Bức tranh kinh tế 8 tháng đầu năm 2026 qua các con số

Nền kinh tế của nước ta trong 8 tháng đầu năm 2026 ghi nhận đà bứt phá mạnh mẽ với nhiều chỉ số lập kỷ lục, củng cố vững chắc cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số của cả năm.

Sự tăng tốc đồng đều diễn ra ở cả các trụ cột như: Sản xuất công nghiệp; Thu hút FDI; Quy mô xuất nhập khẩu và sự phục hồi mạnh mẽ của ngành du lịch. Bên cạnh đó, kinh tế Việt Nam được các tổ chức quốc tế lớn đánh giá là điểm sáng tăng trưởng hàng đầu khu vực ASEAN nhờ đà phục hồi vượt kỳ vọng.

Bản cập nhật mới nhất, IMF nâng dự báo GDP của Việt Nam lên 7,5% (tăng đáng kể so với mức dự báo 7,1% hồi đầu năm). Trong khi đó, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) dự báo nền kinh tế của nước ta đạt 7,2% đồng thời nhấn mạnh khả năng chống chịu rủi ro vững vàng của Việt Nam trước các biến động chuỗi cung ứng toàn cầu.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8/2026 tăng 0,47% so với tháng 7/2026 chủ yếu do giá xăng dầu trong nước điều chỉnh tăng theo giá nhiên liệu thế giới. CPI tháng 8/2026 tăng 3,57% so với tháng 12/2025 và tăng 4,89% so với cùng kỳ năm 2025.

Lũy kế 8 tháng năm 2026, CPI tăng 4,45% so với cùng kỳ năm ngoái; lạm phát cơ bản tăng 4,24%. CPI trong tháng tăng so với tháng trước, trong đó có 10 nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá tăng; 1 nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá giảm.

CPI bình quân 8 tháng năm 2026 tăng 4,45% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó: Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng cao nhất với 6,71% (làm CPI chung tăng 1,52 điểm phần trăm); giao thông tăng 5,38% (làm CPI chung tăng 0,54 điểm phần trăm); hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,76% (làm CPI chung tăng 1,7 điểm phần trăm); hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,46% (làm CPI chung tăng 0,16 điểm phần trăm); đồ uống và thuốc lá tăng 3,67% (làm CPI chung tăng 0,06 điểm phần trăm); giáo dục tăng 3,42% (làm CPI chung tăng 0,2 điểm phần trăm); thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,79% (làm CPI chung tăng 0,14 điểm phần trăm); văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,71%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,03%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,08%; thông tin và truyền thông tăng 0,09%.

Lạm phát cơ bản trong tháng tăng 0,11% so với tháng 7/2026 và tăng 4,55% so với cùng kỳ năm 2025. Bình quân 8 tháng năm 2026, lạm phát cơ bản tăng 4,24% so với cùng kỳ năm ngoái, thấp hơn mức tăng 4,45% của CPI bình quân chung do giá xăng dầu, gas và thực phẩm biến động mạnh làm CPI chung tăng, trong khi các yếu tố này được loại trừ trong danh mục tính toán lạm phát cơ bản.

Bình quân giá vàng thế giới trong tháng (tính đến ngày 25/8) ở mức 4.377,25 USD/ounce, tăng 7,22% so với tháng 7/2026. Trong nước, chỉ số giá vàng tháng 8/2026 giảm 0,65% so với tháng 7/2026; tăng 16,98% so với cùng kỳ năm 2025; giảm 6,27% so với tháng 12/2025. Bình quân 8 tháng năm 2026, chỉ số giá vàng tăng 46,98% so với cùng kỳ năm ngoái.

Chỉ số USD bình quân trên thị trường quốc tế trong tháng (tính đến ngày 25/8) đạt mức 99,65 điểm, giảm 1,17 điểm so với tháng 7/2026 chủ yếu do đồng USD suy yếu trên thị trường quốc tế trong bối cảnh kỳ vọng về chính sách tiền tệ của Mỹ thay đổi và lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ giảm. Trong nước, chỉ số giá đô la Mỹ tháng 8/2026 giảm 0,38% so với tháng 7/2026; giảm 0,36% so với cùng kỳ năm 2025; giảm 0,38% so với tháng 12/2025. Bình quân 8 tháng năm 2026, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 1,31% so với cùng kỳ năm ngoái.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành tháng 8/2026 ước đạt 679,8 nghìn tỷ đồng, tăng 1,6% so với tháng 7/2026 và tăng 14,9% so với cùng kỳ năm 2025.

