Lãi suất công khai giảm mạnh, cuộc đua ngầm trả lãi 9%/năm vẫn tiếp diễn

Sau yêu cầu giảm lãi suất huy động của Ngân hàng Nhà nước, biểu lãi suất công khai tại nhiều ngân hàng đã hạ xuống dưới 7%/năm, song các chương trình ưu đãi trên kênh số và mức lãi suất chào riêng cho khách hàng lớn vẫn cao hơn đáng kể…

Sau chỉ thị ngày 18/10 của Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giảm tối thiểu 0,5 điểm phần trăm lãi suất tiền gửi kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, kèm cảnh báo cắt giảm hạn mức tín dụng đối với tổ chức không thực hiện, biểu lãi suất niêm yết tại quầy và trên website của phần lớn ngân hàng đã giảm xuống dưới 7%/năm.

Tính đến ngày 29/10, mức lãi suất công khai cao nhất được ghi nhận thuộc về Saigonbank, với 7,9%/năm cho kỳ hạn 13 tháng. Tuy nhiên, khảo sát thị trường cho thấy mức lãi suất niêm yết chưa phản ánh đầy đủ các chương trình huy động đang được triển khai.

Dù đã giảm so với vùng đỉnh 9,5–10%/năm ghi nhận trong tuần trước đó, lãi suất ưu đãi tại một số ngân hàng vẫn phổ biến quanh 8–9%/năm, cao hơn khoảng 1–3 điểm phần trăm so với mức công bố thông thường.

Các chương trình trên kênh ngân hàng số là một trong những hình thức được sử dụng để thu hút tiền gửi. Chẳng hạn, Vietcombank niêm yết lãi suất trực tuyến kỳ hạn 6–12 tháng trong khoảng 3–5,4%/năm, nhưng khách hàng gửi từ 3 triệu đồng qua ứng dụng có thể được hưởng mức lãi suất thực tế lên tới 6,8%/năm.

Tại SHB, lãi suất công bố cao nhất khoảng 6%/năm, trong khi một số khoản tiền gửi từ 1 triệu đồng qua ứng dụng được hưởng mức 8,1–8,3%/năm. Với MB, lãi suất niêm yết cho kỳ hạn 12 tháng ở mức 5,8%/năm, nhưng khách hàng gửi từ 10 triệu đồng và sử dụng mã ưu đãi “sinh nhật” có thể nhận lãi suất 8,2%/năm.

Tương tự, tại NCB, mức lãi suất tối đa 6,3%/năm trên website thấp hơn đáng kể so với mức 9%/năm được giới thiệu trên ứng dụng. Với ACB, lãi suất trực tuyến trên website tối đa là 5,4%/năm, nhưng trên ứng dụng ACB ONE, lãi suất được đẩy lên 8%/năm.

Biểu lãi suất tiết kiệm có kỳ hạn trên ứng dụng ACB ONE

Một số ngân hàng còn áp dụng lãi suất cao theo số tiền gửi và kỳ hạn. Tại PVComBank, khách hàng gửi từ 500 triệu đồng có thể nhận lãi suất 8%/năm ở các kỳ hạn 6–12 tháng; với kỳ hạn 24 tháng, mức lãi suất được giới thiệu lên tới 9,3%/năm.

Trong khi đó, Vikki Bank triển khai chương trình cộng thêm 2,7–3 điểm phần trăm lãi suất cho khách hàng gửi trực tuyến khi tải ứng dụng, nhập mã khuyến mãi và mã giới thiệu.

Sau ưu đãi, lãi suất cao nhất đạt 9%/năm với khoản tiền gửi từ 500 triệu đồng, kỳ hạn 6 tháng; khoản tiền gửi 200 triệu đồng cùng kỳ hạn được hưởng mức tối đa 8,7%/năm. Mức này đã thấp hơn so với lãi suất 9,4%/năm mà khách gửi 200 triệu đồng kỳ hạn 6 tháng có thể nhận được vào đầu tuần trước.

Không chỉ trên kênh số, hoạt động tìm kiếm khách hàng gửi tiền tại quầy cũng cho thấy khoảng cách đáng kể giữa biểu lãi suất công khai và mức được tư vấn riêng. Tại một ngân hàng tư nhân có vốn điều lệ hơn 100.000 tỷ đồng, biểu lãi suất áp dụng từ ngày 26/10 cho khoản tiền gửi 1–3 tỷ đồng là 5,75%/năm ở kỳ hạn 6 tháng và 5,95%/năm ở kỳ hạn 12 tháng.

