Chính phủ “kê toa” 3 trụ cột phát triển doanh nghiệp tư nhân

Với phạm vi điều chỉnh rộng và thiết kế chính sách chi tiết, Nghị định 20 tác động trực tiếp đến “lõi” hoạt động của doanh nghiệp tư nhân, đây được xem là bước chuyển quan trọng từ chủ trương sang cơ chế thực thi cụ thể...

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 20/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị quyết số 198/2025/QH15 của Quốc hội về các cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân. Với kết cấu gồm 6 chương, 17 điều, Nghị định 20 được xem là bước triển khai cụ thể, có tính hệ thống nhằm hiện thực hóa chủ trương coi kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế, đồng thời tháo gỡ những “điểm nghẽn thể chế” tồn tại trong quá trình phát triển khu vực này.

Khác với các chính sách hỗ trợ mang tính đơn lẻ trước đây, Nghị định 20 tiếp cận theo hướng tổng thể, đồng bộ, tập trung vào ba trụ cột lớn gồm hỗ trợ tiếp cận đất đai và mặt bằng sản xuất - kinh doanh, ưu đãi thuế nhằm khuyến khích khởi nghiệp và mở rộng khu vực doanh nghiệp chính quy, cùng với các chính sách thúc đẩy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển nguồn nhân lực. Đây là những yếu tố then chốt quyết định năng lực cạnh tranh và khả năng phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong giai đoạn tới.

THÁO GỠ ĐIỂM NGHẼN ĐẤT ĐAI

Một trong những nội dung trọng tâm của Nghị định 20 là cải thiện khả năng tiếp cận đất đai và mặt bằng sản xuất - kinh doanh cho doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp công nghệ cao và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Theo Điều 4 của Nghị định, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm công khai trên cổng thông tin điện tử các nguyên tắc, tiêu chí, định mức và nội dung hỗ trợ đầu tư kết cấu hạ tầng tại khu công nghiệp, cụm công nghiệp và vườn ươm công nghệ, đồng thời công bố rõ diện tích quỹ đất dành riêng cho các nhóm doanh nghiệp ưu tiên thuê hoặc thuê lại.

Quy định này mang ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao tính minh bạch và giảm chi phí tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp. Thay vì phụ thuộc vào các kênh không chính thức, doanh nghiệp có thể chủ động tìm hiểu quỹ đất, điều kiện thuê và chính sách hỗ trợ, từ đó xây dựng kế hoạch đầu tư dài hạn một cách bài bản hơn. Về phía Nhà nước, việc công khai thông tin cũng góp phần hạn chế cơ chế “xin - cho”, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ đất công.

Song song với đó, Nghị định 20 làm rõ trách nhiệm của chủ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp và vườn ươm công nghệ. Theo quy định, phần vốn và kinh phí Nhà nước hỗ trợ đầu tư hạ tầng không được tính vào tổng mức đầu tư của dự án, qua đó ngăn chặn tình trạng đội vốn hoặc chuyển chi phí hỗ trợ thành gánh nặng cho doanh nghiệp thuê đất. Chủ đầu tư đồng thời phải chịu trách nhiệm quản lý, duy tu, bảo dưỡng công trình sau khi nghiệm thu và bàn giao, bảo đảm hạ tầng được khai thác hiệu quả và bền vững trong suốt vòng đời dự án.

Đáng chú ý, Nghị định cũng thiết kế cơ chế linh hoạt đối với các khu công nghiệp đầu tư theo từng giai đoạn. Trong trường hợp sau 24 tháng kể từ khi hoàn thành hạ tầng của một giai đoạn mà không có doanh nghiệp thuộc diện ưu tiên thuê hoặc thuê lại, chủ đầu tư được phép cho các doanh nghiệp khác thuê theo quy định. Cách tiếp cận này giúp tránh lãng phí quỹ đất, đồng thời tăng khả năng lấp đầy khu công nghiệp trong bối cảnh nhu cầu đầu tư có sự khác biệt giữa các địa phương và từng thời kỳ.

