Bức tranh kinh tế quý 2 năm 2026 qua các con số

0:00 / 0:00
0:00
kinh-te-thang-6-nam-2026.jpg

Trong 6 tháng đầu năm 2026, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường cũng như thiên tai, biến đổi khí hậu, cùng những thách thức về an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh mạng... ngày càng gia tăng khiến tăng trưởng kinh tế toàn cầu có xu hướng suy giảm.

Trong bối cảnh đó, nhiều tổ chức quốc tế điều chỉnh giảm tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2026 so với dự báo đưa ra trước đó. Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Liên hợp quốc (UN), Fitch Ratings (FR) cùng điều chỉnh tăng trưởng kinh tế toàn cầu giảm 0,2 điểm phần trăm; Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), Ngân hàng Thế giới (WB) điều chỉnh giảm 0,1 điểm phần trăm.

Đối với khu vực Đông Nam Á, các tổ chức quốc tế đưa ra những đánh giá khác nhau về tăng trưởng kinh tế năm 2026 của từng nước song đều cho rằng tăng trưởng của Việt Nam cao nhất khu vực. Theo đó, tăng trưởng năm 2026 của Việt Nam được dự báo trong khoảng từ 6,5 - 7,2%.

gdp.jpg
gdp-cua-viet-nam-quy-2-nam-2026.jpg

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý II/2026 đạt mức tăng trưởng khá, với tốc độ tăng ước đạt 8,39% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,06%, đóng góp 5,65% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,51%, đóng góp 50,07%; Khu vực dịch vụ tăng 7,87%, đóng góp 44,28%.

GDP 6 tháng đầu năm 2026 tăng 8,18% so với cùng kỳ năm ngoái (cùng kỳ tăng 7,63%). Trong mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,87%, đóng góp 5,66%; Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,81%, đóng góp 47,20%; Khu vực dịch vụ tăng 8,09%, đóng góp 47,14%.

Về cơ cấu nền kinh tế 6 tháng đầu năm 2026, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 10,61%; Khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,66%; Khu vực dịch vụ chiếm 43,52%; Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,21% (cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2025 là 11,28%; 36,82%; 43,59%; 8,31%).

Về sử dụng GDP 6 tháng đầu năm 2026, tiêu dùng cuối cùng tăng 8,15% so với cùng kỳ năm 2025; tích lũy tài sản tăng 15,2%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 20,18%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 26,44%.

chi-so-gia-tieu-dung.jpg
chi-so-cpi-cua-viet-nam-thang-6-nam-2026.jpg

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6 giảm 0,39% so với tháng 5/2026, chủ yếu do giá xăng dầu giảm theo giá nhiên liệu thế giới. CPI tháng 6/2026 tăng 3,21% so với tháng 12/2025 và tăng 4,69% so với cùng kỳ năm 2025.

CPI bình quân quý II/2026 tăng 5,25% so với quý II/2025. Bình quân 6 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 4,38% so với cùng kỳ năm ngoái; lạm phát cơ bản tăng 4,12%. CPI trong tháng giảm 0,39% so với tháng trước, trong đó có 4 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm và 7 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng.

CPI bình quân quý II/2026 tăng 5,25% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó chỉ số giá tất cả các nhóm tiêu dùng chính đều tăng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,04%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 7,77%; giao thông tăng với 9,57%; giáo dục tăng 3,38%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,27%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,98%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,17%.

Lạm phát cơ bản tháng 6/2026 tăng 0,14% so với tháng 5/2026 và tăng 4,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Bình quân 6 tháng đầu năm 2026, lạm phát cơ bản tăng 4,12% so với cùng kỳ năm 2025, thấp hơn mức tăng 4,38% của CPI bình quân chung, chủ yếu là do giá xăng dầu, gas và thực phẩm biến động mạnh làm CPI chung tăng nhưng thuộc nhóm hàng được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.

Bình quân giá vàng thế giới tính đến ngày 25/6 ở mức 4.284 USD/ounce, giảm 7,05% so với tháng 5/2026. Giá vàng thế giới giảm chủ yếu do đồng đô la Mỹ tăng giá, kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (FED) tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt và nhu cầu nắm giữ tài sản trú ẩn an toàn suy giảm. Trong nước, chỉ số giá vàng tháng 6/2026 giảm 8,46% so với tháng 5/2026; tăng 24,11% so với cùng kỳ năm 2025; giảm 2,72% so với tháng 12/2025; bình quân quý II/2026 tăng 36,84% so với cùng kỳ năm ngoái; bình quân 6 tháng đầu năm 2026 tăng 58,12% so với cùng kỳ năm 2025.

