Lãi suất vay tăng mạnh, thị trường ô tô chịu sức ép từ hai phía

Chi phí vay vốn tăng trong khi cuộc cạnh tranh về giá ngày càng gay gắt đang khiến doanh nghiệp ô tô phải chịu sức ép kép, còn người mua xe cũng đối mặt với khoản trả nợ lớn hơn khi thời gian ưu đãi kết thúc…

Mặt bằng lãi suất tăng đang tạo sức ép lên cả hai phía của thị trường ô tô. Doanh nghiệp phải gánh chi phí vốn lớn hơn, còn người mua xe có nguy cơ phải trả thêm đáng kể khi khoản vay chuyển sang lãi suất thả nổi.

DOANH NGHIỆP Ô TÔ CHỊU SỨC ÉP TỪ CHI PHÍ VỐN

Thị trường ô tô đang xuất hiện nghịch lý, doanh số tăng mạnh nhưng doanh nghiệp không vì thế mà dễ thở hơn. Trong nửa đầu năm nay, doanh số toàn thị trường đạt 303.391 xe, tăng 33,8% so với cùng kỳ năm ngoái, song nhiều doanh nghiệp ô tô niêm yết lại đang phải đối mặt với dòng tiền kinh doanh yếu, hàng tồn kho tăng và chi phí vay vốn ngày càng lớn.

Theo báo cáo mới đây của VIS Rating, phần lớn doanh nghiệp ô tô niêm yết ghi nhận dòng tiền từ hoạt động kinh doanh (CFO) âm trong 6 tháng đầu năm. Hàng tồn kho tăng 37% so với cuối năm 2025, trong khi vòng quay hàng tồn kho giảm từ 6,7 lần xuống 5,5 lần.

Một trong những nguyên nhân khiến dòng tiền của doanh nghiệp chịu áp lực là chi phí tài chính tăng lên. Tổng dư nợ vay của các doanh nghiệp ô tô niêm yết tăng 7,3% trong nửa đầu năm, tập trung ở những doanh nghiệp lớn như Công ty Cổ phần Tasco và Công ty Cổ phần Dịch vụ Ô tô Hàng Xanh, chủ yếu để phục vụ việc mở rộng hệ thống phân phối.

Khi quy mô vay tăng trong lúc mặt bằng lãi suất cao, khoản tiền phải trả cho ngân hàng cũng tăng theo. VIS Rating cho biết lãi suất vay thực tế của các doanh nghiệp niêm yết tăng khoảng 1-4% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, chi phí lãi vay đã trả trong nửa đầu năm tăng tới 47% so với cùng kỳ năm ngoái.

Áp lực vốn càng đáng chú ý khi các doanh nghiệp vẫn phải cạnh tranh quyết liệt để giữ thị phần. Doanh số tăng chủ yếu nhờ xe điện VinFast tăng 72% lên 115.916 xe và doanh số xe hybrid cũng tăng 83% lên 10.865 xe. Chính sách ưu đãi, giá bán cạnh tranh và biến động giá xăng đã thúc đẩy nhu cầu đối với các dòng xe điện hóa. Doanh số xe động cơ đốt trong tăng khoảng 13%.

Dù doanh thu toàn thị trường tăng, song nhiều thương hiệu lâu năm như Toyota, Hyundai và Ford đang mất thị phần. Cùng lúc, giá trị nhập khẩu ô tô nguyên chiếc tăng 28,9% lên 2,8 tỷ USD, riêng xe nhập khẩu từ Trung Quốc tăng 71,2% lên 1,26 tỷ USD, khiến các hãng xe phải đối mặt với thêm nhiều đối thủ có lợi thế về giá và trang bị.

VIS Rating cho rằng cạnh tranh về giá gia tăng từ VinFast và xe Trung Quốc sẽ tiếp tục hạn chế biên lợi nhuận của ngành ô tô trong thời gian tới. Nói cách khác, doanh nghiệp vừa phải tìm cách bán được nhiều xe hơn, vừa khó tăng giá để bù đắp chi phí đầu vào và chi phí tài chính. Trong bối cảnh đó, mỗi đồng chi phí vay tăng thêm đều có khả năng ăn vào phần lợi nhuận vốn đã không còn quá dày.

