Dù bối cảnh thế giới vẫn đang tiếp tục có nhiều biến động phức tạp nhưng kinh tế Việt Nam trong 5 tháng đầu năm tiếp tục tăng trưởng rực rỡ với những điểm sáng nổi bật trong nhiều ngành nghề chủ đạo.
Theo thông tin vừa được Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố, tính chung 5 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa 5 tháng ước đạt 445,12 tỷ USD, cao nhất từ trước đến nay, tăng 25% so với cùng kỳ năm 2025. Cán cân thương mại đảo chiều, chuyển sang nhập siêu 13,8 tỷ USD (trái ngược với mức xuất siêu 5,1 tỷ USD của cùng kỳ năm ngoái).
Theo đánh giá từ các định chế tài chính và tổ chức quốc tế, kinh tế Việt Nam đang ngày càng khẳng định giữ một vị trí chiến lược trong chuỗi cung ứng toàn cầu và là điểm sáng tăng trưởng “ấn tượng” nhất trong khu vực ASEAN, bất chấp những biến động phức tạp của địa chính trị toàn cầu.
Theo nhận định của Ngân hàng Thế giới (WB) trong báo cáo Cập nhật Tình hình Kinh tế Việt Nam được công bố ở tháng 5/2026, Việt Nam bước vào năm 2026 với vị thế mạnh mẽ nhất trong số các quốc gia Đông Nam Á sau khi ghi nhận mức tăng trưởng GDP ấn tượng 8% vào năm 2025.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 0,29% so với tháng 4/2026 do giá điện, nước sinh hoạt tăng cùng với nhu cầu sử dụng cao trong thời tiết nắng nóng, giá vật liệu xây dựng, nhà ở thuê, giá xăng tăng. CPI tháng 5/2026 tăng 3,61% so với tháng 12/2025 và tăng 5,6% so với cùng kỳ năm 2025.
Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 4,31% so với cùng kỳ năm ngoái, lạm phát cơ bản tăng 4,04%. Trong mức tăng 0,29% của CPI tháng 5/2026 so với tháng 4/2026 có 10 nhóm hàng tăng giá, riêng chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm.
Lạm phát cơ bản trong tháng tăng 0,34% so với tháng trước và tăng 4,67% so với cùng kỳ năm 2025. Bình quân 5 tháng đầu năm 2026, lạm phát cơ bản tăng 4,04% so với cùng kỳ năm ngoái, thấp hơn mức tăng 4,31% của CPI bình quân chung do giá xăng dầu, gas và thực phẩm biến động mạnh làm CPI chung tăng, trong khi các yếu tố này được loại trừ trong danh mục tính toán lạm phát cơ bản.
Tính đến ngày 27/5, giá vàng thế giới ở mức 4.619,18 USD/ounce, giảm 2,4% so với tháng 4/2026. Cũng trong tháng, giá vàng thế giới giảm do hoạt động chốt lời sau thời gian tăng mạnh trước đó và tâm lý thị trường ổn định hơn, làm giảm nhu cầu nắm giữ tài sản trú ẩn an toàn.
Trong nước, chỉ số giá vàng tháng 5/2026 giảm 4,11% so với tháng 4/2026, chủ yếu do giá vàng được các doanh nghiệp kinh doanh điều chỉnh giảm theo giá vàng thế giới. So với cùng kỳ năm 2025, chỉ số giá vàng tăng 33,87%; So với tháng 12/2025 tăng 6,27%. Bình quân 5 tháng đầu năm 2026, chỉ số giá vàng tăng 65,97%.
Cũng tính đến ngày 27/5, chỉ số USD trên thị trường quốc tế đạt mức 98,62 điểm, giảm nhẹ 0,01 điểm so với tháng 4/2026 do thị trường kỳ vọng Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) có thể giảm lãi suất trong thời gian tới. Trong nước, giá đô la Mỹ bình quân trên thị trường tự do quanh mức 26.375VND/USD.
Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 5/2026 tăng 0,02% so với tháng 4/2026 do nhu cầu ngoại tệ trong nước tăng; tăng 0,78% so với cùng kỳ năm ngoái; giảm 0,28% so với tháng 12/2025. Bình quân 5 tháng đầu năm 2026, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 1,99%.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành trong tháng 5/2026 ước đạt 647,1 nghìn tỷ đồng, tăng 0,5% so với tháng 4/2026 và tăng 11,8% so với cùng kỳ năm 2025.
Trong đó, một số nhóm hàng tiếp tục duy trì xu hướng tăng: Gỗ và vật liệu xây dựng tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 12,3% so với cùng kỳ năm ngoái nhờ thời tiết thuận lợi, tiến độ các công trình được đẩy nhanh và giá vật liệu tăng vào mùa cao điểm. Hàng may mặc tăng nhẹ 0,1% và tăng 7,3% do nhu cầu mua sắm trang phục hè tăng; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 0,9% và tăng 5,9% do nhu cầu mua sắm văn phòng phẩm, sách tham khảo phục vụ mùa thi và quà tặng, phần thưởng tổng kết năm học tăng cao.
Một số nhóm hàng thiết yếu có xu hướng chững lại như: Nhóm hàng xăng, dầu các loại giảm 1,4% so với tháng trước và tăng 17,1% so với cùng kỳ năm 2025 do mặt bằng giá mặc dù đã giảm nhưng vẫn cao hơn cùng kỳ năm ngoái; Hàng lương thực, thực phẩm giảm 0,9% và tăng 7,7% phản ánh sự ổn định của thị trường sau các kỳ nghỉ lễ và nguồn cung nông sản, thực phẩm vào vụ thu hoạch làm giảm áp lực tăng giá; Đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình giảm nhẹ 0,1% và tăng 7% do sức mua chững lại sau các đợt kích cầu dịp lễ, tết và làn sóng mua sắm thiết bị điện lạnh đầu mùa đã qua. Dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 4,2% so với tháng trước và tăng 15,4% so với cùng kỳ năm 2025; Du lịch lữ hành tăng 5,4% và tăng 15,4%; Các nhóm hàng dịch vụ khác tăng 1,9% và tăng 10,8%.
Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 3.185 nghìn tỷ đồng, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm ngoái nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,1% (cùng kỳ năm 2025 tăng 7,2%).
Trong tháng, cả nước có hơn 17 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký hơn 280,9 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký gần 75,9 nghìn lao động, giảm 16,5% về số doanh nghiệp, tăng 13,8% về vốn đăng ký và giảm 16,6% về số lao động so với tháng 4/2026. Nếu so với cùng kỳ năm 2025, tăng 12,5% về số doanh nghiệp, tăng 79,3% về số vốn đăng ký và giảm 22,7% về số lao động.
Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng 5/2026 đạt 16,5 tỷ đồng, tăng 36,4% so với tháng 4/2026 và tăng 59,3% so với cùng kỳ năm ngoái. Bên cạnh đó, cả nước còn có hơn 9 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 3,9% so với tháng 4/2026 và tăng 13,6% so với cùng kỳ năm 2025.
Cũng trong tháng 5/2026, có 6.746 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giảm 23,9% so với tháng 4/2026 và tăng 13,9% so với cùng kỳ năm 2025; 8.082 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 50% và tăng 23,7%; có 3.831 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 10,3% và tăng 100,7%.
Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, cả nước có hơn 94,8 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký gần 1.066,3 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký 432,8 nghìn lao động, tăng 42,1% về số doanh nghiệp, tăng 64,8% về vốn đăng ký và giảm 4,7% về số lao động so với cùng kỳ năm 2025. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong 5 tháng đầu năm 2026 đạt 11,2 tỷ đồng, tăng 16% so với cùng kỳ năm ngoái.
Bên cạnh đó, cả nước có gần 47,8 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 6,1% so với cùng kỳ năm 2025), nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong 5 tháng đầu năm 2026 lên hơn 142,6 nghìn doanh nghiệp, tăng 27,6% so với cùng kỳ năm 2025. Bình quân một tháng có 28,5 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.
