Lãi suất cho vay và huy động phát tín hiệu hạ nhiệt, mặt bằng cuối năm sẽ ra sao?

Khoảng cách giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn, cùng nhu cầu vốn trung dài hạn lớn, khiến dư địa giảm lãi suất trong những tháng cuối năm vẫn khá mong manh…

Mặt bằng lãi suất ngân hàng bất ngờ xuất hiện làn sóng điều chỉnh giảm trong những ngày đầu tháng 8, từ huy động đến cho vay. Động thái này diễn ra trong bối cảnh Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước tiếp tục yêu cầu hệ thống ngân hàng tiết giảm chi phí, tạo dư địa giảm lãi suất để hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng.

LÃI SUẤT CHO VAY VÀ HUY ĐỘNG ĐỒNG LOẠT GIẢM

Từ ngày 11/8, ngân hàng LPBank áp dụng biểu lãi suất mới dành cho khách hàng cá nhân với mức giảm ở toàn bộ các nhóm kỳ hạn. Lãi suất tiền gửi kỳ hạn 1 tháng giảm 0,3 điểm phần trăm, xuống 4,3%/năm; các kỳ hạn 2-6 tháng giảm 0,1 điểm phần trăm.

Với kỳ hạn 7-11 tháng, mức giảm là 0,2 điểm phần trăm còn 6,5%/năm. Các kỳ hạn 12-36 tháng cùng giảm 0,1 điểm phần trăm. Mức điều chỉnh mạnh nhất nằm ở kỳ hạn từ 36 tháng trở lên khi LPBank giảm tới 0,5 điểm phần trăm xuống 5,37%/năm.

Trước đó, từ ngày 7/8, VPBank cũng điều chỉnh giảm lãi suất ở nhiều kỳ hạn đối với cả tiền gửi trực tuyến và tại quầy. Với khoản tiền gửi trực tuyến dưới 1 tỷ đồng, lĩnh lãi cuối kỳ, mức lãi suất cao nhất hiện là 6,2%/năm cho các kỳ hạn 6-13 tháng. Kỳ hạn 15-24 tháng hưởng 6%/năm, trong khi kỳ hạn 36 tháng còn 4,2%/năm.

Tương tự, ngân hàng SeABank giảm đồng loạt 0,3 điểm phần trăm lãi suất tiền gửi trực tuyến ở các kỳ hạn 6-36 tháng, trong khi giữ nguyên các kỳ hạn dưới 6 tháng. BIDV cũng hạ lãi suất tiền gửi trực tuyến, giảm 0,6 điểm phần trăm tại kỳ hạn 6-12 tháng và 0,4 điểm phần trăm ở các kỳ hạn 13-36 tháng.

Không chỉ thị trường huy động, lãi suất cho vay cũng bắt đầu được điều chỉnh thông qua các chương trình tín dụng ưu đãi.

Từ ngày 11/8, ngân hàng NCB triển khai chính sách giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay đối với cả khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Với nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa, mức giảm 0,5%/năm được áp dụng ở tất cả kỳ hạn vay; lãi suất ngắn hạn từ 10%/năm trong 3 tháng đầu. Ngân hàng ưu tiên vốn cho các dự án xanh, kinh tế số và doanh nghiệp tham gia các công trình trọng điểm quốc gia.

Đối với khách hàng cá nhân, lãi suất cho vay từ 8,49%/năm được áp dụng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh hoặc mua nhà.

Ngân hàng Agribank cũng triển khai chương trình tín dụng ưu đãi quy mô 70.000 tỷ đồng kéo dài đến năm 2028, với lãi suất thấp hơn 1-2%/năm so với lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn.

Chương trình tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp, nông thôn, kinh tế số, trí tuệ nhân tạo và các dự án xanh. Ngân hàng đồng thời triển khai các gói tín dụng dành cho nhà ở xã hội và lĩnh vực lâm, thủy sản với doanh số giải ngân lớn.