Không chỉ vậy, áp lực huy động vốn dài hạn cũng đang xuất hiện. VIS Rating nhận định: "Chúng tôi cho rằng lãi suất duy trì ở mức cao trong 12-18 tháng tới, gây áp lực lên nhu cầu mua xe và chi phí tài trợ vốn lưu động của doanh nghiệp ô tô".

Hoạt động phát hành trái phiếu mới vẫn trầm lắng. Nửa đầu năm nay, thị trường không ghi nhận đợt phát hành trái phiếu doanh nghiệp nào của doanh nghiệp ô tô trong khi 6 tháng cuối năm sẽ có 2.500 tỷ đồng trái phiếu sẽ đáo hạn, làm tăng áp lực tái cấp vốn và nhiều khả năng thúc đẩy hoạt động phát hành mới.

NGƯỜI MUA XE CŨNG KHÔNG CÒN DỄ THỞ

Hệ quả của chi phí vốn tăng không chỉ nằm ở phía doanh nghiệp. Với người mua ô tô trả góp, vấn đề thường chỉ thực sự rõ ràng sau khi khoản vay bước qua thời gian ưu đãi và chuyển sang lãi suất thả nổi.

Một trường hợp được chia sẻ là Anh Trần Minh Quân, một người làm kinh doanh tại Hà Nội, cho biết khoản vay mua xe của anh đã thay đổi đáng kể chỉ sau khi bước sang giai đoạn tính lãi thả nổi.

Chiếc xe anh mua có giá khoảng 620 triệu đồng. Anh thanh toán trước gần 200 triệu đồng và vay phần còn lại khoảng 420 triệu đồng từ ngân hàng, thời hạn 6 năm. Trong 12 tháng đầu, khoản vay được áp dụng mức lãi suất cố định 7,9%/năm. Đây cũng là mức lãi suất khiến anh quyết định chọn phương án vay thay vì sử dụng toàn bộ tiền mặt để mua xe.

Tuy nhiên, từ kỳ trả nợ tiếp theo sau khi kết thúc ưu đãi, lãi suất được điều chỉnh lên khoảng 15,8%/năm. Mức lãi mới khiến số tiền lãi phải trả mỗi tháng tăng đáng kể, trong khi dư nợ của khoản vay vẫn còn khá lớn do thời hạn vay kéo dài.

“Lúc ký hợp đồng tôi có hỏi về lãi suất sau ưu đãi nhưng chủ yếu quan tâm đến mức lãi trong năm đầu. Tôi nghĩ khi chuyển sang thả nổi thì lãi suất sẽ tăng thêm vài điểm phần trăm, chứ không hình dung mức điều chỉnh lại lớn như vậy”, anh Quân nói.

Theo anh, điều đáng chú ý là mức lãi suất ban đầu tạo cảm giác chi phí vay khá thấp, nhưng khi thời gian ưu đãi kết thúc, cơ cấu lãi suất hoàn toàn thay đổi. Với khoản vay có thời hạn nhiều năm, giai đoạn sau ưu đãi mới là khoảng thời gian khách hàng cần đặc biệt quan tâm bởi dư nợ vẫn còn cao.

Trên các diễn đàn về ô tô và tài chính cá nhân, một số người vay cũng cho biết đã nhận thông báo điều chỉnh lãi suất sau khi hết thời gian cố định. Có trường hợp lãi suất được điều chỉnh lên khoảng 14-16%/năm, trong khi một số khoản vay có mức cao hơn tùy theo công thức tính lãi và điều kiện của từng hợp đồng.

Chị Bùi Minh Oanh, ở Phú Thọ, cho biết khoản vay mua xe của gia đình được điều chỉnh lên 16,2%/năm sau thời gian ưu đãi. Theo chị, trước khi ký hợp đồng, gia đình tập trung nhiều hơn vào số tiền phải trả hàng tháng trong giai đoạn đầu và mức lãi suất quảng bá, trong khi chưa tính kỹ kịch bản lãi suất tăng sau ưu đãi.