Liên quan trực tiếp đến chi phí đầu vào của doanh nghiệp, Điều 5 Nghị định 20 quy định cơ chế giảm và hoàn trả tiền thuê đất tại khu công nghiệp, cụm công nghiệp và vườn ươm công nghệ. Theo đó, doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo được giảm tối thiểu 30% tiền thuê đất trong 5 năm đầu. Phần tiền thuê đã giảm này sẽ được Nhà nước hoàn trả cho chủ đầu tư hạ tầng thông qua hình thức bù trừ nghĩa vụ tài chính hoặc hoàn trả trực tiếp từ ngân sách nhà nước, căn cứ theo tỷ lệ phân chia tiền thuê đất giữa ngân sách trung ương và địa phương.

Cơ chế này vừa giúp doanh nghiệp giảm đáng kể chi phí thuê đất trong giai đoạn đầu hoạt động, vừa bảo đảm quyền lợi tài chính của chủ đầu tư hạ tầng, qua đó duy trì động lực đầu tư phát triển khu công nghiệp. Đồng thời, Nghị định cũng đặt ra các điều kiện chặt chẽ nhằm kiểm soát rủi ro chính sách. Trường hợp doanh nghiệp vi phạm dẫn đến chấm dứt dự án, bị thu hồi đất hoặc chuyển nhượng cho đối tượng không thuộc diện hỗ trợ, doanh nghiệp phải hoàn trả toàn bộ số tiền đã được hỗ trợ cùng với tiền chậm nộp theo quy định.

Bên cạnh đất trong khu công nghiệp, Điều 6 của Nghị định 20 mở rộng phạm vi hỗ trợ sang việc thuê nhà, đất là tài sản công. Doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ và doanh nghiệp đổi mới sáng tạo có thể thuê tài sản công thông qua các tổ chức quản lý, khai thác tài sản công của địa phương, với các hình thức như niêm yết giá công khai, giảm tiền thuê hoặc miễn tiền thuê theo quy định pháp luật.

Theo đánh giá của Vietcap, Nghị định 20 có tác động hỗ trợ ở mức vừa phải đối với nhu cầu thuê đất khu công nghiệp, thông qua việc cải thiện khả năng tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất - kinh doanh và hỗ trợ chi phí cho các nhóm khách thuê đủ điều kiện, bao gồm doanh nghiệp công nghệ cao thuộc khu vực kinh tế tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.

ĐÒN BẨY TỪ ƯU ĐÃI THUẾ

Trụ cột thứ hai của Nghị định 20 tập trung vào các chính sách ưu đãi thuế nhằm khuyến khích khởi nghiệp sáng tạo và mở rộng khu vực kinh tế tư nhân. Theo Điều 7, các công ty quản lý quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo và tổ chức trung gian hỗ trợ khởi nghiệp được hưởng chính sách miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với thu nhập từ hoạt động đổi mới sáng tạo theo thời hạn quy định tại Nghị quyết 198. Bên cạnh đó, doanh nghiệp có thu nhập từ chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp hoặc quyền góp vốn vào doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo cũng được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khoản thu nhập này, trừ các trường hợp bị loại trừ theo quy định pháp luật.

Đây là cơ chế có ý nghĩa đặc biệt trong việc thúc đẩy dòng vốn mạo hiểm và vốn đầu tư tư nhân vào hệ sinh thái khởi nghiệp. Việc giảm nghĩa vụ thuế giúp cải thiện tỷ suất sinh lời kỳ vọng, từ đó khuyến khích các nhà đầu tư tham gia sâu hơn vào các dự án đổi mới sáng tạo vốn tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Siết quản lý giao dịch cá nhân và doanh thu "xé nhỏ": Hộ kinh doanh không còn khoảng trống lách luật

Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa đăng ký kinh doanh lần đầu, Nghị định 20 quy định miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm đầu kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Chính sách này không áp dụng đối với các trường hợp thành lập doanh nghiệp do chia, tách, sáp nhập hoặc chuyển đổi hình thức, nhằm bảo đảm ưu đãi đúng đối tượng.

Trong bối cảnh Việt Nam vẫn còn số lượng lớn hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh hoạt động ngoài khu vực doanh nghiệp chính quy, ưu đãi thuế này được đánh giá là giải pháp quan trọng thúc đẩy quá trình “chính thức hóa” hoạt động kinh doanh, qua đó mở rộng cơ sở thuế và thị trường lao động chính thức trong trung và dài hạn.