Trong tháng 5/2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 99,07 tỷ USD, tăng 3,2% so với tháng 4/2026 và tăng 25,8% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 445,12 tỷ USD, tăng 25% so với cùng kỳ năm ngoái trong đó xuất khẩu tăng 19,5%; nhập khẩu tăng 30,8%.
Cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 13,8 tỷ USD.
Xuất khẩu hàng hóa:
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng đạt 46,93 tỷ USD, tăng 2,1% so với tháng 4/2026. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 9,05 tỷ USD, giảm 4,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 37,88 tỷ USD, tăng 3,6%. So với cùng kỳ năm 2025, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 5/2026 tăng 18%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 3,5%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 22%.
Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 215,66 tỷ USD, tăng 19,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 43,5 tỷ USD, tăng 2,5%, chiếm 20,2% tổng kim ngạch xuất khẩu; Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 172,16 tỷ USD, tăng 24,7%, chiếm 79,8%.
Trong 5 tháng đầu năm 2026 có 26 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 90,7% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 7 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 69,3%).
Nhập khẩu hàng hóa:
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng đạt 52,14 tỷ USD, tăng 4,3% so với tháng 4/2026. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 13,17 tỷ USD, giảm 10,8%; Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 38,97 tỷ USD, tăng 10,7%. So với cùng kỳ năm 2025, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 5/2026 tăng 33,8%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 22,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 38,2%.
Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 229,46 tỷ USD, tăng 30,8% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 64,26 tỷ USD, tăng 22,7%; Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 165,2 tỷ USD, tăng 34,3%.
Trong 5 tháng đầu năm 2026 có 36 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 91,2% tổng kim ngạch nhập khẩu (có 6 mặt hàng nhập khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 60,7%).
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trong tháng ước tính tăng 3,3% so với tháng 4/2026 và tăng 8,8% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, chỉ số IIP tăng 9,1% so với cùng kỳ năm ngoái và là mức tăng cao nhất của 5 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước trong 4 năm gần đây.
Chỉ số IIP tháng 5/2026 ước tăng 3,3% so với tháng 4/2026 và tăng 8,8% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 9% so với cùng kỳ năm ngoái; Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,7%; Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 8,5%; Ngành khai khoáng tăng 6%.
Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, IIP ước tăng 9,1% so với cùng kỳ năm 2025 (cùng kỳ tăng 8,8%). Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 9,5% (cùng kỳ tăng 10,9%), đóng góp 7,4 điểm phần trăm trong mức tăng chung; Ngành khai khoáng tăng 5,5% (cùng kỳ giảm 4,1%), đóng góp 0,9 điểm phần trăm; Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 7,6% (cùng kỳ tăng 4,2%), đóng góp 0,7 điểm phần trăm; Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,5% (cùng kỳ tăng 10,8%), đóng góp 0,1 điểm phần trăm.
Chỉ số sản xuất công nghiệp 5 tháng đầu năm 2026 của một số ngành trọng điểm cấp II tăng so với cùng kỳ năm 2025: Sản xuất kim loại tăng 20,2%; Sản xuất xe có động cơ tăng 18%; Sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 16,9%; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 16,2%; Sản xuất đồ uống tăng 15,1%; Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 11,6%; Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 11,2%; Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 10,9%; Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 10,7%; Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 9,6%; Dệt tăng 9,3%; Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 7,5%. Ở chiều ngược lại, chỉ số IIP của một số ngành giảm so với cùng kỳ năm 2025: Khai thác than cứng và than non giảm 4,6%; Sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 1%.
Chỉ số IIP 5 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm ngoái tăng ở cả 34 địa phương. Một số địa phương có chỉ số IIP đạt mức tăng khá nhờ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao. Ở chiều ngược lại, một số địa phương có chỉ số IIP tăng thấp do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành khai khoáng và ngành sản xuất, phân phối điện tăng thấp hoặc giảm.
Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong 5 tháng đầu năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm 2025: Xe máy tăng 36%; Ô tô tăng 26,7%; Thủy hải sản chế biến tăng 21,6%; Thép cán tăng 21,5%; Đường kính và bia cùng tăng 14,4%; Sơn hóa học tăng 14,3%. Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm ngoái: Phân hỗn hợp NPK giảm 6,8%; Bột ngọt giảm 6%; Giày, dép da giảm 5,7%; Than (than sạch) giảm 4,7%.
