Tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường cũng như thiên tai, biến đổi khí hậu, cùng những thách thức về an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh mạng... ngày càng gia tăng khiến kinh tế toàn cầu có ảnh hưởng nhất định.
Tính đến hết tháng 7 năm 2026, các tổ chức quốc tế lớn như IMF, WB và OECD đều có chung nhận định rằng kinh tế toàn cầu đang tăng trưởng ở mức thấp, mong manh và có xu hướng giảm tốc so với năm 2025 do chịu ảnh hưởng nặng nề từ các cuộc xung đột địa chính trị. Tuy nhiên, bức tranh tổng thể có sự phân hóa mạnh mẽ nhờ động lực từ làn sóng đầu tư vào trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ.
Dù kinh tế thế giới biến động mạnh, các tổ chức quốc tế vẫn đánh giá Việt Nam là điểm sáng tăng trưởng. Nhờ động lực xuất nhập khẩu mạnh mẽ trong 7 tháng đầu năm, tăng trưởng GDP cả năm 2026 của Việt Nam được ADB và IMF kỳ vọng sẽ đạt mức từ 5,6 - 6,4%.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng giảm 0,12% so với tháng 6/2026 chủ yếu do giá xăng dầu giảm theo giá nhiên liệu thế giới và giá lương thực, thực phẩm giảm nhờ nguồn cung dồi dào. CPI tháng 7/2026 tăng 3,08% so với tháng 12/2025 và tăng 4,45% so với cùng kỳ năm trước.
Lũy kế 7 tháng năm 2026, CPI tăng 4,39% so với cùng kỳ năm ngoái; lạm phát cơ bản tăng 4,19%. CPI tháng 7/2026 giảm 0,12% so với tháng 6/2026, trong đó có 3 nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá giảm và 8 nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá tăng.
CPI bình quân 7 tháng năm 2026 tăng 4,39% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó: Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng cao nhất với 6,72% (làm CPI chung tăng 1,53 điểm phần trăm); Giao thông tăng 5,01% (làm CPI chung tăng 0,50 điểm phần trăm); Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,77% (làm CPI chung tăng 1,71 điểm phần trăm); Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,25% (làm CPI chung tăng 0,15 điểm phần trăm); Đồ uống và thuốc lá tăng 3,6% (làm CPI chung tăng 0,06 điểm phần trăm); Giáo dục tăng 3,35% (làm CPI chung tăng 0,20 điểm phần trăm); Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,72% (làm CPI chung tăng 0,14 điểm phần trăm); Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,58% (làm CPI chung tăng 0,08 điểm phần trăm); May mặc, mũ nón, giày dép tăng 2% (làm CPI chung tăng 0,07 điểm phần trăm); Thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,06%; Thông tin và truyền thông tăng 0,03%.
Lạm phát cơ bản trong tháng tăng 0,33% so với tháng 6/2026 và tăng 4,63% so với cùng kỳ năm 2025. Bình quân 7 tháng năm 2026, lạm phát cơ bản tăng 4,19% so với cùng kỳ năm ngoái, thấp hơn mức tăng 4,39% của CPI bình quân chung do giá xăng dầu, gas và thực phẩm biến động mạnh làm CPI chung tăng, trong khi các yếu tố này được loại trừ trong danh mục tính toán lạm phát cơ bản.
Tính đến ngày 25/7, bình quân giá vàng thế giới trong tháng ở mức 4.086 USD/ounce, giảm 4,62% so với tháng 6/2026. Trong nước, chỉ số giá vàng trong tháng giảm 3,02% so với tháng 6/2026; tăng 19,15% so với cùng kỳ năm 2025. Bình quân 7 tháng năm 2026, chỉ số giá vàng tăng 51,86% so với cùng kỳ năm ngoái.
Bên cạnh đó, đồng USD tiếp tục được hỗ trợ khi FED duy trì chính sách tiền tệ thận trọng và lãi suất ở mức cao. Chỉ số USD trên thị trường quốc tế bình quân trong tháng (tính đến ngày 25/7), đạt mức 100,81 điểm, tăng 0,76 điểm so với tháng 6/2026. Trong nước, chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng tăng 0,18% so với tháng 6/2026; tăng 0,38% so với cùng kỳ năm 2025. Bình quân 7 tháng năm 2026, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 1,55% so với cùng kỳ năm ngoái.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành trong tháng 7/2026 ước đạt 669,1 nghìn tỷ đồng, tăng 0,9% so với tháng 6/2026 và tăng 14,5% so với cùng kỳ năm 2025.
Trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa của hầu hết các nhóm hàng đều có xu hướng tăng so với tháng trước và cùng kỳ năm ngoái như: Gỗ và vật liệu xây dựng tăng 1,8% so với tháng 6/2026 và tăng 22,8% so với cùng kỳ năm 2025; Sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy và xe có động cơ tăng 1,5% và tăng 13,6%; Đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 1,3% và tăng 9,6%; Phương tiện đi lại (trừ ô tô, kể cả phụ tùng) tăng 1% và tăng 6,3%; Các nhóm lương thực, thực phẩm, hàng may mặc, ô tô các loại, nhiên liệu khác (trừ xăng, dầu) đều tăng 0,9% so với tháng trước và lần lượt tăng 12,7%, 12,4%, 1,5%, 24,9% so với cùng kỳ năm 2025.
Đáng chú ý, doanh thu nhóm đá quý, kim loại quý và sản phẩm trong tháng giảm 1,6% so với tháng 6/2026 do ảnh hưởng từ thị trường đá quý trong nước nhưng tính chung 7 tháng năm 2026, doanh thu nhóm này vẫn tăng 12,7% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 7 tháng năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 4.555,8 nghìn tỷ đồng, tăng 13,1% so với cùng kỳ năm 2025, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7,5% (năm 2025 tăng 7,4%).
Trong tháng, cả nước có hơn 14,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký gần 166,3 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký là 82 nghìn lao động, giảm 15,5% về số doanh nghiệp, giảm 41,9% về vốn đăng ký và giảm 0,6% về số lao động so với tháng 6/2026. So với cùng kỳ năm 2025, giảm 13,9% về số doanh nghiệp, tăng 41,6% về số vốn đăng ký và tăng 3,8% về số lao động.
Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng 7/2026 đạt 11,7 tỷ đồng, giảm 31,3% so với tháng 6/2026 và tăng 64,4% so với cùng kỳ năm ngoái. Bên cạnh đó, cả nước còn có hơn 10,1 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 25,5% so với tháng trước và giảm 30,7% so với cùng kỳ năm 2025.
Cũng trong tháng, có 8.723 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 20,4% so với tháng 6/2026 và tăng 18,8% so với cùng kỳ năm 2025; có 10.382 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 3,9% và tăng 136,8%; có 7.209 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 45,4% và tăng 269,9%.
Lũy kế 7 tháng năm 2026, cả nước có hơn 125,9 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký gần 1.518,9 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký gần 597,3 nghìn lao động, tăng 16,9% về số doanh nghiệp, tăng 63,6% về vốn đăng ký và giảm 10,9% về số lao động so với cùng kỳ năm 2025. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong 7 tháng năm 2026 đạt 12,1 tỷ đồng, tăng 39,9% so với cùng kỳ năm ngoái.
Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 7 tháng năm 2026 đạt gần 3,6 triệu tỷ đồng, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm 2025. Bên cạnh đó, cả nước có gần 61,3 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (giảm 7,7% so với cùng kỳ năm 2025), nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong 7 tháng năm 2026 lên gần 187,2 nghìn doanh nghiệp, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm 2025. Bình quân một tháng có 26,7 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.
Lũy kế 7 tháng năm 2026, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là hơn 87,5 nghìn doanh nghiệp, giảm 1,2% so với cùng kỳ năm 2025; hơn 36,6 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 11,7%; gần 31,2 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 118,7%. Bình quân một tháng có 22,2 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.
Trong tháng 7/2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 109,75 tỷ USD, tăng 5,3% so với tháng 6/2026 và tăng 33% so với cùng kỳ năm 2025.