Nghị định cũng cho phép doanh nghiệp đồng thời đủ điều kiện hưởng nhiều ưu đãi thuế được lựa chọn chính sách có lợi nhất và áp dụng ổn định trong suốt thời gian miễn, giảm. Đối với kỳ tính thuế đầu tiên chưa đủ 12 tháng, Nghị định hướng dẫn cụ thể cách xác định thời điểm hưởng ưu đãi, giúp doanh nghiệp tránh rủi ro áp dụng sai chính sách.

Ở góc độ cá nhân, Điều 8 Nghị định 20 quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân có thu nhập từ chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp vào doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Đồng thời, các chuyên gia và nhà khoa học làm việc tại doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, trung tâm nghiên cứu và phát triển hoặc tổ chức trung gian hỗ trợ đổi mới sáng tạo được miễn thuế trong 2 năm đầu và giảm 50% số thuế phải nộp trong 4 năm tiếp theo. Đây là chính sách có tác động trực tiếp đến việc thu hút và giữ chân nguồn nhân lực chất lượng cao cho khu vực kinh tế tư nhân, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ và đổi mới sáng tạo.

THÚC ĐẨY ĐỔI MỚI SÁNG TẠO, CHUYỂN ĐỔI SỐ

Trụ cột thứ ba của Nghị định 20 hướng tới việc nâng cao năng lực nội tại của doanh nghiệp thông qua khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và đào tạo nhân lực. Theo Điều 9, doanh nghiệp được trích tối đa 20% thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp để lập Quỹ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Cơ chế này tạo điều kiện cho doanh nghiệp hình thành nguồn lực tài chính dài hạn phục vụ đầu tư nghiên cứu - phát triển, giảm sự phụ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài.

Đáng chú ý, các khoản chi cho đào tạo, đào tạo lại lao động, cũng như chi phí nghiên cứu và phát triển, được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế với mức gấp hai lần chi phí thực tế. Việc cho phép khấu trừ 200% chi phí R&D và đào tạo được xem là một trong những ưu đãi mạnh mẽ nhất, tạo động lực để doanh nghiệp gia tăng đầu tư vào đổi mới công nghệ và phát triển nguồn nhân lực.

Trong lĩnh vực chuyển đổi số, Điều 10 Nghị định 20 quy định Nhà nước cung cấp miễn phí nền tảng số và phần mềm kế toán tích hợp hóa đơn điện tử, chữ ký số cho doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh. Bộ Tài chính chịu trách nhiệm tổ chức thuê, mua sắm và vận hành hệ thống này, bảo đảm công khai, minh bạch và an toàn dữ liệu. Chính sách này giúp giảm đáng kể chi phí phần mềm và chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp nhỏ, đồng thời hỗ trợ nâng cao chất lượng quản trị tài chính và minh bạch hóa hoạt động kinh doanh.

Cùng với đó, Điều 11 quy định ngân sách nhà nước hỗ trợ 100% chi phí các khóa đào tạo về quản trị doanh nghiệp, kế toán, thuế và nhân sự cho doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh. Thông qua các chương trình đào tạo này, các chủ thể kinh doanh được trang bị kiến thức và kỹ năng quản trị hiện đại, qua đó nâng cao khả năng ứng dụng chính sách hỗ trợ và phát triển hoạt động sản xuất - kinh doanh một cách bền vững.

Nghị định 20/2026/NĐ-CP đã thiết lập một khung chính sách tương đối toàn diện, kết hợp giữa hỗ trợ nguồn lực, ưu đãi tài chính và cải thiện môi trường thể chế cho khu vực kinh tế tư nhân. Việc công khai quỹ đất và cơ chế hỗ trợ giúp nâng cao hiệu quả phân bổ tài nguyên, trong khi các ưu đãi thuế mở rộng không gian tài chính cho cả doanh nghiệp và cá nhân đầu tư. Đồng thời, các chính sách về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và đào tạo nhân lực tạo nền tảng cho nâng cao năng lực cạnh tranh dài hạn của doanh nghiệp tư nhân.

Tuy nhiên, mức độ và thời điểm tác động của Nghị định 20 sẽ phụ thuộc lớn vào cách thức triển khai tại từng địa phương, cũng như sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước. Nếu được thực thi nghiêm túc, đồng bộ và minh bạch, Nghị định không chỉ góp phần tháo gỡ những rào cản lâu nay đối với khu vực kinh tế tư nhân, mà còn tạo động lực mới cho tăng trưởng kinh tế, mở rộng thị trường lao động chính thức và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.

Có thể bạn quan tâm