Chỉ số giá đô la Mỹ trên thị trường quốc tế bình quân tính đến ngày 25/6 đạt mức 100,05 điểm, tăng 1,42 điểm so với tháng 5/2026 do thị trường kỳ vọng FED tiếp tục duy trì chính sách thắt chặt tiền tệ, trong bối cảnh kinh tế Hoa Kỳ duy trì tăng trưởng và lãi suất ở mức cao, qua đó làm tăng nhu cầu nắm giữ đồng USD. Trong nước, chỉ số giá đô la Mỹ tháng 6/2026 tăng 0,11% so với tháng 5/2026; tăng 0,57% so với cùng kỳ năm 2025; giảm 0,17% so với tháng 12/2025. Bình quân quý II/2026 tăng 0,93% so với cùng kỳ năm ngoái; bình quân 6 tháng đầu năm 2026 tăng 1,75%.

hoat-dong-dich-vu.jpg
tong-muc-ban-le-hang-hoa-va-doanh-thu-dich-vu-tieu-dung-trong-thang-6-nam-2026.jpg

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành tháng 6/ 2026 ước đạt 665,6 nghìn tỷ đồng, tăng 1,1% so với tháng 5/2026 và tăng 14,8% so với cùng kỳ năm 2025.

tong-muc-ban-le-hang-hoa-va-doanh-thu-dich-vu-tieu-dung-trong-6-thang-dau-nam-2026.jpg

Trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa một số nhóm hàng tiếp tục duy trì xu hướng tăng: Ô tô các loại tăng 2% so với tháng 5/2026 và tăng 0,7% so với cùng năm ngoái; Gỗ và vật liệu xây dựng tăng 1,4% và tăng 17,1%; Đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 0,8% và tăng 11,9%; Vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 0,6% và tăng 13,1%; Hàng may mặc tăng 0,4% và tăng 11,7%. Một số nhóm hàng thiết yếu có xu hướng chững lại so với tháng 5/2026 như: Doanh thu nhóm hàng đá quý, kim loại quý và sản phẩm giảm 0,6% so với tháng trước và tăng 16,4% so với cùng kỳ năm 2025; nhóm hàng lương thực, thực phẩm tương đương với tháng trước và tăng 11,3%. Dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 2,4% so với tháng trước và tăng 19,7% so với cùng kỳ năm ngoái; du lịch lữ hành tăng 1,7% và tăng 24,9%; các nhóm hàng hóa dịch vụ khác tăng 3,8% và tăng 17,9%.

Trong quý II/2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 1.977,6 nghìn tỷ đồng, tăng 3,4% so với quý I/2026 và tăng 13,9% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 3.889,5 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm 2025 nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7,3% (năm 2025 tăng 7,4%).

hoat-dong-doanh-nghiep.jpg
tinh-hinh-thanh-lap-doanh-nghiep-trong-6-thang-dau-nam-2026.jpg

Trong tháng, cả nước có hơn 16,8 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký hơn 286,3 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký là 82,5 nghìn lao động, giảm 1,1% về số doanh nghiệp, tăng 1,9% về vốn đăng ký và tăng 8,8% về số lao động so với tháng 5/2026. So với cùng kỳ năm 2025, giảm 31% về số doanh nghiệp, tăng 62% về số vốn đăng ký và giảm 39,8% về số lao động.

Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng đạt 17 tỷ đồng, tăng 3% so với tháng 5/2026 và tăng 134,8% so với cùng kỳ năm ngoái. Bên cạnh đó, cả nước còn có 13,6 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 49,5% so với tháng trước và giảm 5,4% so với cùng kỳ năm 2025.

Cũng trong tháng, có 7.245 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 7,4% so với tháng trước và tăng 12,6% so với cùng kỳ năm 2025; 9.989 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 23,6% và giảm 0,7%; có 4.959 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 29,4% và tăng 79,6%.

Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, cả nước có gần 111,7 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký hơn 1.352,6 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký gần 515,3 nghìn lao động, tăng 22,5% về số doanh nghiệp, tăng 64,8% về vốn đăng ký và giảm 12,8% về số lao động so với cùng kỳ năm 2025. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong 6 tháng đầu năm 2026 đạt 12,1 tỷ đồng, tăng 34,5% so với cùng kỳ năm 2025.

Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 6 tháng đầu năm 2026 đạt gần 3,1 triệu tỷ đồng, tăng 11,3% so với cùng kỳ năm ngoái. Bên cạnh đó, cả nước có hơn 58,1 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (giảm 5,5% so với cùng kỳ), nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong 6 tháng đầu năm 2026 lên hơn 169,8 nghìn doanh nghiệp, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm 2025. Bình quân một tháng có 28,3 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.

Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là 85,9 nghìn doanh nghiệp, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm ngoái; gần 41,2 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 21%; gần 24 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 94,7%. Bình quân một tháng có 25,2 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.

xuat-nhap-khau.jpg
cac-thi-truong-xuat-khau-nhap-khau-lon-nhat-cua-viet-nam-trong-6-thang-dau-nam-2026.jpg

Trong tháng 6/2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 104,22 tỷ USD, tăng 5,2% so với tháng 5/2026 và tăng 36,3% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 549,69 tỷ USD, tăng 27,1% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó xuất khẩu tăng 21%; nhập khẩu tăng 33,4%.

Tốc độ tăng nhập khẩu cao hơn xuất khẩu cho thấy nhu cầu đầu vào của nền kinh tế tiếp tục mở rộng, đồng thời phản ánh sự phục hồi mạnh của hoạt động sản xuất, đặc biệt tại khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 16,65 tỷ USD.

Xuất khẩu hàng hóa:

kinh-ngach-xuat-khau-mot-so-mat-hang-quy-2-nam-2026.jpg

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng đạt 50,79 tỷ USD, tăng 8,2% so với tháng 5/2026. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 10,01 tỷ USD, tăng 10,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 40,78 tỷ USD, tăng 7,7%. So với cùng kỳ năm 2025, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 6/2026 tăng 28,1%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 15%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 31,8%.

Trong quý II/2026, kim ngạch xuất khẩu đạt 143,6 tỷ USD, tăng 22,7% so với cùng kỳ năm ngoái và tăng 16,8% so với quý I/2026. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 266,52 tỷ USD, tăng 21% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 53,51 tỷ USD, tăng 4,6%, chiếm 20,1% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 213,01 tỷ USD, tăng 26%, chiếm 79,9%.

Trong 6 tháng đầu năm 2026 có 29 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 92,1% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 5 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 62,6%).

Nhập khẩu hàng hóa:

kim-ngach-nhap-khau-mot-so-mat-hang-quy-2-nam-2026.jpg

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng đạt 53,43 tỷ USD, tăng 2,5% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 14,19 tỷ USD, tăng 7,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 39,24 tỷ USD, tăng 0,7%. So với cùng kỳ năm 2025, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 6/2026 tăng 45,2%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 32,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 50,4%.

Trong quý II/2026, kim ngạch nhập khẩu đạt 156,6 tỷ USD, tăng 39,1% so với cùng kỳ năm ngoái và tăng 23,7% so với quý I/2026. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 283,17 tỷ USD, tăng 33,4% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 78,46 tỷ USD, tăng 24,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 204,71 tỷ USD, tăng 37,3%.

Trong 6 tháng đầu năm 2026 có 38 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 92,1% tổng kim ngạch nhập khẩu (có 2 mặt hàng nhập khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 51%).

chi-so-sx-cong-nghiep.jpg
chi-so-san-xuat-cong-nghiep-cua-viet-nam-trong-quy-2-nam-2026.jpg

Chỉ số sản xuất công nghiệp quý II/2026 ước tăng 11,2% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,3%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 12,4%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 10,3% và ngành khai khoáng tăng 7%.

mot-so-san-pham-cong-nghiep-tang-cao-trong-quy-2-nam-2026.jpg

Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, IIP ước tăng 10,8% so với cùng kỳ năm ngoái (cùng kỳ tăng 8,7%). Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 11,4% (cùng kỳ tăng 10,5%), đóng góp 8,9 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,6% (cùng kỳ tăng 4,1%), đóng góp 0,9 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,9% (cùng kỳ tăng 10,7%), đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 5,8% (cùng kỳ giảm 3,5%), đóng góp 0,9 điểm phần trăm.

mot-so-san-pham-cong-nghiep-giam-trong-quy-2-nam-2026.jpg

Chỉ số IIP 6 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm 2025 tăng ở cả 34 địa phương. Một số địa phương có chỉ số IIP đạt mức tăng khá cao do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao. Ở chiều ngược lại, một số địa phương có chỉ số IIP tăng thấp do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành khai khoáng và ngành sản xuất, phân phối điện tăng thấp hoặc giảm.

thu-chi-ngan-sach.jpg

Công tác quản lý thu ngân sách nhà nước trong 6 tháng đầu năm 2026 tiếp tục được chú trọng, các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí được triển khai để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người dân trong hoạt động sản xuất kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời tăng cường công tác quản lý thu, đôn đốc thu nộp kịp thời các khoản thu phát sinh vào ngân sách Nhà nước.

