Giá nông sản hôm nay (27/4): Giá cà phê tăng mạnh, hồ tiêu biến động nhẹ

Bản tin cập nhật những thông tin đáng chú ý trên thị trường nông sản; giá cả các mặt hàng chủ lực như thịt lợn, lúa gạo, cà phê, hồ tiêu…

Ngày 27/4, giá các mặt hàng nông sản chủ lực có xu hướng biến động không đáng kể tại thị trường trong nước.

GIÁ GẠO

Giá gạo hôm nay tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ít biến động, trong khi đó, một số loại gạo nguyên liệu xuất khẩu tăng nhẹ. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 tăng 100 đồng/kg dao động ở mức 8.100 - 8.200 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 tăng 50 đồng/kg dao động ở mức 8.150 - 8.250 đồng/kg…

Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 hôm nay tăng 100 đồng/kg dao động ở mức 8.100 - 8.200 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 tăng 50 đồng/kg dao động ở mức 8.150 - 8.250 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 8.000 - 8.050 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.700 - 8.900 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 5451 ở mức 8.650 - 8.750 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo thành phẩm IR 504 tăng 300 đồng/kg dao động ở 10.750 - 10.090 đồng/kg.

Tại các chợ lẻ, giá gạo đi ngang. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 14.000 - 15.000 đồng/kg, gạo thường dao động ở mốc 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.

Tương tự với mặt hàng lúa, giá lúa tươi OM 18 hôm nay dao động ở mốc 6.000 - 6.200; lúa Đài Thơm 8 (tươi) dao động ở mốc 6.000 - 6.100; lúa OM 5451 (tươi) dao động mốc 5.800 - 5.900 đồng/kg; lúa IR 50404 (tươi) dao động ở mức 5.500 - 5.600 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.100 - 5.200 đồng/kg

Tại các địa phương hôm nay, giao dịch khởi sắc, giá ít biến động. Tại An Giang, Cần Thơ, nguồn lúa Đông Xuân thu hoạch rộ, nguồn nhiều, giá chững, thương lái chốt mua mới ít. Tại Tây Ninh, nguồn chưa thu hoạch còn lượng khá, nông dân chào giá cao hơn. Tại Cà Mau, Đồng Tháp, Tây Ninh, Vĩnh Long, giao dịch mua bán ít, giá ít biến động.

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu Việt Nam hiện duy trì ở nhiều mức khác nhau. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm đang được chào bán trong khoảng 490 - 500 USD/tấn; gạo 100% tấm dao động từ 334 - 338 USD/tấn; gạo Jasmine dao động ở mức 465 - 469 USD/tấn.

Trên thị trường thế giới, giá gạo tăng nhẹ. Cụ thể, tại Thái Lan, gạo 5% tấm dao động 386 - 390 USD/tấn, tăng 4 USD/tấn; gạo 100% tấm đạt 364 - 368 USD/tấn, tăng 5 USD/tấn.

Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm ở mức 342 - 346 USD/tấn, tăng 2 USD/tấn; gạo 100% tấm chào bán 283 - 287 USD/tấn.

GIÁ CÀ PHÊ

Tại khu vực Tây Nguyên, vùng sản xuất cà phê trọng điểm của Việt Nam, giá thu mua trong tuần qua đã tăng mạnh từ 2.800 - 3.000 đồng/kg so với tuần trước, tương ứng mức tăng khoảng 3,3 - 3,6%.

Cụ thể, Đắk Nông cũ (Lâm Đông) tăng 2.800 đồng/kg, đưa giá cà phê lên 88.000 đồng/kg. Tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cùng tăng mạnh 3.000 đồng/kg, cũng đạt mốc 88.000 đồng/kg. Trong khi đó, Lâm Đồng ghi nhận mức tăng tương tự 3.000 đồng/kg, nhưng vẫn là địa phương có giá thấp hơn, khoảng 87.500 đồng/kg.

Dù giá tăng khá mạnh nhưng theo các thương nhân, thị trường nội địa lại không sôi động như kỳ vọng. Giao dịch thực tế diễn ra chậm khi nhiều nông dân hạn chế bán ra, còn doanh nghiệp cũng chưa đẩy mạnh thu mua.

Trên thị trường quốc tế, giá cà phê tuần qua tăng ấn tượng. Cụ thể, trên sàn London, giá cà phê Robusta kỳ hạn tháng 7/2026 đóng cửa ở mức 3.483 USD/tấn, tăng 6,7% (tương đương 220 USD/tấn) so với tuần trước. Hợp đồng tháng 9/2026 cũng tăng 6,5%, đạt 3.403 USD/tấn.

Trên sàn New York, giá cà phê Arabica cũng đi lên. Hợp đồng kỳ hạn tháng 7/2026 tăng 3,7%, lên 294,9 US cent/pound, trong khi hợp đồng cùng kỳ tăng 4,5%, đạt 285,1 US cent/pound.

