Giá nông sản hôm nay (19/10): Giá cà phê dao động trong khoảng 92.100 - 93.000 đồng/kg, hồ tiêu neo cao

Bản tin cập nhật những thông tin đáng chú ý trên thị trường nông sản; giá cả các mặt hàng chủ lực như thịt lợn, lúa gạo, cà phê, hồ tiêu…

0:00 / 0:00
0:00
Giá nông sản hôm nay (19/10): Giá cà phê dao động trong khoảng 92.100 - 93.000 đồng/kg, hồ tiêu neo cao

Ngày 19/10, giá các mặt hàng nông sản chủ lực có xu hướng biến động không đáng kể tại thị trường trong nước.

GIÁ GẠO ỔN ĐỊNH

Giá lúa gạo hôm nay (19/10) tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ổn định, giao dịch mua bán ít. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động ở mức 8.700 - 8.800 đồng/kg; giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 8.700 - 8.750 đồng/kg. Trong khi đó, giá lúa tươi OM 18 dao động ở mốc 5.900 - 6.100 đồng/kg; lúa tươi OM 5451 dao động mốc 5.900 - 6.000 đồng/kg.

ngay-22-gia-gao-trong-nuoc-va-gao-xuat-khau-cua-viet-nam-khong-bien-dong.jpg
Giá lúa tươi hôm nay tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long biến động nhẹ

Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 hôm nay dao động ở mức 8.700 - 8.800 đồng/kg; giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 8.700 - 8.750 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 5451 dao động ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.

Với phụ phẩm, giá các mặt hàng phụ phẩm dao động khoảng từ 7.300 - 8.600 đồng/kg. Hiện tấm thơm 3 - 4 dao động ở mức 8.500 - 8.600 đồng/kg; giá cám dao động ở mức 7.300 - 7.650 đồng/kg.

Tại các chợ lẻ giá gạo bình giá so với cuối tuần. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 17.000 - 18.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo Đài thơm dao động 15.000 - 16.000 đồng/kg; giá gạo thường dao động ở mốc 14.000 - 15.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg; gạo OM 18 dao động ở mốc 15.500 - 16.500 đồng/kg.

Phân khúc nếp đi ngang so với hôm qua. Cụ thể, giá nếp 3 tháng khô 9.600 - 9.700 đồng/kg; giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg.

Với mặt hàng lúa, giá lúa tươi OM 18 hôm nay dao động ở mốc 5.900 - 6.100 đồng/kg; lúa tươi OM 5451 dao động mốc 5.900 - 6.000 đồng/kg; lúa tươi IR 50404 dao động ở mức 5.800 - 6.000 đồng/kg; lúa tươi OM 34 dao động mốc 5.700 - 5.800 đồng/kg; lúa tươi Đài Thơm 8 dao động ở mốc 6.100 - 6.200 đồng/kg.

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu Việt Nam đi ngang với hôm qua. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm dao động trong khoảng 440 - 445 USD/tấn; gạo Jasmine được chào bán ở mức 526 - 530 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm dao động từ 368 - 372 USD/tấn.

Tại Thái Lan, giá gạo trắng 5% tấm của nước này tiếp tục duy trì mức cao nhất trong số các nước xuất khẩu hàng đầu, khoảng 477 - 481 USD/tấn.

Giá gạo trắng 5% tấm của Pakistan cũng không biến động, dao động trong khoảng 419 - 423 USD/tấn.

Tại Ấn Độ, giá gạo trắng 5% tấm của được chào bán ở mức 375 - 379 USD/tấn; gạo đồ 5% tấm đạt 377 - 381 USD/tấn.

GIÁ CÀ PHÊ ÍT BIẾN ĐỘNG

Giá cà phê trong nước hôm nay ghi nhận mặt bằng giá tương đối ổn định so với tuần trước, dù một số địa phương có mức điều chỉnh giảm nhẹ.

Theo khảo sát tại các vùng sản xuất trọng điểm Tây Nguyên, giá cà phê nhân xô hiện dao động trong khoảng 92.100 - 93.000 đồng/kg. Cụ thể, tại Đắk Nông (Lâm Đồng), giá cà phê tiếp tục duy trì ở mức 93.000 đồng/kg, không thay đổi so với tuần trước. Đây cũng là địa phương có mức giá thu mua cao nhất trong các khu vực được khảo sát.

Tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cà phê cùng giảm 200 đồng/kg so với tuần trước, hiện được thu mua ở mức 92.800 đồng/kg. Trong khi đó, Lâm Đồng ghi nhận mức giảm 100 đồng/kg, xuống còn 92.100 đồng/kg.

Như vậy, giá cà phê trong nước chỉ giảm nhẹ 100 - 200 đồng/kg tại một số địa phương, trong khi mức cao nhất vẫn giữ vững ngưỡng 93.000 đồng/kg. Đáng chú ý, so với mặt bằng giá 92.200 - 93.000 đồng/kg của tuần trước, biên độ giao dịch hiện nay không có nhiều thay đổi.

Diễn biến này cho thấy thị trường cà phê nội địa đang duy trì trạng thái tương đối ổn định, bất chấp những biến động mạnh trên các sàn giao dịch quốc tế.

Trên thị trường thế giới, giá cà phê trên 2 sàn giao dịch chính trong tuần qua diễn biến trái chiều. Cụ thể, trên sàn London, giá cà phê Robusta giao tháng 11/2026 đóng cửa tuần ở mức 3.414 USD/tấn, giảm 56 USD/tấn, tương đương 1,6% so với tuần trước. Hợp đồng giao tháng 1/2027 giảm 49 USD/tấn, tương đương 1,4%, xuống còn 3.405 USD/tấn.

Trái ngược với Robusta, giá cà phê Arabica trên sàn New York tăng mạnh trong tuần qua. Cụ thể, hợp đồng arabica giao tháng 12/2026 tăng 18,7 US cent/pound, tương đương 6,5%, lên mức 305,6 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 3/2027 tăng 14,7 US cent/pound, tương đương 5,3%, đạt 294,5 US cent/pound.

GIÁ TIÊU ĐI NGANG

Giá tiêu trong nước hôm nay ổn định sau phiên điều chỉnh giảm 500 đồng/kg trước đó. Theo khảo sát tại các vùng trồng tiêu trọng điểm, giá thu mua hiện dao động trong khoảng 137.500 - 140.000 đồng/kg, không thay đổi so với hôm qua.

Cụ thể, tại Đắk Nông (Lâm Đồng), giá tiêu được thu mua ở mức 140.000 đồng/kg. Đây là địa phương có mức giá cao nhất trong các khu vực được khảo sát, đồng thời là nơi duy nhất duy trì được ngưỡng 140.000 đồng/kg.

45775309164-fcce521f07-b.jpg
Giá tiêu dao động trong khoảng 137.500 - 140.000 đồng/kg

Tại Đắk Lắk, giá tiêu giữ ổn định ở mức 139.000 đồng/kg, thấp hơn Đắk Nông 1.000 đồng/kg. Ở khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (nay thuộc TP HCM), giá hồ tiêu tiếp tục giao dịch ở mức 138.000 đồng/kg.

Trong khi đó, Gia Lai và Bình Phước (Đồng Nai) cùng duy trì mức thu mua 137.500 đồng/kg, thấp nhất trong nhóm địa phương được khảo sát. Đáng chú ý, thị trường chưa ghi nhận thêm những điều chỉnh mới sau phiên giảm đồng loạt 500 đồng/kg ngày 18/10.

Việc thị trường đi ngang trong phiên mới nhất cho thấy hoạt động thu mua đang có dấu hiệu ổn định trở lại sau nhịp điều chỉnh. Dù vậy, khả năng giá tiêu phục hồi mạnh trong ngắn hạn vẫn cần thêm những tín hiệu tích cực từ nhu cầu xuất khẩu và hoạt động giao dịch quốc tế.

Trên thị trường thế giới, giá hồ tiêu tại các quốc gia sản xuất lớn cũng duy trì trạng thái tương đối ổn định.

Theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, giá tiêu đen Indonesia hiện ở mức 6.769 USD/tấn, không thay đổi so với phiên trước.

Tại Malaysia, giá tiêu đen ASTA tiếp tục duy trì mức 9.100 USD/tấn. Giá tiêu đen ASTA 570 của Brazil giữ ổn định ở mức 5.800 USD/tấn.

Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l được chào bán ở mức 5.950 USD/tấn, còn loại 550 g/l đạt 5.995 USD/tấn.

Ở phân khúc tiêu trắng, giá tiêu trắng Muntok Indonesia duy trì mức 9.268 USD/tấn. Giá tiêu trắng ASTA của Malaysia đạt 12.000 USD/tấn, trong khi tiêu trắng Việt Nam tiếp tục được chào bán ở mức 8.450 USD/tấn.