Thực tế, lãi suất vay mua ô tô không cố định cho tất cả khách hàng mà phụ thuộc vào nhiều yếu tố như loại xe, tình trạng xe, tỷ lệ vay trên giá trị tài sản, thời hạn vay, lịch sử tín dụng, thu nhập cũng như các điều kiện đi kèm. Vì vậy, mức lãi suất ưu đãi được quảng bá lúc mua xe chưa phản ánh toàn bộ chi phí mà khách hàng phải trả trong suốt thời gian vay.

Với một khoản vay vài trăm triệu đồng, chênh lệch vài điểm phần trăm về lãi suất có thể khiến số tiền phải trả tăng đáng kể, đặc biệt khi khoản vay kéo dài nhiều năm. Đây cũng là lý do người mua xe không chỉ cần quan tâm đến mức lãi suất trong thời gian đầu mà còn phải tính đến công thức điều chỉnh lãi suất sau ưu đãi và khả năng trả nợ trong những năm tiếp theo.

LÃI SUẤT CHO VAY KHÓ GIẢM TRONG THỜI GIAN TỚI

Áp lực đối với cả doanh nghiệp lẫn người vay mua xe được đặt trong bối cảnh mặt bằng lãi suất huy động đang tăng. Theo TS Nguyễn Trí Hiếu, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển thị trường tài chính và bất động sản toàn cầu, lãi suất huy động tại một số nơi đã lên trên 10%/năm.

Theo ông, đây là dấu hiệu cho thấy thanh khoản trên thị trường huy động vốn đang chịu sức ép khi các ngân hàng phải tăng lãi suất để thu hút nguồn tiền phục vụ cho vay.

“Cả thị trường một và thị trường hai, lãi suất hiện tại đang tăng trong xu hướng tăng”, TS Hiếu nhận định. Dù lãi suất liên ngân hàng đã hạ trong ngày nhờ sự can thiệp của Ngân hàng Nhà nước, ông cho rằng tác động này chỉ mang tính ngắn hạn. Khi thanh khoản tiếp tục chịu áp lực, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng có thể tăng trở lại trong những ngày hoặc tuần tới, từ đó tạo thêm sức ép lên mặt bằng lãi suất cho vay.

Vị chuyên gia này nói thêm, lãi suất huy động bình quân kỳ hạn 12 tháng đã lên trên 10%, trong khi một số khoản vay áp dụng lãi suất thả nổi có mức 16-18%/năm. Đây là mặt bằng có thể gây thêm áp lực cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong những tháng cuối năm khi nhu cầu vốn thường tăng lên.

“Tôi không nhìn thấy dấu hiệu là lãi suất cho vay có thể giảm trong thời gian sắp tới”, TS Hiếu nói. Theo ông, khi các ngân hàng phải huy động vốn với chi phí cao, khả năng giảm mạnh lãi suất cho vay sẽ bị hạn chế.

Đáng chú ý, trước câu hỏi về nhu cầu vốn tăng trong những tháng cuối năm, chuyên gia kinh tế dự báo “dư địa mà lãi suất cho vay giảm là không còn”. Điều này đồng nghĩa doanh nghiệp sẽ phải chủ động hơn trong việc kiểm soát chi phí nếu không muốn phần lợi nhuận bị bào mòn bởi tiền lãi.

Trong bối cảnh chi phí vốn tăng, doanh nghiệp cần tiết giảm những khoản chi phí khác như hoạt động, marketing, nhân lực, nguyên vật liệu và sản xuất, kinh doanh để bù đắp phần chi phí tài chính tăng thêm. Mục tiêu là vẫn duy trì được lợi nhuận khi chi phí vốn chịu sức ép, trong bối cảnh nền kinh tế hướng tới mục tiêu tăng trưởng 10% và kiểm soát lạm phát tối đa 4,5%.

Có thể bạn quan tâm