Lũy kế 7 tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 659,58 tỷ USD, tăng 28,1% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó xuất khẩu tăng 21,7%; nhập khẩu tăng 34,8%, phản ánh đà tăng trưởng mạnh của hoạt động xuất, nhập khẩu. Tuy nhiên, nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu đã khiến cán cân thương mại nhập siêu 20,52 tỷ USD, chủ yếu do nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu, máy móc và hàng hóa phục vụ sản xuất, đầu tư đang gia tăng.
Xuất khẩu hàng hóa:
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng đạt 53,08 tỷ USD, tăng 4,5% so với tháng 6/2026. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 10,27 tỷ USD, tăng 2,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 42,81 tỷ USD, tăng 5%. So với cùng kỳ năm 2025, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 7/2026 tăng 25%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 14%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 27,9%.
Lũy kế 7 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 319,53 tỷ USD, tăng 21,7% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 63,64 tỷ USD, tăng 5,8%, chiếm 19,9% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 255,89 tỷ USD, tăng 26,4%, chiếm 80,1%.
Trong 7 tháng năm 2026 có 31 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 93% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 7 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 69,7%).
Nhập khẩu hàng hóa:
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng đạt 56,67 tỷ USD, tăng 6,1% so với tháng 6/2026. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 13,8 tỷ USD, giảm 2,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 42,87 tỷ USD, tăng 9,3%. So với cùng kỳ năm 2025, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 7/2026 tăng 41,4%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 23,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 48,2%.
Lũy kế 7 tháng năm 2026, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 340,05 tỷ USD, tăng 34,8% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 92,14 tỷ USD, tăng 24,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 247,91 tỷ USD, tăng 39,2%. Trong 7 tháng năm 2026 có 40 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 93% tổng kim ngạch nhập khẩu (có 2 mặt hàng nhập khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 52,0%).
Chỉ số sản xuất công nghiệp ngành chế biến, chế tạo tháng 7/2026 tăng 15% so với cùng kỳ năm 2025; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 14,9%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 12,5%; ngành khai khoáng tăng 10,4%.
Lũy kế 7 tháng năm 2026, IIP ngành chế biến, chế tạo tăng 12% (cùng kỳ năm 2025 tăng 10,1%), đóng góp 9,3 điểm phần trăm trong mức tăng chung; Ngành khai khoáng tăng 6,6% (cùng kỳ giảm 2,4%), đóng góp 1,0 điểm phần trăm; Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,9% (cùng kỳ tăng 4,8%), đóng góp 0,9 điểm phần trăm; Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 10% (cùng kỳ tăng 10,1%), đóng góp 0,2 điểm phần trăm.
Chỉ số IIP 7 tháng năm 2026 của một số ngành trọng điểm cấp II tăng so với cùng kỳ năm 2025: Sản xuất kim loại tăng 23,5%; Sản xuất xe có động cơ tăng 16%; Sản xuất đồ uống tăng 15,7%; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác và sản xuất phương tiện vận tải khác cùng tăng 13,5%; Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 13,3%; Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học và sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) cùng tăng 12,8%; Sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 12,5%; Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic và chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện cùng tăng 12,2%; Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 11,2%; Khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên tăng 10,3%. Ở chiều ngược lại, chỉ số IIP của ngành khai thác than cứng và than non giảm 3,1%.
Chỉ số sản xuất công nghiệp 7 tháng năm 2026 so với cùng kỳ năm 2025 tăng ở cả 34 địa phương. Một số địa phương có chỉ số IIP đạt mức tăng khá nhờ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao. Ở chiều ngược lại, một số địa phương có chỉ số IIP tăng thấp do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành khai khoáng và ngành sản xuất, phân phối điện tăng thấp hoặc giảm.
Thu ngân sách Nhà nước 7 tháng năm 2026 ước tăng 16% so với cùng kỳ năm 2025. Chi ngân sách Nhà nước ước tăng 7,7% so với cùng kỳ năm ngoái, đảm bảo các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước, thanh toán các khoản nợ đến hạn cũng như chi trả kịp thời cho các đối tượng theo quy định.