Doanh thu bán lẻ hàng hóa của hầu hết các nhóm hàng trong tháng đều có xu hướng tăng so với tháng 7/2026 và so với cùng kỳ năm ngoái. Cụ thể, nhiên liệu khác (trừ xăng, dầu) tăng 2,2% so với tháng trước và tăng 25,9% so với cùng kỳ năm 2025; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 1,8% và tăng 24,8%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 0,7% và tăng 19,2%; nhóm lương thực, thực phẩm tăng 2% và tăng 12,9%; sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy và xe có động cơ tăng 2,7% và tăng 12,3%; hàng may mặc tăng 2,4% và tăng 11,9%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 1,6% và tăng 9,2%; phương tiện đi lại (trừ ô tô, kể cả phụ tùng) tăng 0,3% và tăng 4,3%. Riêng nhóm hàng ô tô các loại giảm 2,7% so với tháng trước và giảm 1,8% so với cùng kỳ năm ngoái.

Dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 2,6% so với tháng 7/2026 và tăng 21,5% so với cùng kỳ năm 2025; du lịch lữ hành giảm 6,9% và tăng 19,2%; các nhóm hàng hóa dịch vụ khác tăng 1,5% và tăng 14,8%. Lũy kế 8 tháng năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 5.235,5 nghìn tỷ đồng, tăng 13,3% so với cùng kỳ năm 2025, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7,6% (cùng kỳ tăng 7,5%).

Trong tháng, cả nước có gần 12,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký gần 189,4 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký gần 60,4 nghìn lao động, giảm 14,4% về số doanh nghiệp, tăng 13,9% về vốn đăng ký và giảm 26,4% về số lao động so với tháng 7/2026. So với cùng kỳ năm 2025, giảm 40,5% về số doanh nghiệp, giảm 41,9% về số vốn đăng ký và giảm 43,5% về số lao động.

Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng đạt 15,6 tỷ đồng, tăng 33,2% so với tháng 7/2026 và giảm 2,3% so với cùng kỳ năm ngoái. Bên cạnh đó, cả nước còn có gần 9,5 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 6,5% so với tháng trước và giảm 23,8% so với cùng kỳ năm 2025.

Cũng trong tháng, có 5.322 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giảm 39% so với tháng 7/2026 và giảm 18,5% so với cùng kỳ năm 2025; có 7.566 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 27,1% và tăng 10,1%; có 9.631 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 33,6% và tăng 151,2%.

Lũy kế 8 tháng năm 2026, cả nước có gần 138,1 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký gần 1.708,3 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký gần 657,7 nghìn lao động, tăng 7,7% về số doanh nghiệp, tăng 36,2% về vốn đăng ký và giảm 15,4% về số lao động so với cùng kỳ năm 2025. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong 8 tháng năm 2026 đạt 12,4 tỷ đồng, tăng 26,4% so với cùng kỳ năm ngoái.

Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 8 tháng năm 2026 đạt gần 4,4 triệu tỷ đồng, tăng 5,7% so với cùng kỳ năm 2025. Bên cạnh đó, cả nước có gần 68,3 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (giảm 15,8% so với cùng kỳ năm ngoái), nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong 8 tháng năm 2026 lên gần 206,4 nghìn doanh nghiệp, giảm 1,4% so với cùng kỳ năm 2025. Bình quân một tháng có 25,8 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.

Lũy kế 8 tháng năm 2026, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là hơn 88 nghìn doanh nghiệp, giảm 7,3% so với cùng kỳ năm ngoái; gần 28,6 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 40,3%; hơn 40,8 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 125,5%. Bình quân một tháng có 19,7 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.

Trong tháng 8/2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 109,7 tỷ USD, giảm 0,1% so với tháng 7/2026 và tăng 31,7% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 8 tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 770,14 tỷ USD, là mức cao nhất của 8 tháng từ trước đến nay, tăng 28,7% so với cùng kỳ năm ngoái; trong đó xuất khẩu tăng 22,4%; nhập khẩu tăng 35,3%. Cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 20,46 tỷ USD.