GIÁ CAO SU ỔN ĐỊNH

Tại thị trường trong nước, các doanh nghiệp cao su tiếp tục duy trì giá thu mua mủ nguyên liệu. Cụ thể, tại Công ty Bình Long, giá cao su thu mua tại Nhà máy ở mức 540 đồng/độ TSC/kg và giá thu mua tại đội sản xuất 530 đồng/TSC/kg; giá mủ tạp (DRC 60%) bình ổn 18.000 đồng/kg.

Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước ghi nhận khoảng 458 - 463 đồng/TSC (loại 2 - loại 1), mủ đông tạp khoảng 404 - 459 đồng/DRC (loại 2 - loại 1).

xuat-khau-cao-su-trien-vong-tu-cac-thi-truong-lon.jpg
Giá cao su tại các doanh nghiệp lớn tại thị trường trong nước bình ổn

Công ty Phú Riềng, chào giá thu mua mủ tạp bình ổn ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.

Công ty Cao su Bà Rịa cũng báo giá thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 14.600 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.

Kết thúc phiên giao dịch, giá cao su RSS3 trên sàn TOCOM (Tokyo) - Nhật Bản tiếp tục biến động không đồng nhất tại các kỳ hạn. Cụ thể, hợp đồng tháng 11/2026 giảm 4,80 Yên/kg (-1,07%), xuống mức 448 Yên/kg; hợp đồng tháng 12 đi ngang ở mức 442.20 Yên/kg.

Tại Thái Lan, giá chào xuất khẩu cao su RSS3 (FOB Laem Chabang) tăng 0,08 Baht (0,08%) lên mức 96,73 Baht/kg.

Trên Sàn Giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải (SHFE) - Trung Quốc, giá cao su tự nhiên đồng loạt giảm nhẹ tại các kỳ hạn giao hàng. Hợp đồng tháng 11 giảm 15 Nhân dân tệ/tấn (-0,08%), xuống mức 19.890 Nhân dân tệ/tấn; hợp đồng tháng 1/2027 giảm 15 Nhân dân tệ/tấn (-0,08%), về mức 19.880 Nhân dân tệ/tấn.

Trên Sàn Giao dịch SGX - Singapore, hợp đồng TSR20 kỳ hạn tháng 11 ở mức 255,90 Cent/kg, tăng 0,47%. Hợp đồng kỳ hạn tháng 12 ở mức 253,20 Cent/kg, tăng 0,24%.

Giá cao su thế giới được dự báo duy trì xu hướng đi lên trong những năm tới khi nguồn cung chịu sức ép từ thời tiết và diện tích trồng thu hẹp. Theo báo cáo của VCBS, trong quý III/2026, giá cao su duy trì trên 2.200 USD/tấn, có thời điểm tiến sát 2.600 USD/tấn vào cuối tháng 9, mức cao nhất kể từ năm 2013.

VCBS nhận định, tình trạng thiếu hụt mang tính cơ cấu, cùng nhu cầu tăng trưởng, sẽ là động lực chính của giá. Mức thiếu hụt nguồn cung lũy kế có thể lên khoảng 2 triệu tấn; giai đoạn 2027 - 2030, giá được dự báo tiến tới 3.000 - 3.300 USD/tấn vào năm 2030. Tuy nhiên, triển vọng này vẫn đối mặt rủi ro từ địa chính trị, biến động giá dầu và khả năng suy thoái kinh tế toàn cầu, có thể làm giảm nhu cầu tiêu thụ cao su.

GIÁ THỊT LỢN TRẦM LẮNG

Tại miền Bắc, giá lợn hơi vừa khép lại một tuần giao dịch với xu hướng giảm chiếm ưu thế tại nhiều địa phương.

Theo khảo sát, giá thu mua heo hơi trong khu vực giảm từ 1.000 - 2.000 đồng/kg so với cuối tuần trước, đưa mặt bằng giao dịch xuống còn 51.000 - 52.000 đồng/kg.

Hiện mức giá cao nhất khu vực chỉ còn 52.000 đồng/kg, được ghi nhận tại 10 tỉnh, thành phố gồm Cao Bằng, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Phòng, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La và Hưng Yên.

