Tính đến thời điểm hiện tại, hầu hết các ngân hàng đã công bố giảm lãi suất huy động. Mức giảm lãi suất phổ biến ở mức 0,5%/năm, áp dụng với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Với lãi suất cho vay, các ngân hàng cũng công bố mức giảm 1,5-2%, thậm chí lên tới 3%/năm.
LÃI SUẤT KHÓ GIẢM SÂU TRONG NĂM 2027
Động lực quan trọng thúc đẩy làn sóng giảm lãi suất đến từ yêu cầu điều hành của Ngân hàng Nhà nước khi ban hành Công văn 9608/NHNN-CSTT, yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm tối thiểu 0,5 điểm phần trăm mỗi năm đối với lãi suất tiền gửi niêm yết kỳ hạn từ 6 tháng và giảm 1,5-2 điểm phần trăm mỗi năm đối với lãi suất cho vay trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên.
Điểm đáng chú ý là yêu cầu này đi kèm các biện pháp xử lý cụ thể. Tổ chức tín dụng không tuân thủ có thể bị xem xét điều chỉnh phần chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng còn lại của năm 2026, được giao hạn mức thấp hơn trong năm 2027 hoặc phải áp dụng tỷ lệ an toàn cao hơn quy định.
Chỉ trong hai ngày 19-20/10, ít nhất 19 ngân hàng đã điều chỉnh giảm lãi suất huy động, phổ biến 0,5 điểm phần trăm mỗi năm. Theo Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), việc gắn yêu cầu giảm lãi suất với chế tài liên quan đến hạn mức tăng trưởng tín dụng tạo động lực tuân thủ mạnh hơn so với những chỉ đạo trước đây.
Dù vậy, VDSC vẫn giữ quan điểm thận trọng với ngành ngân hàng trong ngắn hạn, đồng thời ưu tiên những nhà băng có tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) cao, bộ đệm dự phòng tốt và ít phụ thuộc vào nghiệp vụ mua hẳn L/C.
Theo VDSC, lãi suất huy động có khả năng giảm nhanh trong ngắn hạn và ổn định đến cuối năm 2026, nhưng dư địa giảm sâu trong năm 2027 vẫn hạn chế. Nguyên nhân chủ yếu là chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn vẫn lớn, trong khi nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế tiếp tục ở mức cao.
Đến ngày 14/10/2026, tăng trưởng huy động vốn đạt 11,22%, bám sát mức tăng trưởng tín dụng 11,44%. Chênh lệch giữa quy mô tín dụng và huy động vốn đã thu hẹp từ mức đỉnh khoảng 2,8 triệu tỷ đồng giữa năm xuống còn khoảng 2,35 triệu tỷ đồng.
Tuy nhiên, khoảng cách này vẫn tương đương mức đầu năm 2026 và gấp đôi đầu năm 2025, cho thấy áp lực cơ cấu lên chi phí vốn của hệ thống chưa được giải quyết triệt để.
VDSC cho rằng lãi suất huy động từ nay đến cuối năm nhiều khả năng đi ngang hoặc ít nhất không tăng trở lại. Một mặt, cuộc đua tăng lãi suất đã bị kiểm soát chặt hơn và gắn với chế tài về hạn mức tín dụng.
Mặt khác, dư địa tăng trưởng tín dụng còn lại của nhiều ngân hàng thương mại cổ phần quy mô lớn không còn nhiều. Một số ngân hàng đã ở sát hoặc vượt hạn mức khi tính thêm số dư mua hẳn L/C.
NIM CHỊU ÁP LỰC, LỢI NHUẬN NGÂN HÀNG PHÂN HÓA
Trong khi đó, tác động của việc giảm lãi suất cho vay có thể xuất hiện nhanh hơn so với khả năng giảm chi phí huy động. Mức giảm lãi suất cho vay theo yêu cầu, từ 1,5-2 điểm phần trăm, lớn hơn đáng kể so với mức giảm tối thiểu 0,5 điểm phần trăm đối với lãi suất huy động.
Hơn nữa, lãi suất cho vay có thể phải điều chỉnh với cả dư nợ hiện hữu lẫn khoản vay mới, trong khi chi phí vốn chỉ giảm dần khi các khoản tiền gửi cũ đáo hạn.