Xuất khẩu hàng hóa:

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 8/2026 đạt 54,79 tỷ USD, tăng 3,2% so với tháng 7/2026. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 10,5 tỷ USD, tăng 2,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 44,29 tỷ USD, tăng 3,4%. So với cùng kỳ năm 2025, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng tăng 26%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 14,1%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 29,2%.

Lũy kế 8 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 374,84 tỷ USD, tăng 22,4% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 74,47 tỷ USD, tăng 7,4%, chiếm 19,9% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 300,37 tỷ USD, tăng 26,9%, chiếm 80,1%.

Trong 8 tháng năm 2026 có 33 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 93,6% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 7 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 70%).

Nhập khẩu hàng hóa:

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 8/2026 đạt 54,91 tỷ USD, giảm 3,1% so với tháng 7/2026. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 12,82 tỷ USD, giảm 7,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 42,09 tỷ USD, giảm 1,8%. So với cùng kỳ năm 2025, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng tăng 37,9%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 19,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 44,6%.

Lũy kế 8 tháng năm 2026, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 395,3 tỷ USD, tăng 35,3% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 105,07 tỷ USD, tăng 23,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 290,23 tỷ USD, tăng 40,1%.

Trong 8 tháng năm 2026 có 43 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 93,9% tổng kim ngạch nhập khẩu (có 3 mặt hàng nhập khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 55,5%).

Chỉ số sản xuất công nghiệp ngành chế biến, chế tạo tháng 8/2026 tăng 14,6% so với cùng kỳ năm 2025; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,5%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 11,8%; ngành khai khoáng tăng 18,5%.

Lũy kế 8 tháng năm 2026, IIP ngành chế biến, chế tạo tăng 12,5% (cùng kỳ năm 2025 tăng 10%), đóng góp 9,6 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành khai khoáng tăng 8,1% (cùng kỳ giảm 2,1%), đóng góp 1,3 điểm phần trăm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 10,1% (cùng kỳ tăng 5%), đóng góp 0,9 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,4% (cùng kỳ tăng 8,8%), đóng góp 0,1 điểm phần trăm.

Chỉ số IIP 8 tháng năm 2026 của một số ngành trọng điểm cấp II tăng so với cùng kỳ năm 2025: Sản xuất kim loại tăng 22,4%; sản xuất đồ uống tăng 16,4%; sản xuất xe có động cơ tăng 15,9%; sản xuất thiết bị điện tăng 14,6%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 13,9%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 12,7%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 12,6%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 12,3%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 12,2%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất và khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên cùng tăng 11,9%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 11,6%. Ở chiều ngược lại, chỉ số IIP của ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng thấp 3,6%; khai thác than cứng và than non giảm 1,8%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp 8 tháng năm 2026 so với cùng kỳ năm ngoái tăng ở cả 34 địa phương. Một số địa phương có chỉ số IIP đạt mức tăng khá nhờ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao. Ở chiều ngược lại, một số địa phương có chỉ số IIP tăng thấp do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành khai khoáng và ngành sản xuất, phân phối điện tăng thấp hoặc giảm.

Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong 8 tháng năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm 2025: Xe máy tăng 27,9%; máy tính xách tay tăng 25,7%; ô tô tăng 24%; thép cán tăng 23,4%; thủy hải sản chế biến tăng 21,4%; đường kính tăng 18,5%; thép thanh thép góc tăng 15,2%; bia tăng 14,4%; sơn hóa học tăng 12,2%. Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm ngoái: Phân hỗn hợp NPK giảm 8,6%; bột ngọt giảm 8,1%; giày, dép da giảm 4,2%; khí hóa lỏng LPG giảm 3,2%.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/8 tăng 1% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 3,8% so với cùng thời điểm năm 2025. Theo ngành hoạt động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 0,1% so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 0,7% so với cùng thời điểm năm ngoái; ngành chế biến, chế tạo tăng 1% và tăng 4%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí không đổi và tăng 1,9%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,1% và tăng 5%.

Thu ngân sách Nhà nước:

Thu ngân sách Nhà nước 8 tháng năm 2026 ước tăng 16% so với cùng kỳ năm 2025. Chi ngân sách Nhà nước ước tăng 13,3% so với cùng kỳ năm ngoái đảm bảo các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước, thanh toán các khoản nợ đến hạn cũng như chi trả kịp thời cho các đối tượng theo quy định.

