồng tháng 7/2026 lại giảm 0,30 Yên/kg (-0,06%), còn 399,80 Yên/kg.

Trên sàn SHFE (Thượng Hải), giá cao su cũng phân hóa giữa các kỳ hạn. Theo đó, hợp đồng tháng 6/2026 tăng 5 Nhân dân tệ/tấn (+0,03%), đạt 17.430 Nhân dân tệ/tấn. Trong khi đó, hợp đồng tháng 7/2026 điều chỉnh giảm nhẹ Nhân dân tệ/tấn (-0,02%), xuống 17.460 Nhân dân tệ/tấn.

Trên sàn SGX Singapore, hợp đồng cao su TSR20 kỳ hạn tháng 5 ở mức 217,20 Cent/kg, tăng 1,12%; kỳ hạn tháng 6/2026 ở mức 217,10 Cent/kg, tăng 1,21%.

Dù vậy, theo Reuters, xu hướng nền của thị trường vẫn nghiêng về phía tăng. Trên Osaka Exchange, giá cao su đã nối dài chuỗi tăng lên 6 phiên liên tiếp, lên 410,5 Yên/kg, có thời điểm chạm 414 Yên/kg. Tính chung trong tháng, mức tăng đạt khoảng 7,9%.

Đồng Yên suy yếu về 160,58 JPY/USD khiến hàng hóa định giá bằng yên trở nên hấp dẫn hơn với nhà đầu tư quốc tế. Song song, giá dầu Brent tăng mạnh khoảng 7% do lo ngại gián đoạn nguồn cung tại Trung Đông đã kéo chi phí sản xuất cao su tổng hợp đi lên, qua đó gián tiếp thúc đẩy nhu cầu đối với cao su tự nhiên.

Trong bối cảnh đó, thị trường cao su đang vận động trong thế “giằng co nhưng nghiêng tăng”, khi các lực hỗ trợ vĩ mô dần phát huy tác dụng, dù nhu cầu tiêu thụ thực vẫn cần thêm thời gian để tạo cú bứt phá rõ nét.

GIÁ THỊT LỢN

Khảo sát tại miền Bắc, giá lợn hơi hôm nay đi ngang. Theo đó, Hưng Yên tiếp tục là địa phương có mức giá cao nhất khu vực, giữ ở 66.000 đồng/kg.

Các tỉnh Thái Nguyên, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hà Nội và Hải Phòng cùng duy trì mức 65.000 đồng/kg. Tại Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Ninh Bình, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Phú Thọ và Sơn La tiếp tục giao dịch ở mức 64.000 đồng/kg.

Hiện giá lợn hơi tại miền Bắc dao động từ 64.000 đồng/kg đến 66.000 đồng/kg.

Tại Miền Trung - Tây Nguyên, giá lợn hơi hôm nay tiếp tục lặng sóng. Lâm Đồng vẫn dẫn đầu khu vực với mức 69.000 đồng/kg, trong khi Đắk Lắk duy trì ở 68.000 đồng/kg.

Thanh Hóa, Nghệ An, Gia Lai và Khánh Hòa tiếp tục cùng giao dịch lợn hơi ở mức 65.000 đồng/kg. Các địa phương Hà Tĩnh, Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng và Quảng Ngãi giữ nguyên mức 64.000 đồng/kg.

Hiện giá lợn hơi tại miền Trung - Tây Nguyên dao động từ 64.000 đồng/kg đến 69.000 đồng/kg.

Tại miền Nam, giá lợn hơi hôm nay ghi nhận một biến động tích cực. Cụ thể, giá lợn tại Đồng Nai tăng 1.000 đồng/kg, lên mức 70.000 đồng/kg, trở thành địa phương có giá lợn hơi cao nhất cả nước.

Các tỉnh Đồng Tháp, TP. Hồ Chí Minh, Vĩnh Long và Cần Thơ tiếp tục giữ mức 69.000 đồng/kg. Tây Ninh, An Giang và Cà Mau duy trì giao dịch ở mức 68.000 đồng/kg.

Hiện giá lợn hơi tại miền Nam dao động từ 68.000 đồng/kg đến 69.000 đồng/kg.

Nhìn chung, giá lợn hơi hôm nay có xu hướng ổn định trên diện rộng, song sự tăng giá tại Đồng Nai cho thấy tín hiệu tích cực từ khu vực chăn nuôi trọng điểm phía Nam. Việc xuất hiện mốc 70.000 đồng/kg có thể tạo lực đẩy cho thị trường trong những phiên tới.

Theo khảo sát từ trang winmart.vn giá thịt lợn ghi nhận giữ giá ổn định, niêm yết trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg. Cụ thể, thịt lợn xay là sản phẩm có giá bán thấp nhất, duy trì mức 102.322 đồng/kg. Tiếp đó là các sản phẩm thịt nạc đùi, nạc vai lợn và chân giò rút xương, với giá bán lần lượt là 122.320 đồng/kg, 126.320 đồng/kg và 127.922 đồng/kg.

Như vậy, giá thịt lợn tại WinMart hiện dao động trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg và được giảm giá 20% theo chương trình ưu đãi dành cho hội viên của WinMart.

Có thể bạn quan tâm