Thu ngân sách Nhà nước 5 tháng đầu năm 2026 ước tăng 15,3%, chi ngân sách Nhà nước ước tăng 3,1% so với cùng kỳ năm 2025 nhằm đảm bảo các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước, thanh toán các khoản nợ đến hạn cũng như chi trả kịp thời cho các đối tượng theo quy định.
Thu ngân sách Nhà nước:
Tổng thu ngân sách Nhà nước tháng 5/2026 ước đạt gần 215 nghìn tỷ đồng. Lũy kế tổng thu ngân sách Nhà nước 5 tháng đầu năm 2026 đạt 1.339,7 nghìn tỷ đồng, bằng 53% dự toán năm và tăng 15,3% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, một số khoản thu chính như sau:
- Thu nội địa trong tháng ước đạt 173,8 nghìn tỷ đồng. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.165,9 nghìn tỷ đồng, bằng 53% dự toán năm và tăng 15,6% so với cùng kỳ năm 2025.
- Thu từ dầu thô trong tháng ước đạt 5,6 nghìn tỷ đồng. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 23,4 nghìn tỷ đồng, bằng 54,5% dự toán năm và tăng 9,1% so với cùng kỳ năm ngoái.
- Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu trong tháng ước đạt gần 35,4 nghìn tỷ đồng. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 149,6 nghìn tỷ đồng, bằng 53,8% dự toán năm và tăng 14% so với cùng kỳ năm 2025 do hoạt động xuất, nhập khẩu trong 5 tháng đầu năm 2026 vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực, các mặt hàng nhập khẩu chính tăng so với cùng kỳ năm 2025 đã tác động làm tăng thu ngân sách Nhà nước.
Chi ngân sách Nhà nước:
Tổng chi ngân sách Nhà nước tháng 5/2026 ước đạt 184,8 nghìn tỷ đồng. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 843,7 nghìn tỷ đồng, bằng 26,7% dự toán năm và tăng 3,1% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, chi thường xuyên 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 586 nghìn tỷ đồng, bằng 32,4% dự toán năm và tăng 0,1% so với cùng kỳ năm ngoái; chi đầu tư phát triển đạt 206,2 nghìn tỷ đồng, bằng 18,4% và tăng 11,8%; chi trả nợ lãi 50,4 nghìn tỷ đồng, bằng 41,6% và tăng 7,8%.
Hoạt động vận tải tháng 5/2026 tiếp tục sôi động, đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân trong nước cũng như khách quốc tế đến Việt Nam, phục vụ sản xuất và xuất nhập khẩu hàng hóa. So với cùng kỳ năm 2025, vận tải hành khách trong tháng tăng 17,8% về vận chuyển và tăng 13,9% về luân chuyển; Vận tải hàng hóa tăng 13,8% về vận chuyển và tăng 15,7% về luân chuyển. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, vận chuyển hành khách tăng 19% và luân chuyển tăng 12,7% so với cùng kỳ năm ngoái; Vận chuyển hàng hóa tăng 13,9% và luân chuyển tăng 12,5%.
Vận tải hành khách trong tháng ước đạt 598,6 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 1,4% so với tháng 4/2026 và luân chuyển 28,5 tỷ lượt khách/km, tăng 1,5%. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, vận tải hành khách ước đạt 2.781,7 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 19% so với cùng kỳ năm 2025 và luân chuyển đạt 141,4 tỷ lượt khách/km, tăng 12,7%. Trong đó, vận tải trong nước ước đạt 2.772,9 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 19,1% so với cùng kỳ năm ngoái và 113,4 tỷ lượt khách/km luân chuyển, tăng 13,6%; vận tải ngoài nước ước đạt 8,8 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 9,6% và 280 tỷ lượt khách/km luân chuyển, tăng 9,2%.