Tổng thu ngân sách Nhà nước tháng 8/2026 ước đạt 150,4 nghìn tỷ đồng. Lũy kế tổng thu ngân sách Nhà nước 8 tháng năm 2026 ước đạt 2.023,8 nghìn tỷ đồng, bằng 80% dự toán năm và tăng 16% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, một số khoản thu chính như sau:

- Thu nội địa trong tháng ước đạt 130,3 nghìn tỷ đồng. Lũy kế 8 tháng năm 2026 ước đạt 1.752,9 nghìn tỷ đồng, bằng 79,7% dự toán năm, chiếm 86,6% tổng thu ngân sách Nhà nước và tăng 16,6% so với cùng kỳ năm 2025.

- Thu từ dầu thô trong tháng ước đạt 5,8 nghìn tỷ đồng. Lũy kế 8 tháng năm 2026 ước đạt 43,6 nghìn tỷ đồng, bằng 101,5% dự toán năm, chiếm 2,2% tổng thu ngân sách Nhà nước và tăng 31,5% so với cùng kỳ năm ngoái;

- Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu trong tháng ước đạt gần 13 nghìn tỷ đồng. Lũy kế 8 tháng năm 2026 ước đạt 223,9 nghìn tỷ đồng, bằng 80,6% dự toán năm, chiếm 11,1% tổng thu ngân sách Nhà nước và tăng 7,9% so với cùng kỳ năm 2025.

Chi ngân sách Nhà nước:

Tổng chi ngân sách Nhà nước tháng 8/2026 ước đạt 238,1 nghìn tỷ đồng. Lũy kế 8 tháng năm 2026, chi ngân sách Nhà nước ước đạt 1.608,3 nghìn tỷ đồng, bằng 50,9% dự toán năm và tăng 13,3% so với cùng kỳ năm 2025, đáp ứng các nhu cầu chi phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước và thanh toán các khoản chi trả nợ đến hạn, đảm bảo chi trả kịp thời các khoản lương và các khoản có tính chất lương đến các đối tượng thụ hưởng ngân sách Nhà nước, góp phần thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội. Trong đó: Chi thường xuyên đạt 1.015 nghìn tỷ đồng, bằng 56,1% dự toán năm, chiếm 63,1% tổng chi ngân sách Nhà nước và tăng 4,9% so với cùng kỳ năm ngoái; Chi đầu tư phát triển đạt 514,6 nghìn tỷ đồng, bằng 45,9%, chiếm 32% và tăng 35,4%; Chi trả nợ lãi 76,7 nghìn tỷ đồng, bằng 63,3%, chiếm 4,8% và tăng 11,2%.

Hoạt động vận tải trong tháng duy trì đà tăng trưởng, đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân và khách quốc tế, đồng thời bảo đảm lưu thông hàng hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại, du lịch và phát triển kinh tế. So với cùng kỳ năm 2025, vận tải hành khách tháng 8/2026 tăng 17,9% về vận chuyển và tăng 16% về luân chuyển; vận tải hàng hóa tăng 17,6% về vận chuyển và tăng 17,3% về luân chuyển.

Lũy kế 8 tháng năm 2026, vận chuyển hành khách tăng 18,6% và luân chuyển tăng 13,1% so với cùng kỳ năm ngoái; vận chuyển hàng hóa tăng 16,7% và luân chuyển tăng 12,9%.

Vận tải hành khách trong tháng ước đạt 658,6 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 2,5% so với tháng 7/2026 và tăng 17,9% so với cùng kỳ năm 2025; luân chuyển 32,1 tỷ lượt khách/km, tăng 1,8% và tăng 16%. Lũy kế 8 tháng năm 2026, vận tải hành khách ước đạt 4.687,5 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 18,6% so với cùng kỳ năm ngoái và luân chuyển đạt 234,3 tỷ lượt khách/km, tăng 13,1%. Trong đó, vận tải trong nước ước đạt 4.674 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 18,6% so với cùng kỳ năm 2025 và 191,7 tỷ lượt khách/km luân chuyển, tăng 15,7%; vận tải ngoài nước ước đạt 13,5 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 4,4% và 42,6 tỷ lượt khách/km luân chuyển, tăng 2,8%.