Thu ngân sách Nhà nước:

thu-ngan-sach-nha-nuoc-6-thang-dau-nam-2026.jpg

Tổng thu ngân sách Nhà nước tháng 6/2026 ước đạt 205 nghìn tỷ đồng. Lũy kế tổng thu ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.568,2 nghìn tỷ đồng, bằng 62% dự toán năm và tăng 17,4% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, một số khoản thu chính như sau:

- Thu nội địa trong tháng ước đạt 167,1 nghìn tỷ đồng. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.352,7 nghìn tỷ đồng, bằng 61,5% dự toán năm, chiếm 86,3% tổng thu ngân sách Nhà nước và tăng 16,5% so với cùng kỳ năm ngoái.

- Thu từ dầu thô trong tháng ước đạt 6,4 nghìn tỷ đồng. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt gần 31,1 nghìn tỷ đồng, bằng 72,4% dự toán năm, chiếm 2% tổng thu ngân sách Nhà nước và tăng 26,1% so với cùng kỳ năm 2025;

- Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu trong tháng ước đạt 31,4 nghìn tỷ đồng. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 183,6 nghìn tỷ đồng, bằng 66% dự toán năm, chiếm 11,7% tổng thu ngân sách Nhà nước và tăng 22,9% so với cùng kỳ năm ngoái.

Chi ngân sách Nhà nước:

chi-ngan-sach-nha-nuoc-6-thang-dau-nam-2026.jpg

Chi ngân sách Nhà nước trong 6 tháng đầu năm 2026 thực hiện chủ trương tiết kiệm chi thường xuyên nhưng vẫn đáp ứng đầy đủ công tác chăm lo cho các đối tượng hưởng lương, lương hưu và trợ cấp xã hội từ ngân sách Nhà nước, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội.

Tổng chi ngân sách Nhà nước tháng 6/2026 ước đạt 292,3 nghìn tỷ đồng. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.149,1 nghìn tỷ đồng, bằng 36,4% dự toán năm và tăng 0,1% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó: Chi thường xuyên đạt 730 nghìn tỷ đồng, bằng 40,4% dự toán năm, chiếm 63,5% tổng chi ngân sách Nhà nước và giảm 5,9% so với cùng kỳ năm ngoái; Chi đầu tư phát triển đạt 357,1 nghìn tỷ đồng, bằng 31,9%, chiếm 31,1% và tăng 13,9%; Chi trả nợ lãi 60,2 nghìn tỷ đồng, bằng 49,97%, chiếm 5,2% và tăng 8,1%.

van-tai-hanh-khach.jpg
tinh-hinh-van-tai-hang-hoa-trong-quy-2-nam-2026.jpg

Vận tải hành khách trong tháng ước đạt 618,9 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 3% so với tháng 5/2026, tăng 17,4% so với cùng kỳ năm 2025; luân chuyển 29,4 tỷ lượt khách/km, tăng 3,5% và 10%; quý II/2026 ước đạt 1.810,2 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 23,2% so với cùng kỳ năm ngoái và luân chuyển đạt 86 tỷ lượt khách/km, tăng 12,6%.

Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, vận tải hành khách ước đạt 3.403,1 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 18,8% so với cùng kỳ năm 2025 và luân chuyển đạt 170,7 tỷ lượt khách/km, tăng 12,2%. Trong đó, vận tải trong nước ước đạt 3.393,2 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 18,9% so với cùng kỳ năm ngoái và 139,8 tỷ lượt khách/km luân chuyển, tăng 15%; vận tải ngoài nước ước đạt 9,9 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 3,1% và 30,9 tỷ lượt khách/km luân chuyển, tăng 1,1%.

Vận tải hàng hóa trong tháng ước đạt 272,1 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 1,8% so với tháng 5/2026, tăng 13,2% so với cùng kỳ năm 2025; luân chuyển 55,7 tỷ tấn/km, tăng 2,2% và tăng 6%. Quý II năm 2026 ước đạt 810,6 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm ngoái và luân chuyển 166,3 tỷ tấn/km, tăng 9,9%.

Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, vận tải hàng hóa ước đạt 1.619,4 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 13,2% so với cùng kỳ năm 2025 và luân chuyển 321,2 tỷ tấn/km, tăng 10%. Trong đó, vận tải trong nước ước đạt 1.591,2 triệu tấn vận chuyển, tăng 13,2% và 187,8 tỷ tấn/km luân chuyển, tăng 12,6%; vận tải ngoài nước ước đạt 28,1 triệu tấn vận chuyển, tăng 12,2% và 133,4 tỷ tấn/km luân chuyển, tăng 6,4%.

khach-quoc-te-den-vn.jpg
khach-quoc-te-den-viet-nam-trong-thang-6-nam-2026-phan-theo-phuong-tien-den.jpg
khach-quoc-te-den-viet-nam-thang-6-nam-2026-phan-theo-vi-tri-dia-ly.jpg

Trong tháng 6/2026, khách quốc tế đến nước ta ước đạt 1,68 triệu lượt người, giảm 5,7% so với tháng 5/2026, tăng 14,7% so với cùng kỳ năm 2025. Quý II/2026 ước đạt 5,49 triệu lượt khách, giảm 18,8% so với quý I/2026 và tăng 18,2% so với cùng kỳ năm ngoái. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, khách quốc tế đến Việt Nam đạt 12,3 triệu lượt người, tăng 14,9% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, khách đến bằng đường hàng không đạt 10,1 triệu lượt người, chiếm 82,6% lượng khách quốc tế đến và tăng 11,4% so với cùng kỳ năm 2025; bằng đường bộ đạt 1,9 triệu lượt người, chiếm 15,7% và tăng 37,5%; bằng đường biển đạt 209 nghìn lượt người, chiếm 1,7% và tăng 15,2%.

khach-quoc-te-den-viet-nam-trong-quy-2-nam-2026-phan-theo-phuong-tien-den.jpg
khach-quoc-te-den-viet-nam-quy-2-nam-2026-phan-theo-vi-tri-dia-ly.jpg

Số lượt người Việt Nam xuất cảnh trong quý II/2026 ước đạt 1,5 triệu lượt người, tăng 7,1% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, số người Việt Nam xuất cảnh đạt 2,7 triệu lượt người, giảm 33,9% so với cùng kỳ năm ngoái.

von-fdi.jpg
quoc-gia-va-vung-lanh-tho-co-du-an-duoc-cap-phep-moi-tai-viet-nam-trong-6-thjang-nam-2026.jpg

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội quý II/2026 theo giá hiện hành ước đạt 1.059,5 nghìn tỷ đồng, tăng 14,1% so với cùng kỳ năm 2025 bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước ước đạt 301,6 nghìn tỷ đồng, tăng 13,2%; khu vực ngoài Nhà nước đạt 566,9 nghìn tỷ đồng, tăng 14,3%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 191 nghìn tỷ đồng, tăng 14,8%.

Ước tính 6 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành ước đạt 1.807,8 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm ngoái bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 508,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 28,1% tổng vốn và tăng 12,5% so với cùng kỳ năm 2025; khu vực ngoài Nhà nước đạt 973,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 53,8% và tăng 12,8%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 326,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 18,1% và tăng 13,5%.

Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 30/6 bao gồm: Vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 34,65 tỷ USD, tăng 61% so với cùng kỳ năm 2025.

Trong số 63 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2026, Singapore là nhà đầu tư lớn nhất với 7,31 tỷ USD, chiếm 42,1% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hàn Quốc 5,45 tỷ USD, chiếm 31,4%; Nhật Bản 1,2 tỷ USD, chiếm 6,9%; Trung Quốc 977 triệu USD, chiếm 5,6%; Đặc khu hành chính Hồng Kông (TQ) 665,6 triệu USD, chiếm 3,8%; Hà Lan 420,4 triệu USD, chiếm 2,4%.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 13,03 tỷ USD, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm 2025. Đây là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của 6 tháng đầu năm trong 5 năm qua. Trong đó: Công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 10,76 tỷ USD, chiếm 82,6% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 965,2 triệu USD, chiếm 7,4%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 479,2 triệu USD, chiếm 3,7%.

dia-phuong-thu-hut-von-fdi-dang-ky-cap-moi-trong-6-thang-nam-2026.jpg

7 địa phương dẫn đầu về thu hút vốn FDI đăng ký cấp mới là Thái Nguyên, Nghệ An, Hải Phòng, TP.HCM, Bắc Ninh, Đồng Nai và Hưng Yên.

Xem thêm

Có thể bạn quan tâm

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng và các đại biểu ấn nút khởi công các dự án

Hà Nội khởi công 5 tuyến metro với tổng vốn hơn 1,3 triệu tỷ đồng

5 tuyến đường sắt mới khởi công nằm trong quy hoạch phát triển mạng lưới 18 tuyến đường sắt đô thị với tổng chiều dài khoảng 979 km, đóng vai trò hệ thống hạ tầng khung giữ vai trò dẫn dắt phát triển không gian đô thị, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao chất lượng sống của người dân...