Đây là yếu tố trực tiếp gây sức ép lên biên lãi ròng (NIM) của ngân hàng. Theo VDSC, các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh ngoài bất động sản và hoạt động khác chiếm khoảng 55% tổng dư nợ toàn hệ thống.
Tuy nhiên, các ngân hàng hiện chủ yếu triển khai giảm lãi suất thông qua những gói tín dụng có hạn mức và thời hạn cụ thể, nên quy mô dư nợ thực tế được hưởng ưu đãi có thể thấp hơn đáng kể.
Áp lực vì vậy sẽ khác nhau giữa các nhà băng, tùy thuộc tỷ trọng cho vay thuộc diện giảm lãi suất, cơ cấu nguồn vốn và khả năng kiểm soát chi phí. Những ngân hàng có tỷ trọng cho vay sản xuất, kinh doanh cao như VietinBank (66%), MB (57%), Vietcombank (56%) và BIDV (51%) về lý thuyết chịu ảnh hưởng lớn hơn. Ngược lại, Techcombank, VPBank, VIB và ACB có tỷ trọng dưới 30%, nên mức độ tác động trực tiếp có thể thấp hơn.
Trong nhóm có tỷ trọng cho vay sản xuất, kinh doanh cao, Vietcombank và MB có lợi thế nhờ tỷ lệ CASA cao và chi phí vốn thấp, qua đó có khả năng hấp thụ một phần sức ép lên NIM.
Theo đánh giá của TCBS, nếu dư nợ thuộc diện được giảm lãi suất 1,5-2 điểm phần trăm mỗi năm chiếm khoảng 3-5% tổng danh mục cho vay, NIM toàn ngành có thể giảm khoảng 0,03-0,07 điểm phần trăm, trong khi lợi nhuận trước thuế giảm khoảng 2-4%. Việc giảm tối thiểu 0,5 điểm phần trăm mỗi năm đối với lãi suất huy động niêm yết được kỳ vọng bù đắp một phần tác động này.
Tuy nhiên, khả năng giảm chi phí huy động trên thực tế có thể không lớn như kỳ vọng do tăng trưởng huy động vốn thấp hơn tín dụng. Vì vậy, dù lãi suất niêm yết được điều chỉnh theo yêu cầu, mức giảm chi phí vốn thực tế sẽ phụ thuộc vào cơ cấu tiền gửi, tốc độ đáo hạn và khả năng huy động nguồn vốn giá rẻ của từng ngân hàng.
TCBS nhận định nhóm ngân hàng quốc doanh có thể chịu áp lực lớn hơn do thường đi đầu trong việc thực hiện các chủ trương điều hành, trong khi lãi suất cho vay vốn đã ở mức thấp và dư địa giảm thêm không còn nhiều.
Ngược lại, những ngân hàng có chi phí vốn cao hoặc tỷ trọng tiền gửi có kỳ hạn lớn có thể hưởng lợi tương đối khi mặt bằng lãi suất huy động giảm, dù mức cải thiện còn tùy thuộc tốc độ tái định giá tài sản sinh lãi.
Ngoài NIM, việc siết chặt cách tính hạn mức tín dụng đối với nghiệp vụ mua bán chứng từ L/C cũng có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng dư nợ và thu nhập của một số ngân hàng.
Trước đây, nghiệp vụ mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ theo L/C do chính ngân hàng phát hành không bị tính vào hạn mức tín dụng, trở thành một kênh mở rộng dư nợ của một số nhà băng.
Theo số liệu cuối quý 2/2026 được VDSC đề cập, SHB có số dư mua hẳn bộ chứng từ L/C lớn nhất, khoảng 75.500 tỷ đồng, tiếp theo là Techcombank với khoảng 26.200 tỷ đồng, trong khi HDBank và MB ở mức khoảng 16.000 tỷ đồng mỗi ngân hàng. Khi cộng phần dư nợ này vào tăng trưởng tín dụng 6 tháng đầu năm, một số ngân hàng đã vượt hạn mức cả năm 2026.