Vận tải hàng hóa trong tháng ước đạt 275,8 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 1,6% so với tháng 4/2026 và luân chuyển 58,5 tỷ tấn/km, tăng 4,1%. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, vận tải hàng hóa ước đạt 1.355,9 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 13,9% so với cùng kỳ năm 2025 và luân chuyển 269,6 tỷ tấn/km, tăng 12,5%. Trong đó, vận tải trong nước ước đạt 1.331,1 triệu tấn vận chuyển, tăng 13,8% và 156,8 tỷ tấn/km luân chuyển, tăng 14,6%; vận tải ngoài nước ước đạt 24,8 triệu tấn vận chuyển, tăng 16,3% và 112,8 tỷ tấn/km luân chuyển, tăng 9,8%.
Môi trường chính trị - xã hội ổn định, an toàn, chính sách thị thực ngày càng thông thoáng, hoạt động xúc tiến, quảng bá được chuyên nghiệp hóa cùng với chất lượng dịch vụ không ngừng được cải thiện là những tiền đề quan trọng để thu hút khách quốc tế đến Việt Nam.
Trong tháng 5/2026, khách quốc tế đến nước ta ước đạt 1,78 triệu lượt người, tăng 16,5% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, khách quốc tế đến Việt Nam đạt 10,6 triệu lượt người, tăng 14,9% so với cùng kỳ năm ngoái và là mức cao nhất của 5 tháng đầu các năm từ trước đến nay.
Trong đó, khách đến bằng đường hàng không đạt 8,7 triệu lượt người, chiếm 82,3% lượng khách quốc tế đến và tăng 11% so với cùng kỳ năm 2025; Bằng đường bộ đạt 1,7 triệu lượt người, chiếm 15,8% và tăng 40,8%; Bằng đường biển đạt 202,4 nghìn lượt người, chiếm 1,9% và tăng 15,4%.
Vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước trong tháng 5/2026 được các Bộ, ngành và địa phương tập trung đẩy mạnh thực hiện, tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế của cả năm 2026.
Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước trong tháng ước đạt gần 65 nghìn tỷ đồng, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm 2025 bao gồm: Vốn Trung ương quản lý đạt gần 10,2 nghìn tỷ đồng, tăng 17,4%; Vốn địa phương quản lý đạt 54,8 nghìn tỷ đồng, tăng 8,9%. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt 254,1 nghìn tỷ đồng, bằng 24% kế hoạch năm và tăng 11,2% so với cùng kỳ năm ngoái (cùng kỳ bằng 22,5% và tăng 21,1%).
Trong số 58 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2026, Singapore là nhà đầu tư lớn nhất với 6,8 tỷ USD, chiếm 45,9% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hàn Quốc 4,22 tỷ USD, chiếm 28,4%; Trung Quốc 1,79 tỷ USD, chiếm 12,1%; Nhật Bản 712,6 triệu USD, chiếm 4,8%; Đặc khu hành chính Hồng Kông (TQ) 397,3 triệu USD, chiếm 2,7%; Hà Lan 380,3 triệu USD, chiếm 2,6%.
Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và điều chỉnh) đạt 794,6 triệu USD, gấp 2,5 lần so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó: Xây dựng đạt 178,8 triệu USD, chiếm 22,5% tổng vốn đầu tư; Sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 163,8 triệu USD, chiếm 20,6%; vận tải kho bãi đạt 150,5 triệu USD, chiếm 18,9%.
Trong 5 tháng đầu năm 2026, có 33 quốc gia và vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam, trong đó: Lào là nước dẫn đầu với 199,5 triệu USD, chiếm 25,1% tổng vốn đầu tư; Kyrgyzstan 149,9 triệu USD, chiếm 18,9%; Anh 82,8 triệu USD, chiếm 10,4%; Kazakhstan 36 triệu USD, chiếm 4,5%; Campuchia 32,9 triệu USD, chiếm 4,1%; Mỹ 31,9 triệu USD, chiếm 4%; Quần đảo Virgin thuộc Anh 30,1 triệu USD, chiếm 3,8%.
7 địa phương dẫn đầu về thu hút vốn FDI đăng ký cấp mới là Thái Nguyên, Nghệ An, Tây Ninh, TP.HCM, Hải Phòng, Đồng Nai và Bắc Ninh.