Lãi suất tiết kiệm ngân hàng nào cao nhất tháng 8/2026?

Cuộc đua lãi suất huy động vẫn diễn ra sôi động khi nhiều ngân hàng tiếp tục tung ra mức lãi suất đặc biệt tới 10%/năm, song phần lớn chỉ áp dụng với các khoản tiền gửi rất lớn và kèm nhiều điều kiện...

Khảo sát biểu lãi suất huy động của hơn 30 ngân hàng trong đầu tháng 8/2026 cho thấy, bên cạnh mặt bằng lãi suất niêm yết phổ biến từ 4,75-7,8%/năm, nhiều nhà băng vẫn duy trì các chương trình lãi suất đặc biệt lên tới 9-10%/năm dành cho khách hàng có khoản tiền gửi rất lớn hoặc đáp ứng các điều kiện riêng.

Trong nhóm ngân hàng áp dụng lãi suất đặc biệt cao nhất thị trường, PVcomBank tiếp tục dẫn đầu với mức 10%/năm dành cho tiền gửi kỳ hạn 12-13 tháng, lĩnh lãi cuối kỳ. Tuy nhiên, mức lãi suất này chỉ áp dụng đối với khách hàng gửi tiền tại quầy với số dư từ 2.000 tỷ đồng trở lên. Trong điều kiện thông thường, lãi suất kỳ hạn 12 tháng tại PVcomBank chỉ ở mức 5,3%/năm.

Đứng ngay sau là MSB với mức lãi suất đặc biệt 9%/năm áp dụng cho các khoản tiền gửi kỳ hạn 12 hoặc 13 tháng. Điều kiện đi kèm là sổ tiết kiệm mở mới hoặc tự động gia hạn từ ngày 1/1/2018 và có số dư tối thiểu từ 500 tỷ đồng.

Tại VPBank, ngân hàng tiếp tục triển khai biểu lãi suất phân theo quy mô tiền gửi trên kênh trực tuyến. Theo đó, khách hàng gửi từ 100 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng được hưởng lãi suất từ 4,75-8,5%/năm.

Mức lãi suất tăng lên 4,75-8,6%/năm đối với khoản tiền gửi từ 300 triệu đồng đến dưới 1 tỷ đồng; 4,75-8,7%/năm với khoản tiền từ 1 tỷ đồng đến dưới 3 tỷ đồng và 4,75-8,8%/năm đối với khoản tiền từ 3 tỷ đồng đến dưới 10 tỷ đồng.

Đáng chú ý, khách hàng gửi trực tuyến từ 50 tỷ đồng trở lên có thể được hưởng lãi suất lên tới 9%/năm cho các kỳ hạn từ 6-12 tháng.

Trong khi đó, HDBank tiếp tục áp dụng mức lãi suất đặc biệt 7,2%/năm đối với kỳ hạn 12 tháng và 7,6%/năm ở kỳ hạn 13 tháng dành cho khách hàng gửi từ 500 tỷ đồng trở lên, lĩnh lãi cuối kỳ.

Ngoài các chương trình ưu đãi dành cho khách hàng có số dư lớn, Cake by VPBank vẫn duy trì chính sách cộng thêm lãi suất đối với khách hàng gửi tiền lần đầu. Theo đó, sản phẩm tiền gửi tiêu chuẩn và tiền gửi tích lũy trên ứng dụng Cake Bank được cộng thêm 1,8 điểm phần trăm cho các khoản tiền gửi từ 100.000 đồng, kỳ hạn 6-12 tháng.

Sau khi cộng ưu đãi, khách hàng gửi kỳ hạn 6 tháng có thể nhận mức lãi suất lên tới 9%/năm, trong khi các kỳ hạn từ 10-12 tháng đạt tối đa 9,2%/năm. Nếu không áp dụng chương trình ưu đãi, Cake by VPBank hiện niêm yết lãi suất thông thường 7,2%/năm cho kỳ hạn 6 tháng theo hình thức lĩnh lãi cuối kỳ.

Đối với mặt bằng lãi suất huy động thông thường, khảo sát cho thấy mức cao nhất không còn tập trung tại một ngân hàng duy nhất mà phân bổ theo từng kỳ hạn.

Ở kỳ hạn 6 tháng, lãi suất huy động trực tuyến dao động từ 4,95-7,6%/năm. ACB đang dẫn đầu với mức 7,6%/năm, tiếp theo là LPBank 7,1%/năm; Bac A Bank 7,05%/năm; MBV và VCBNeo cùng niêm yết 7%/năm. Trong khi đó, nhóm Big4 gồm Agribank, BIDV, VietinBank và Vietcombank cùng áp dụng mức 6,6%/năm, còn SeABank thấp nhất với 4,95%/năm.

Đối với kỳ hạn 9 tháng, lãi suất dao động từ 4,8-7,7%/năm. ACB tiếp tục dẫn đầu với mức 7,7%/năm, theo sau là LPBank 7,1%/năm; Bac A Bank 7,05%/năm; MBV và VCBNeo cùng đạt 7%/năm. Nhóm Big4 vẫn giữ mức 6,6%/năm, trong khi HDBank có mức thấp nhất là 4,8%/năm.

Ở kỳ hạn 12 tháng, mặt bằng lãi suất trải rộng từ 5,3-7,8%/năm. ACB tiếp tục dẫn đầu với 7,8%/năm, kế đến là LPBank 7,3%/năm, SaigonBank 7,2%/năm, Bac A Bank 7,1%/năm. Nhóm MBV, VCBNeo, PGBank và VIB cùng niêm yết 7%/năm. Trong khi đó, Agribank, BIDV, VietinBank và Vietcombank đồng loạt áp dụng mức 6,8%/năm, còn Eximbank và SeABank ở mức thấp nhất là 5,3%/năm.