Trong khi đó, BIDV dành gói tín dụng 50.000 tỷ đồng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, với lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức hiện hành, nhằm hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2026 theo Nghị quyết 168/NQ-CP.

Làn sóng điều chỉnh này diễn ra sau hàng loạt chỉ đạo từ Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước. Theo văn bản số 7092 ngày 7/8/2026, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng báo cáo tình hình lãi suất, tín dụng và tỷ giá để phục vụ buổi làm việc của Thủ tướng Chính phủ dự kiến trong tuần này..

Tại buổi làm việc ngày 10/8, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng tiếp tục đề nghị các ngân hàng tiết giảm chi phí hoạt động, nâng cao năng suất để tạo dư địa giảm thực chất lãi suất cho vay, đồng thời minh bạch các loại phí để doanh nghiệp thuận lợi hơn khi tiếp cận vốn.

Những động thái này cho thấy áp lực giảm lãi suất đang được đặt lên toàn hệ thống. Tuy nhiên, bài toán khó hơn nằm ở chỗ liệu các ngân hàng có đủ dư địa để duy trì xu hướng này trong những tháng cuối năm hay không.

BÀI TOÁN THANH KHOẢN CHƯA DỄ THÁO GỠ

Thực tế những tháng đầu năm cho thấy lãi suất có thể giảm nhanh nhưng cũng dễ bật trở lại khi áp lực nguồn vốn gia tăng.

Ngày 9/4/2026, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn đã chủ trì cuộc họp với 46 ngân hàng thương mại về việc giảm lãi suất. Sau đó, các ngân hàng đồng thuận giảm mặt bằng lãi suất để hỗ trợ người dân và doanh nghiệp phục hồi sản xuất kinh doanh.

Tuy nhiên, chỉ khoảng một tháng sau, từ tháng 5, mặt bằng lãi suất bắt đầu tăng trở lại. Nguyên nhân chính nằm ở khoảng cách ngày càng lớn giữa tốc độ tăng tín dụng và huy động vốn, đặc biệt là sự thiếu hụt nguồn vốn trung và dài hạn.

Theo dữ liệu của Chứng khoán MBS, đến ngày 3/8, dư nợ tín dụng toàn hệ thống tăng 8,8% so với cuối năm 2025, trong khi huy động vốn mới tăng 6,2%. Khoảng cách này tiếp tục tạo sức ép lên nhu cầu huy động của các ngân hàng.

Báo cáo cập nhật thị trường vĩ mô của Chứng khoán Thiên Việt (TVS) cũng cho thấy diễn biến trái chiều giữa các phân khúc. Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng trong tháng 7 đã hạ nhiệt đáng kể nhờ thanh khoản được hỗ trợ từ lượng tiền gửi của Kho bạc Nhà nước. Tuy nhiên, lãi suất huy động tại thị trường dân cư vẫn neo ở mức cao.

TVS cho rằng lãi suất có cơ sở hạ nhiệt trong nửa cuối năm khi Ngân hàng Nhà nước tiếp tục triển khai các giải pháp hỗ trợ thanh khoản nhằm phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế 10%. Dù vậy, áp lực huy động và khả năng tăng lãi suất vẫn còn hiện hữu nếu tín dụng tiếp tục tăng nhanh hơn huy động.

Một số ngân hàng vì vậy đã phải tìm đến các kênh huy động trung và dài hạn khác. Trên thị trường, có nhà băng phát hành trái phiếu với lãi suất từ 8%/năm, cao hơn khoảng 2 điểm phần trăm so với cuối năm 2025, nhằm bổ sung nguồn vốn cho các khoản vay dài hạn.

Theo ông Nguyễn Anh Khoa, Giám đốc Phân tích Công ty Cổ phần Chứng khoán Agribank (Agriseco), việc duy trì mặt bằng lãi suất hiện nay đã là một kịch bản tích cực và rất khó để lãi suất quay lại vùng thấp như 2-3 năm trước.