Khách hàng có thể nhận mức lãi suất ưu đãi lên đến 8,2%/năm trên ứng dụng số MBBank

Tuy nhiên, nhân viên ngân hàng giới thiệu mức lãi suất 8,5–8,7%/năm cho khoản tiền gửi cùng quy mô, kèm ưu đãi dành cho khách hàng ưu tiên. Với khoản tiền gửi trên 3 tỷ đồng, mức lãi suất được tư vấn có thể lên tới 8,8–8,9%/năm.

Sự chênh lệch này cho thấy biểu lãi suất niêm yết chưa phản ánh toàn bộ các mức lãi suất khách hàng có thể được chào mời. Dù vậy, để so sánh chính xác, cần phân biệt điều kiện áp dụng, sản phẩm tiền gửi, chương trình ưu đãi và lãi suất thực tế mà ngân hàng chi trả, thay vì mặc nhiên coi mọi mức lãi suất quảng bá đều là lãi suất huy động phổ biến trên thị trường.

Trong báo cáo phân tích thị trường tiền gửi tháng 10/2026, Chứng khoán Phú Hưng (PHS) cũng ghi nhận khoảng cách giữa lãi suất niêm yết và các chương trình huy động đặc biệt.

Theo PHS, lãi suất tiền gửi bình quân của các giao dịch phát sinh mới ở mức 6,38%/năm tại ngày 20/9, trong khi một số chương trình huy động có lãi suất lên tới 8,9–9,8%/năm.

Diễn biến này cho thấy các ngân hàng vẫn sử dụng nhiều hình thức để thu hút nguồn vốn, ngay cả khi biểu lãi suất công khai đã điều chỉnh giảm. Vì vậy, đánh giá xu hướng lãi suất cần dựa trên cả mức niêm yết và chi phí huy động thực tế, thay vì chỉ quan sát những thay đổi trên bảng lãi suất.

Lãi suất huy động là một trong những yếu tố cấu thành chi phí vốn của ngân hàng. Nếu các tổ chức tín dụng vẫn phải trả lãi cao để thu hút tiền gửi, dư địa giảm lãi suất cho vay sẽ bị hạn chế. Điều này đặc biệt đáng chú ý trong bối cảnh nền kinh tế vẫn cần nguồn vốn với chi phí hợp lý để doanh nghiệp duy trì sản xuất, kinh doanh và mở rộng đầu tư.

Theo phân tích của Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), lãi suất huy động có thể giảm nhanh trong ngắn hạn và ổn định đến cuối năm, nhưng khó giảm sâu trong năm 2027 do chênh lệch giữa huy động vốn và tín dụng vẫn lớn.

Số liệu đến ngày 14/10 cho thấy tăng trưởng huy động vốn đạt 11,22%, thấp hơn mức tăng trưởng tín dụng 11,44%. Chênh lệch quy mô huy động và tín dụng đã thu hẹp từ mức đỉnh khoảng 2,8 triệu tỷ đồng vào giữa năm xuống còn khoảng 2,35 triệu tỷ đồng. Dù vậy, khoảng cách này vẫn tương đương mức đầu năm 2026 và gấp đôi đầu năm 2025.

Khoảng cách giữa huy động và tín dụng phản ánh áp lực cân đối nguồn vốn vẫn hiện hữu. Khi dư nợ cho vay tăng nhanh, các ngân hàng phải bảo đảm nguồn tiền gửi đủ đáp ứng nhu cầu giải ngân và duy trì các tỷ lệ an toàn. Trong bối cảnh đó, cạnh tranh huy động vốn có thể tiếp tục diễn ra ở một số phân khúc, dù lãi suất niêm yết đã giảm theo yêu cầu điều hành.

Do vậy, việc giảm lãi suất cho vay một cách bền vững không chỉ phụ thuộc vào điều chỉnh biểu lãi suất huy động công khai, mà còn gắn với khả năng kiểm soát chi phí vốn, cân đối nguồn tiền gửi và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của từng ngân hàng. Đây cũng là yếu tố quyết định mức độ chuyển hóa yêu cầu giảm lãi suất của cơ quan điều hành thành chi phí vay thực tế thấp hơn cho doanh nghiệp và người dân.

Có thể bạn quan tâm