Đối với kỳ hạn 18 tháng, LPBank dẫn đầu với mức 7,25%/năm, tiếp đến là SaigonBank, ACB và VCBNeo cùng ở mức 7%/năm. Bac A Bank niêm yết 6,95%/năm, Nam A Bank đạt 6,9%/năm, trong khi nhóm Big4 tiếp tục duy trì 6,8%/năm. KienlongBank là ngân hàng có mức lãi suất thấp nhất, ở mức 5,15%/năm.

Ở kỳ hạn 24 tháng, MB đang dẫn đầu thị trường với mức lãi suất 7%/năm. Theo sau là Bac A Bank với 6,95%/năm và LPBank 6,9%/năm. OCB và PGBank cùng niêm yết 6,8%/năm, trong khi phần lớn các ngân hàng còn lại áp dụng mức từ 5-6,7%/năm. Nam A Bank là ngân hàng có mức thấp nhất, chỉ 4%/năm.

Ở chiều ngược lại, SCB tiếp tục là ngân hàng có mặt bằng lãi suất huy động thấp nhất trên thị trường. Hiện lãi suất kỳ hạn 1-3 tháng chỉ ở mức 1,9%/năm, trong khi các kỳ hạn từ 12-18 tháng dao động từ 3,7-3,9%/năm.

Đáng chú ý, sau khi từng tăng mạnh lãi suất trực tuyến vào đầu tháng, BIDV đã nhanh chóng điều chỉnh trở lại mức cũ. Theo đó, lãi suất kỳ hạn 6-12 tháng giảm 0,6 điểm phần trăm xuống còn 6,6%/năm, trong khi các kỳ hạn từ 13-36 tháng giảm 0,4 điểm phần trăm về 6,8%/năm.

Sau điều chỉnh, mặt bằng lãi suất của BIDV quay trở lại ngang bằng với Agribank và VietinBank ở hầu hết các kỳ hạn, trong khi Vietcombank vẫn thấp hơn 0,5 điểm phần trăm ở kỳ hạn 24 tháng.

Khảo sát cũng cho thấy, các mức lãi suất cao nhất trên thị trường hiện chủ yếu đi kèm điều kiện về số tiền gửi, nhóm khách hàng hoặc chương trình ưu đãi riêng của từng ngân hàng. Vì vậy, người gửi tiền cần theo dõi kỹ điều kiện áp dụng trước khi lựa chọn sản phẩm tiết kiệm phù hợp.

Theo báo cáo chiến lược mới công bố của VPBankS Research, mặt bằng lãi suất năm 2026 tiếp tục duy trì ở mức cao do mất cân đối kéo dài giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn.

Trong khi nhu cầu vốn của nền kinh tế vẫn lớn, dòng tiền gửi lại có xu hướng dịch chuyển sang các tài sản phòng thủ như vàng và ngoại tệ, khiến áp lực huy động vốn của hệ thống ngân hàng ngày càng gia tăng.

Bước sang nửa cuối năm 2026, VPBankS Research cho rằng mặt bằng lãi suất nhiều khả năng tạo đỉnh và giảm dần khoảng 0,5-1 điểm phần trăm nếu kịch bản cơ sở diễn ra.

Yếu tố đầu tiên là tiến độ giải ngân đầu tư công được đẩy mạnh, qua đó bơm thêm lượng thanh khoản đáng kể trở lại hệ thống ngân hàng.

Yếu tố thứ hai là căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông được kỳ vọng hạ nhiệt, góp phần giảm áp lực lạm phát và tỷ giá, đồng thời tạo thêm dư địa cho chính sách tiền tệ linh hoạt hơn.

Yếu tố thứ ba đến từ các điều chỉnh kỹ thuật của Ngân hàng Nhà nước nhằm tháo gỡ nút thắt về cơ cấu nguồn vốn. Theo đó, Thông tư 08 cho phép tính trở lại 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn huy động.

Bên cạnh đó, Thông tư 25, ban hành ngày 22/6 và có hiệu lực từ ngày 1/7, nâng trần tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%, đánh dấu lần đầu tiên đảo chiều lộ trình siết tỷ lệ này sau nhiều năm.

Theo VPBankS Research, các thay đổi này được kỳ vọng sẽ làm giảm áp lực chi phí vốn và cải thiện biên lãi ròng (NIM), tạo điều kiện để lãi suất cho vay giảm dần theo hướng có chọn lọc, ưu tiên các lĩnh vực sản xuất và xuất khẩu. Tuy nhiên, mức độ tác động thực tế vẫn phụ thuộc vào khả năng cân đối nguồn vốn của từng ngân hàng.

Ở kịch bản rủi ro, nếu xung đột tại Trung Đông leo thang khiến đồng USD tiếp tục neo ở mức cao trong thời gian dài, lãi suất huy động kỳ hạn ngắn có thể phải tăng thêm 50-75 điểm cơ bản nhằm bảo vệ thanh khoản và ổn định tỷ giá.

Dù ở kịch bản cơ sở hay kịch bản rủi ro, VPBankS Research cho rằng mặt bằng lãi suất duy trì ở mức cao vẫn sẽ là lực cản đáng kể đối với mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hai con số trong giai đoạn tới.

Có thể bạn quan tâm