Trong kịch bản tiêu cực, lãi suất có thể tăng nhẹ từ năm tới và duy trì ở mức cao trong năm 2027, thậm chí 2028. Theo ông Khoa, chỉ khi các dự án đầu tư công bước vào giai đoạn thu hoạch, quyết toán và dòng tiền quay trở lại nền kinh tế thực, mặt bằng lãi suất mới có cơ sở giảm dần.

Cùng góc nhìn thận trọng, ông Trần Ngọc Báu, CEO WiGroup, cho rằng nhiều dòng tiền có thể được đưa vào hệ thống vào cuối năm nay hoặc đầu năm sau, nhưng cần thời gian để hấp thụ.

Chẳng hạn, việc đưa dòng tiền nhàn rỗi từ Kho bạc Nhà nước vào hệ thống ngân hàng thương mại liên quan đến nhiều cơ quan và chính sách, không thể thực hiện ngay lập tức. Theo ông Báu, nếu các dòng tiền này bắt đầu được giải ngân và thẩm thấu, phải mất khoảng hai quý để tác động rõ hơn lên thanh khoản. Vì vậy, khoảng quý 2/2027 mới có thể kỳ vọng áp lực lãi suất giảm đáng kể.

Trong khi đó, nền kinh tế từ nay đến cuối năm vẫn phải đối mặt với bài toán tăng trưởng GDP hai con số. Khi lượng tiền mới đưa vào hệ thống chưa thực sự dồi dào, nhu cầu vốn lại tăng lên, đặc biệt ở khu vực công nghiệp và đầu tư, dư địa để lãi suất giảm sâu càng trở nên hạn chế.

Ông Báu cho rằng công nghiệp và tiêu dùng sẽ phải đóng vai trò lớn hơn trong tăng trưởng. Muốn thúc đẩy công nghiệp, tín dụng vẫn là một mắt xích quan trọng, trong khi các điều kiện về nguồn vốn đang chịu sức ép.

Tại Hội nghị Nhà đầu tư của ngân hàng MB được tổ chức mới đây, ông Phạm Như Ánh, Tổng giám đốc MB, cũng cho biết thanh khoản hệ thống thời gian qua chịu áp lực lớn, kéo mặt bằng lãi suất huy động và cho vay lên cao.

Theo ông Ánh, từ nay đến cuối năm, lãi suất nhiều khả năng đi ngang. Tuy nhiên, khả năng lãi suất không tăng thêm chủ yếu đến từ định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước, chứ chưa đồng nghĩa với việc áp lực thanh khoản đã được giải quyết hoàn toàn.

Bước sang năm 2027, diễn biến lãi suất sẽ phụ thuộc nhiều vào chính sách tài khóa. Nếu đầu tư công được đẩy mạnh và giải ngân cải thiện, dòng tiền sẽ quay trở lại nền kinh tế, từ đó bổ sung thanh khoản cho hệ thống ngân hàng. Ngược lại, nếu tiến độ giải ngân tiếp tục chậm, áp lực thanh khoản có thể kéo dài.

Một yếu tố khác cũng cần lưu ý là lượng tiền gửi được huy động trong giai đoạn lãi suất thấp sẽ lần lượt đáo hạn. Khi khách hàng tái tục, các ngân hàng có thể phải áp dụng mức lãi suất cao hơn mức cũ để giữ chân dòng tiền.

Vì vậy, đợt giảm lãi suất trong tháng 8 đang mở ra tín hiệu tích cực, nhưng chưa đủ để khẳng định một chu kỳ giảm lãi suất mới. Trong những tháng cuối năm, diễn biến mặt bằng lãi suất sẽ phụ thuộc đồng thời vào tốc độ tăng tín dụng, khả năng huy động vốn, dòng tiền từ Kho bạc Nhà nước, tiến độ đầu tư công và cách Ngân hàng Nhà nước cân bằng giữa mục tiêu tăng trưởng với ổn định thanh khoản.

Có thể bạn quan tâm