Thu ngân sách Nhà nước:
Tổng thu ngân sách Nhà nước tháng 7/2026 ước đạt 259,7 nghìn tỷ đồng. Lũy kế tổng thu ngân sách Nhà nước 7 tháng năm 2026 ước đạt 1.834,6 nghìn tỷ đồng, bằng 72,5% dự toán năm và tăng 16% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, một số khoản thu chính như sau:
- Thu nội địa trong tháng ước đạt 228,3 nghìn tỷ đồng. Lũy kế 7 tháng năm 2026 ước đạt 1.587,5 nghìn tỷ đồng, bằng 72,2% dự toán năm, chiếm 86,5% tổng thu ngân sách Nhà nước và tăng 16% so với cùng kỳ năm 2025.
- Thu từ dầu thô trong tháng ước đạt 6,1 nghìn tỷ đồng. Lũy kế 7 tháng năm 2026 ước đạt 37,3 nghìn tỷ đồng, bằng 86,6% dự toán năm, chiếm 2% tổng thu ngân sách Nhà nước và tăng 29,6% so với cùng kỳ năm ngoái.
- Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu trong tháng ước đạt 25,1 nghìn tỷ đồng. Lũy kế 7 tháng năm 2026 ước đạt 208,8 nghìn tỷ đồng, bằng 75,1% dự toán năm, chiếm 11,4% tổng thu ngân sách Nhà nước và tăng 13,7% so với cùng kỳ năm 2025.
Chi ngân sách Nhà nước:
Tổng chi ngân sách Nhà nước trong tháng ước đạt 215,4 nghìn tỷ đồng. Lũy kế 7 tháng năm 2026, chi ngân sách Nhà nước ước đạt 1.364,3 nghìn tỷ đồng, bằng 43,2% dự toán năm và tăng 7,7% so với cùng kỳ năm 2025, đáp ứng đầy đủ công tác chăm lo cho các đối tượng hưởng lương, lương hưu và trợ cấp xã hội từ ngân sách Nhà nước, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội.
Trong đó: Chi thường xuyên đạt 875 nghìn tỷ đồng, bằng 48,4% dự toán năm, chiếm 64,1% tổng chi ngân sách Nhà nước và tăng 1,4% so với cùng kỳ năm 2025; Chi đầu tư phát triển đạt 418,9 nghìn tỷ đồng, bằng 37,4%, chiếm 30,7% và tăng 23,7%; Chi trả nợ lãi 68,4 nghìn tỷ đồng, bằng 56,5%, chiếm 5% và tăng 8,5%.
Hoạt động vận tải trong tháng tiếp tục sôi động, đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân và khách quốc tế, đồng thời bảo đảm lưu thông hàng hóa, góp phần thúc đẩy hoạt động thương mại, du lịch và tăng trưởng kinh tế.
So với cùng kỳ năm 2025, vận tải hành khách tháng 7/2026 tăng 16,9% về vận chuyển và tăng 13,5% về luân chuyển; Vận tải hàng hóa tăng 17% về vận chuyển và tăng 16,1% về luân chuyển. Lũy kế 7 tháng năm 2026, vận chuyển hành khách tăng 18% và luân chuyển tăng 12,4% so với cùng kỳ năm ngoái; Vận chuyển hàng hóa tăng 14,9% và luân chuyển tăng 12,3%.
Vận tải hành khách trong tháng 7/2026 ước đạt 620,7 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 3,1% so với tháng 6/2026, tăng 16,9% so với cùng kỳ năm 2025; luân chuyển 30,9 tỷ lượt khách/km, tăng 5% và 13,5%.
Lũy kế 7 tháng năm 2026, vận tải hành khách ước đạt 4.007,1 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 18% so với cùng kỳ năm ngoái và luân chuyển đạt 201,6 tỷ lượt khách/km, tăng 12,4%. Trong đó, vận tải trong nước ước đạt 3.995,3 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 18,1% so với cùng kỳ năm 2025 và 164,4 tỷ lượt khách/km luân chuyển, tăng 14,7%; vận tải ngoài nước ước đạt 11,8 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 4,2% và 37,2 tỷ lượt khách/km luân chuyển, tăng 3,2%.
Vận tải hàng hóa trong tháng 7/2026 ước đạt 294,3 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 0,9% so với tháng 6/2026, tăng 17% so với cùng kỳ năm 2025; luân chuyển 61,8 tỷ tấn/km, tăng 2,5% và tăng 16,1%.