GIÁ TIÊU

Thị trường hồ tiêu trong tuần qua ghi nhận diễn biến không đồng nhất giữa các địa phương sản xuất lớn. Trong khi một số khu vực giữ được đà tăng nhẹ thì nơi khác lại điều chỉnh giảm, cho thấy trạng thái giằng co của thị trường sau giai đoạn thu hoạch chính.

Khảo sát cuối tuần cho thấy, giá tiêu tại các vùng sản xuất trọng điểm hiện dao động trong khoảng 138.000 - 142.000 đồng/kg, với diễn biến tăng - giảm đan xen.

Cụ thể, Đắk Lắk là điểm sáng khi giá tiêu tăng thêm 1.000 đồng/kg so với tuần trước, lên mức 142.000 đồng/kg. Trái ngược, Gia Lai lại ghi nhận mức giảm mạnh nhất, mất 1.500 đồng/kg, đưa giá xuống còn 138.000 đồng/kg. Sự điều chỉnh này được cho là do áp lực bán ra cục bộ trong bối cảnh một số hộ dân cần giải phóng hàng tồn.

Tại các địa phương khác, thị trường giữ trạng thái ổn định. Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) duy trì mức 141.000 đồng/kg, trong khi Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. HCM) và Đồng Nai cùng giao dịch quanh mốc 140.000 đồng/kg.

Trên thị trường quốc tế, giá hồ tiêu trong tuần qua biến động đáng kể, ngoại trừ xu hướng giảm nhẹ tại Indonesia.

Theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, giá tiêu đen Indonesia chốt tuần ở mức 7.007 USD/tấn, giảm khoảng 0,51% so với tuần trước. Trong khi đó, các thị trường lớn khác gần như đi ngang. Tiêu đen Brazil loại ASTA 570 tiếp tục giữ mức 6.000 USD/tấn, còn tiêu đen Malaysia ổn định ở 9.300 USD/tấn.

Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu không thay đổi, dao động trong khoảng 6.100 - 6.200 USD/tấn đối với các loại 500 g/l và 550 g/l cho thấy thị trường xuất khẩu vẫn giữ được sự ổn định nhất định.

Ở phân khúc tiêu trắng, giá tiêu Muntok của Indonesia giảm nhẹ xuống còn 9.231 USD/tấn. Trong khi đó, giá tiêu trắng tại Việt Nam và Malaysia tiếp tục đi ngang, lần lượt ở mức 9.000 USD/tấn và 12.200 USD/tấn.

GIÁ CAO SU

Tại thị trường nội địa, giá cao su tại các doanh nghiệp lớn bình ổn. Cụ thể, tại Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước trong khoảng 458 - 463 đồng/TSC (loại 2 - loại 1), mủ đông tạp khoảng 404 - 459 đồng/DRC (loại 2 - loại 1).

Công ty Cao su Bà Rịa cũng báo giá thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 14.600 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.

Công ty Phú Riềng, chào giá thu mua mủ tạp bình ổn ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.

Công ty Bình Long, giá cao su thu mua bình ổn tại nhà máy ở mức 432 đồng/độ TSC/kg; giá thu mua tại đội sản xuất 422 đồng/TSC/kg; giá mủ tạp bình ổn (DRC 60%) 14.000 đồng/kg.

Kết thúc phiên giao dịch, giá cao su thế giới trái chiều giữa các kỳ hạn giao hàng. Theo đó, giá cao su RSS3 trên sàn Tocom - Tokyo biến động lệch chiều tại các kỳ hạn giao hàng. Cụ thể, hợp đồng giao tháng 5/2026 giảm 0.90 Yên/kg (- 0,22%), xuống mức 388.10 Yên/kg; hợp đồng tháng 7/2026 tăng 1.20 Yên/kg (+ 0,31%), lên mức 390.10 Yên/kg.

Trên sàn SHFE (Thượng Hải), giá cao su tự nhiên giảm đều tại các kỳ hạn. Cụ thể, hợp đồng tháng 5/2026 giảm 235 Nhân dân tệ/tấn (- 1,35%), về mức 16.985 Nhân dân tệ/tấn; kỳ hạn tháng 6/2026 giảm 270 Nhân dân tệ/tấn (- 1,55%), xuống mức 17.025 Nhân dân tệ/tấn.

Thị trường cao su châu Á ghi nhận nhịp điều chỉnh đáng chú ý khi lực cầu từ Trung Quốc, động lực chính của thị trường bất ngờ chững lại trước kỳ nghỉ lễ dài ngày. Theo Reuters, các nhà máy tại Trung Quốc đã cơ bản hoàn tất tích trữ nguyên liệu cho kỳ nghỉ Quốc tế Lao động (1 - 5/5), khiến nhu cầu mua mới suy yếu rõ rệt.