Cụ thể, tăng trưởng tín dụng của SHB được ước tính lên khoảng 19,4%, so với hạn mức 10,5%; TPBank đạt khoảng 13,7%, so với 11%; Techcombank đạt khoảng 15%, so với 12%, sau khi loại trừ dư nợ cấp cho các dự án thuộc danh mục 18 dự án hạ tầng quốc gia với quy mô khoảng 20.000 tỷ đồng. Nam A Bank cũng vượt nhẹ, với mức tăng khoảng 10,7% so với hạn mức 10,5%.
VDSC cho rằng các ngân hàng này có thể phải giảm tốc giải ngân hoặc thu hẹp nghiệp vụ mua hẳn bộ chứng từ L/C trong quý 4/2026. Điều đó không chỉ ảnh hưởng đến tăng trưởng thu nhập lãi mà còn tác động đến nguồn thu phí liên quan đến nghiệp vụ thư tín dụng.
Đồng thời, nhóm ngân hàng này cần đặc biệt tuân thủ yêu cầu giảm lãi suất, bởi vi phạm có thể dẫn đến hạn mức tín dụng thấp hơn trong năm 2027.
Ở chiều ngược lại, ba ngân hàng quốc doanh với mức tăng trưởng tín dụng khoảng 5% từ đầu năm, thấp hơn hạn mức 10,6-13%, cùng nhóm ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc gồm MB, VPBank và HDBank với hạn mức 35%, còn dư địa mở rộng cho vay. Đây có thể là lợi thế giúp nhóm ngân hàng này gia tăng thị phần trong những tháng cuối năm.
ÁP LỰC KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG TÀI SẢN TĂNG
Bên cạnh áp lực lên NIM và hạn mức tín dụng, yêu cầu tăng cường quản trị rủi ro cũng khiến chất lượng tài sản trở thành yếu tố cần theo dõi. Theo VDSC, các yêu cầu về phân loại nợ, trích lập dự phòng và không che giấu nợ xấu phần lớn nhắc lại quy định hiện hành, chưa đưa ra chuẩn mực hoặc lộ trình mới.
Do đó, công văn không nhất thiết tạo ra một đợt tăng trích lập dự phòng đột biến, nhưng sức khỏe tài chính của khách hàng vẫn có thể khiến chi phí tín dụng tăng trong các quý tới.
Trong bối cảnh này, bộ đệm dự phòng sẽ quyết định khả năng chống chịu của từng ngân hàng nếu nợ xấu tiếp tục tăng. Vietcombank có tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) 279%, VietinBank đạt 134% và Techcombank đạt 126%. Trong khi đó, tỷ lệ này tại Eximbank là 33%, VIB 44%, HDBank 50% và MSB 52%; Sacombank có tỷ lệ nợ xấu cao nhất nhóm được VDSC theo dõi, ở mức 7,5%.
Một kênh tác động trực tiếp hơn là việc kiểm soát lãi dự thu và phân phối lợi nhuận. Theo VDSC, MSB, Nam A Bank và SHB có tỷ lệ lãi dự thu trên tài sản sinh lãi cao nhất nhóm, dao động 2,1-3%. Số ngày phải thu lãi bình quân của các ngân hàng này ở mức 82-143 ngày, gấp khoảng 3-5 lần Vietcombank, với 28 ngày.
Nếu phải thoái bớt các khoản lãi dự thu kéo dài, nhóm ngân hàng này có thể ghi nhận thu nhập lãi thấp hơn. Đồng thời, kế hoạch chia cổ tức cũng có thể bị xem xét kỹ hơn khi yêu cầu kiểm soát giao dịch với cổ đông và phân phối lợi nhuận được thực hiện chặt chẽ.
Theo phân tích của TCBS, việc thoái lãi dự thu có thể làm giảm thu nhập lãi hoặc gia tăng chi phí, trong khi yêu cầu nâng tỷ lệ bao phủ nợ xấu và định giá lại tài sản bảo đảm có thể kéo theo chi phí dự phòng cao hơn.
Bên cạnh đó, việc kiểm soát chặt hơn các giao dịch với cổ đông và hoạt động phân phối lợi nhuận cũng có thể khiến chính sách cổ tức tiền mặt của một số ngân hàng chịu thêm ràng buộc.