Lũy kế 7 tháng năm 2026, vận tải hàng hóa ước đạt 1.933,2 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 14,9% so với cùng kỳ năm ngoái và luân chuyển 387,6 tỷ tấn/km, tăng 12,3%. Trong đó, vận tải trong nước ước đạt 1.899,2 triệu tấn vận chuyển, tăng 14,9% và 219 tỷ tấn/km luân chuyển, tăng 11,7%; vận tải ngoài nước ước đạt 34 triệu tấn vận chuyển, tăng 16,6% và 168,6 tỷ tấn/km luân chuyển, tăng 13%.
Việt Nam tiếp tục là điểm đến hấp dẫn đối với du khách quốc tế nhờ chính sách thị thực thuận lợi, công tác xúc tiến, quảng bá được đẩy mạnh, sản phẩm du lịch đa dạng cùng với lợi thế về cảnh quan thiên nhiên, văn hóa, ẩm thực và chi phí du lịch hợp lý. Nhờ đó, lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong 7 tháng năm 2026 đạt 13,9 triệu lượt người, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm 2025.
Trong tháng 7/2026, khách quốc tế đến nước ta ước đạt 1,67 triệu lượt người, giảm 0,7% so với tháng 6/2026, tăng 6,6% so với cùng kỳ năm ngoái. Lũy kế 7 tháng năm 2026, khách quốc tế đến Việt Nam đạt 13,9 triệu lượt người, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, khách đến bằng đường hàng không đạt 11,5 triệu lượt người, chiếm 82,8% lượng khách quốc tế đến và tăng 10,7% so với cùng kỳ năm ngoái; bằng đường bộ đạt 2,2 triệu lượt người, chiếm 15,7% và tăng 33,6%; bằng đường biển đạt 210,9 nghìn lượt người, chiếm 1,5% và tăng 14,7%.
Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng 7/2026 ước đạt 98,6 nghìn tỷ đồng, tăng 25,9% so với cùng kỳ năm 2025, bao gồm: Vốn Trung ương quản lý đạt 17,5 nghìn tỷ đồng, tăng 33,2%; vốn địa phương quản lý đạt 81 nghìn tỷ đồng, tăng 24,5%. Lũy kế 7 tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt 445,5 nghìn tỷ đồng, bằng 39% kế hoạch năm và tăng 18,4% so với cùng kỳ năm ngoái (cùng kỳ bằng 37% và tăng 24,7%).
Trong số 69 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 7 tháng năm 2026, Singapore là nhà đầu tư lớn nhất với 7,5 tỷ USD, chiếm 35,6% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hàn Quốc 5,61 tỷ USD, chiếm 26,7%; Đặc khu hành chính Hồng Kông (TQ) 2,91 tỷ USD, chiếm 13,8%; Trung Quốc 1,73 tỷ USD, chiếm 8,3%; Nhật Bản 1,37 tỷ USD, chiếm 6,5%; Hà Lan 424,3 triệu USD, chiếm 2%.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam 7 tháng năm 2026 ước đạt 15,2 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm 2025. Đây là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của 7 tháng trong 5 năm qua. Trong đó: Công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 12,55 tỷ USD, chiếm 82,6% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 1,1 tỷ USD, chiếm 7,5%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 549,3 triệu USD, chiếm 3,6%.
Trong 7 tháng năm 2026, có 35 quốc gia và vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam, trong đó: Lào là nước dẫn đầu với 638,3 triệu USD, chiếm 27% tổng vốn đầu tư; Campuchia 449,9 triệu USD, chiếm 19%; Indonesia 308,6 triệu USD, chiếm 13,1%; Ấn Độ 173,9 triệu USD, chiếm 7,4%; Philippines 167,2 triệu USD, chiếm 7,1%; Kazakhstan 149,9 triệu USD, chiếm 6,3%; Anh 82,8 triệu USD, chiếm 3,5%.
7 địa phương dẫn đầu về thu hút vốn FDI đăng ký cấp mới là Thái Nguyên, TP.HCM, Nghệ An, Hải Phòng, Bắc Ninh, Đồng Nai và Tây Ninh.