Giá lợn hơi tại nhiều địa phương chạm mốc 50.000 đồng/kg

Giá lợn hơi tại nhiều địa phương chạm mốc 50.000 đồng/kg

Trong khi đó, nhóm địa phương có giá thu mua thấp nhất khu vực đã mở rộng lên 5 tỉnh gồm Tuyên Quang, Lạng Sơn, Ninh Bình, Phú Thọ và Lào Cai, cùng giao dịch ở mức 51.000 đồng/kg.

Tại miền Trung - Tây Nguyên, giá lợn hơi hôm nay cũng trải qua một tuần điều chỉnh đáng chú ý. Theo khảo sát, giá lợn hơi tại khu vực này giảm từ 1.000 - 3.000 đồng/kg so với cuối tuần trước, đưa mặt bằng giao dịch xuống còn 50.000 - 53.000 đồng/kg.

Hiện miền Trung - Tây Nguyên có 4 địa phương cùng giao dịch ở mức 50.000 đồng/kg, gồm Đà Nẵng, Gia Lai, Đắk Lắk và Khánh Hòa. Đây cũng là nhóm địa phương có giá heo hơi thấp nhất cả nước.

Trong khi đó, Lâm Đồng tiếp tục duy trì mức giá cao nhất khu vực, đạt 53.000 đồng/kg. Các địa phương còn lại gồm Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Huế và Quảng Ngãi cùng giao dịch ở mức 51.000 đồng/kg.

Tại miền Nam, giá lợn hơi cũng ghi nhận xu hướng tương tự khi giá thu mua giảm từ 1.000 - 3.000 đồng/kg trong tuần qua. Theo khảo sát mới nhất, giá lợn hơi tại các tỉnh, thành phố phía Nam hiện dao động trong khoảng 50.000 - 53.000 đồng/kg.

Trong đó, Đồng Nai, Tây Ninh và TP.HCM tiếp tục là ba địa phương có giá thu mua cao nhất khu vực, cùng đạt 53.000 đồng/kg. Ở chiều ngược lại, Vĩnh Long giảm xuống còn 50.000 đồng/kg, trở thành địa phương có giá thấp nhất miền Nam.

Các địa phương còn lại gồm Đồng Tháp, An Giang, Cà Mau và Cần Thơ cùng duy trì mức 51.000 đồng/kg.

Trong tuần qua, giá heo hơi tại Đồng Nai, Tây Ninh và TP Hồ Chí Minh đã giảm xuống dưới mốc 54.000 đồng/kg, khiến mức giá này không còn xuất hiện tại thị trường phía Nam.

Cùng với đó, việc Vĩnh Long giảm về 50.000 đồng/kg đã đưa vùng giá thấp nhất cả nước mở rộng sang miền Nam.

Theo khảo sát từ trang winmart.vn giá thịt lợn ghi nhận giữ giá ổn định, niêm yết trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg. Cụ thể, thịt lợn xay là sản phẩm có giá bán thấp nhất, duy trì mức 102.322 đồng/kg. Tiếp đó là các sản phẩm thịt nạc đùi, nạc vai lợn và chân giò rút xương, với giá bán lần lượt là 122.320 đồng/kg, 126.320 đồng/kg và 127.922 đồng/kg.

Như vậy, giá thịt lợn tại WinMart hiện dao động trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg và được giảm giá 20% theo chương trình ưu đãi dành cho hội viên của WinMart.

Xem thêm

Có thể bạn quan tâm

Chuỗi siêu thị mini và cuộc chiến "vết dầu lan"

Chuỗi siêu thị mini và cuộc chiến "vết dầu lan"

Xu hướng bán lẻ quy mô nhỏ mở rộng tại Việt Nam, cạnh tranh giữa mô hình truyền thống và hiện đại, đòi hỏi doanh nghiệp phải có chiến lược tối ưu về vị trí và vận hành để thu hút người tiêu dùng, cải thiện thị phần...

Quy chuẩn trạm sạc mới mở màn cuộc đua hạ tầng xe điện

Quy chuẩn trạm sạc mới mở màn cuộc đua hạ tầng xe điện

Quy chuẩn trạm sạc xe điện mới sẽ đặt lại “luật chơi” của thị trường hạ tầng, khi cuộc đua giữa các doanh nghiệp không chỉ nằm ở số lượng điểm sạc mà ngày càng phụ thuộc vào độ phủ, khả năng liên thông, an toàn và chất lượng vận hành...