Vận tải hàng hóa trong tháng ước đạt 324 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 0,6% so với tháng 7/2026 và tăng 17,6% so với cùng kỳ năm 2025; luân chuyển 63 tỷ tấn/km, tăng 2,1% và tăng 17,3%. Lũy kế 8 tháng năm 2026, vận tải hàng hóa ước đạt 2.285,1 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 16,7% so với cùng kỳ năm ngoái và luân chuyển 450,5 tỷ tấn/km, tăng 12,9%. Trong đó, vận tải trong nước ước đạt 2.245,3 triệu tấn vận chuyển, tăng 16,7% và 257,9 tỷ tấn/km luân chuyển, tăng 14,2%; vận tải ngoài nước ước đạt 39,8 triệu tấn vận chuyển, tăng 18% và 192,6 tỷ tấn/km luân chuyển, tăng 11,2%.

Lượng khách quốc tế đến Việt Nam 8 tháng năm 2026 đạt 15,9 triệu lượt người, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm 2025. Kết quả trên là nhờ tình hình an ninh, an toàn, trật tự xã hội được đảm bảo; chính sách thị thực thuận lợi, công tác xúc tiến, quảng bá được đẩy mạnh, sản phẩm du lịch đa dạng cùng với lợi thế về cảnh quan thiên nhiên, văn hóa, ẩm thực và chi phí du lịch hợp lý.

Trong tháng, khách quốc tế đến nước ta ước đạt 1,99 triệu lượt người, tăng 19,7% so với tháng 7/2026 và tăng 18,4% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 8 tháng năm 2026, khách quốc tế đến Việt Nam đạt 15,9 triệu lượt người, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm ngoái và là số lượt khách đến nước ta cao nhất của 8 tháng trong nhiều năm qua.

Trong đó, khách đến bằng đường hàng không đạt 13,2 triệu lượt người, chiếm 83,1% lượng khách quốc tế đến và tăng 11,6% so với cùng kỳ năm 2025; bằng đường bộ đạt 2,5 triệu lượt người, chiếm 15,5% và tăng 32%; bằng đường biển đạt 220,6 nghìn lượt người, chiếm 1,4% và tăng 17,5%.

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước trong tháng ước đạt 105,7 nghìn tỷ đồng, tăng 24,1% so với cùng kỳ năm 2025, bao gồm: Vốn Trung ương quản lý đạt 15 nghìn tỷ đồng, tăng 8,3%; vốn địa phương quản lý đạt 90,7 nghìn tỷ đồng, tăng 27,2%. Lũy kế 8 tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt 546,8 nghìn tỷ đồng, bằng 50,5% kế hoạch năm và tăng 18,5% so với cùng kỳ năm ngoái (cùng kỳ bằng 45,3% và tăng 26,4%).

Trong số 73 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 8 tháng năm 2026, Singapore là nhà đầu tư lớn nhất với 7,62 tỷ USD, chiếm 35,1% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hàn Quốc 5,67 tỷ USD, chiếm 26,1%; Đặc khu hành chính Hồng Kông (TQ) 2,96 tỷ USD, chiếm 13,6%; Trung Quốc 1,93 tỷ USD, chiếm 8,9%; Nhật Bản 1,42 tỷ USD, chiếm 6,5%; Hà Lan 424,3 triệu USD, chiếm 2%.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam 8 tháng năm 2026 ước đạt 17,25 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm 2025. Đây là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của 8 tháng trong 5 năm qua. Trong đó: Công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 14,24 tỷ USD, chiếm 82,6% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện; Hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 1,29 tỷ USD, chiếm 7,5%; Sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 622,9 triệu USD, chiếm 3,6%.

Trong 8 tháng năm 2026, có 35 quốc gia và vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam, trong đó: Lào là nước dẫn đầu với 667,5 triệu USD, chiếm 25,5% tổng vốn đầu tư; Campuchia 486,5 triệu USD, chiếm 18,6%; Ấn Độ 323,9 triệu USD, chiếm 12,4%; Indonesia 313,6 triệu USD, chiếm 12%; Philippines 167,2 triệu USD, chiếm 6,4%; Kazakhstan 149,9 triệu USD, chiếm 5,7%; Anh 82,8 triệu USD, chiếm 3,2%.

7 địa phương dẫn đầu về thu hút vốn FDI đăng ký cấp mới là Thái Nguyên, TP.HCM, Nghệ An, Hải Phòng, Bắc Ninh, Đồng Nai và Tây Ninh.

Có thể bạn quan tâm