Phản ứng trước diễn biến này, hợp đồng cao su giao tháng 10 trên Sàn Osaka (OSE) giảm 0,7 Yên, tương đương 0,18%, xuống còn 399 Yên/kg (khoảng 2,50 USD/kg).

Áp lực giảm giá còn đến từ phía nguồn cung. Dữ liệu từ Sàn giao dịch hàng hóa Đại Liên (DCE) cho thấy, tồn kho cao su tại Thanh Đảo, trung tâm nhập khẩu lớn của Trung Quốc đang tăng lên ở cả kho ngoại quan và nội địa. Điều này phản ánh tình trạng dư cung ngắn hạn, đặc biệt trong bối cảnh tiêu thụ tạm thời gián đoạn.

GIÁ THỊT LỢN

Khảo sát tại miền Bắc, giá lợn hơi trong tuần qua ghi nhận điều chỉnh tăng nhẹ tại Quảng Ninh và Lai Châu, cùng tăng 1.000 đồng/kg so với cuối tuần trước. Sau điều chỉnh, Quảng Ninh đạt 65.000 đồng/kg, trong khi Lai Châu lên mức 64.000 đồng/kg.

Các địa phương còn lại giữ nguyên mặt bằng giá, cho thấy xu hướng đi ngang tiếp tục chiếm ưu thế. Hiện giá lợn hơi tại miền Bắc dao động trong khoảng 64.000 – 66.000 đồng/kg.

Trong đó, Hưng Yên vẫn là địa phương có mức giá cao nhất khu vực với 66.000 đồng/kg. Các tỉnh, thành như Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hà Nội và Hải Phòng giao dịch quanh mốc 65.000 đồng/kg. Phần lớn các địa phương còn lại duy trì mức 64.000 đồng/kg.

Diễn biến này phản ánh thị trường miền Bắc đang trong giai đoạn ổn định, khi nguồn cung không có biến động lớn và sức tiêu thụ duy trì đều.

Tại Miền Trung - Tây Nguyên, giá lợn hơi cũng ghi nhận một số điểm tăng nhẹ trong tuần. Cụ thể, Thanh Hóa, Gia Lai và Khánh Hòa cùng tăng 1.000 đồng/kg, lên mức 65.000 đồng/kg. Đáng chú ý, Lâm Đồng cũng điều chỉnh tăng 1.000 đồng/kg, đạt 69.000 đồng/kg.

Dù có biến động cục bộ nhưng mặt bằng giá chung không thay đổi đáng kể, vẫn dao động trong khoảng 63.000 - 69.000 đồng/kg.

Trong đó, Hà Tĩnh tiếp tục là địa phương có mức giá thấp nhất với 63.000 đồng/kg. Nhóm tỉnh Nghệ An, Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng và Quảng Ngãi duy trì mức 64.000 đồng/kg. Đắk Lắk giữ mốc 68.000 đồng/kg, trong khi Lâm Đồng tiếp tục dẫn đầu khu vực.

Xu hướng đi ngang kéo dài cho thấy thị trường khu vực này chưa có yếu tố đủ mạnh để tạo biến động lớn, dù áp lực chi phí chăn nuôi và thời tiết vẫn hiện hữu.

Tại miền Nam, giá lợn hơi tiếp tục duy trì mặt bằng giá cao nhất cả nước, với một số địa phương ghi nhận tăng nhẹ trong tuần. Cụ thể, An Giang tăng 1.000 đồng/kg lên mức 68.000 đồng/kg, trong khi Cần Thơ tăng mạnh hơn 2.000 đồng/kg, từ 67.000 lên 69.000 đồng/kg.

Hiện tại, giá lợn hơi tại khu vực này dao động quanh 68.000 - 69.000 đồng/kg. Trong đó, An Giang và Cà Mau giao dịch ở mức 68.000 đồng/kg, còn Đồng Nai, Tây Ninh, Đồng Tháp, TP. Hồ Chí Minh, Vĩnh Long và Cần Thơ cùng neo ở mức 69.000 đồng/kg.

Theo khảo sát từ trang winmart.vn giá thịt lợn ghi nhận giữ giá ổn định, niêm yết trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg. Cụ thể, thịt lợn xay là sản phẩm có giá bán thấp nhất, duy trì mức 102.322 đồng/kg. Tiếp đó là các sản phẩm thịt nạc đùi, nạc vai lợn và chân giò rút xương, với giá bán lần lượt là 122.320 đồng/kg, 126.320 đồng/kg và 127.922 đồng/kg.

Như vậy, giá thịt lợn tại WinMart hiện dao động trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg và được giảm giá 20% theo chương trình ưu đãi dành cho hội viên của WinMart.

Có thể bạn quan tâm