EVFTA sau 6 năm: Cánh cửa thuế quan mở, nhưng lại vướng "bức tường xanh"

Nếu những năm đầu, lợi ích lớn nhất của EVFTA được nhìn thấy ở việc cắt giảm thuế quan và mở rộng thị trường, thì hiện nay, cuộc cạnh tranh đã chuyển sang một mặt trận khó hơn là tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, phát thải carbon, chống phá rừng và trách nhiệm xã hội...

0:00 / 0:00
0:00
5376.jpg

Nói cách khác, Hiệp định Thương mại tự do Liên minh châu Âu (EU) - Việt Nam (EVFTA) đã mở cửa để hàng hoá của Việt Nam bước vào thị trường châu Âu, nhưng để đi sâu vào thị trường này, doanh nghiệp Việt Nam phải vượt qua ngày càng nhiều những tiêu chuẩn nghiêm ngặt. Đây cũng là lúc những hạn chế về nội lực doanh nghiệp, mức độ phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu, giá trị gia tăng thấp, khả năng đáp ứng quy tắc xuất xứ và năng lực quản trị chuỗi cung ứng bộc lộ rõ hơn.

TỪ LỢI THẾ THUẾ QUAN ĐẾN CUỘC CHƠI CỦA TIÊU CHUẨN

EVFTA được đánh giá là một trong những hiệp định thương mại tự do có mức độ cam kết cao nhất mà Việt Nam từng tham gia. Ngay khi hiệp định có hiệu lực, EU xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với khoảng 85,6% số dòng thuế, tương đương 70,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Sau 7 năm, con số này tăng lên 99,2% số dòng thuế, tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu, phần còn lại chủ yếu được hưởng hạn ngạch thuế quan với thuế suất 0%.

Có thể khẳng định đây là lợi thế rất lớn, nhưng sau 6 năm, có thể thấy thuế quan chỉ là tấm vé vào cửa của thị trường EU. Một sản phẩm có thể được hưởng thuế suất ưu đãi nhưng vẫn không thể bán được nếu không đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, an toàn, môi trường hay truy xuất nguồn gốc.

Hiện nay EU đang ngày càng sử dụng các tiêu chuẩn TBT (Technical Barriers to Trade -là hàng rào kỹ thuật trong thương mại) và SPS (Sanitary and Phytosanitary Measures - là các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động, thực vật) như một phần quan trọng trong hệ thống quản lý thị trường.

Với nhóm SPS, những yêu cầu về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, kháng sinh, chất gây ô nhiễm, kiểm soát dịch bệnh, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc trở thành điều kiện bắt buộc đối với nông sản, thủy sản. Trong khi đó, TBT bao phủ một phạm vi rộng hơn, từ quy chuẩn kỹ thuật, ghi nhãn, thành phần sản phẩm, bao bì, tiêu chuẩn chất lượng đến các yêu cầu về môi trường.

Thực tế, trong những năm qua các tiêu chuẩn này không đứng yên chúng liên tục được nâng lên khiến doanh nghiệp không thể chỉ đầu tư để “đạt chuẩn” một lần, mà phải xây dựng năng lực tuân thủ lâu dài.

Nếu EVFTA thế hệ đầu tiên chủ yếu được doanh nghiệp nhìn nhận qua thuế quan, thì EVFTA trong giai đoạn hiện nay phải được nhìn trong bối cảnh Green Deal (Thỏa thuận Xanh - là gói chính sách và chiến lược tổng thể dài hạn của EU nhằm đưa châu Âu trở thành châu lục trung hòa khí hậu đầu tiên trên thế giới vào năm 2050) và các chính sách xanh của EU.

5339.jpg
EVFTA sau 6 năm: Từ cú hích thương mại đến cuộc cải cách sâu hơn của nền kinh tế

Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) đã bước vào giai đoạn chính thức từ ngày 1/1/2026, trước mắt tập trung vào các nhóm hàng phát thải cao như sắt thép, nhôm, xi măng và phân bón. Doanh nghiệp xuất khẩu muốn duy trì khả năng cạnh tranh phải có dữ liệu về tiêu thụ năng lượng, nhiên liệu và phát thải khí nhà kính, đồng thời từng bước xây dựng hệ thống đo lường, báo cáo và thẩm tra phát thải.

Theo đánh giá từ Bộ Công Thương, EVFTA đang trở thành thước đo năng lực nội tại của doanh nghiệp Việt Nam. Sau 5 năm, thương mại hai chiều đạt khoảng 300 tỷ USD cộng dồn, song lợi thế này khó duy trì nếu doanh nghiệp không nâng cấp sản xuất, quản trị và thương hiệu.

Trong khi đó với ngành gỗ, cà phê, cao su và các sản phẩm liên quan, một thách thức khác đang tới rất gần là Quy định chống phá rừng của EU (EUDR). Theo quy định hiện hành, EUDR sẽ áp dụng từ ngày 30/12/2026 đối với doanh nghiệp vừa và lớn, doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ có thời hạn đến 30/6/2027.

Với quy định này, doanh nghiệp phải chứng minh hàng hóa không liên quan đến phá rừng hoặc suy thoái rừng và đáp ứng các yêu cầu thẩm tra cần thiết. Điều đó có nghĩa là với sản phẩm như cà phê hay gỗ, câu chuyện không còn dừng ở sản phẩm Việt Nam có chất lượng tốt hay không. Câu hỏi tiếp theo sẽ là sản phẩm được trồng ở đâu, trên diện tích nào, nguồn nguyên liệu từ đâu, quá trình sản xuất có hợp pháp không và doanh nghiệp có chứng minh được toàn bộ chuỗi cung ứng hay không?.

KHÔNG DỄ BƯỚC QUA NHỮNG CÁNH CỬA ƯU ĐÃI

Một trong những nghịch lý của EVFTA là thuế giảm rất sâu nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng tận dụng được. Tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu được cấp quy tắc xuất xứ (C/O) ưu đãi theo EVFTA đã tăng từ 14,8% năm 2020 lên khoảng 35,1% năm 2025, với kim ngạch hàng hóa được cấp C/O tăng lên khoảng 18,13 tỷ USD. Con số này cho thấy năng lực tận dụng EVFTA đã tiến bộ rõ rệt, nhưng cũng đồng thời cho thấy dư địa còn rất lớn.

Cần lưu ý, 35% không có nghĩa là 65% hàng hóa Việt Nam không được hưởng ưu đãi. Một số dòng thuế MFN (Most Favoured Nation - Thuế suất nhập khẩu ưu đãi) của EU vốn đã bằng 0 hoặc doanh nghiệp có thể sử dụng các cơ chế thuế khác.

5377.jpg

Tuy nhiên, với những mặt hàng mà ưu đãi EVFTA tạo ra chênh lệch thuế đáng kể, quy tắc xuất xứ lại trở thành yếu tố quyết định, điển hình là mặt hàng dệt may. EVFTA yêu cầu quy tắc xuất xứ theo hướng từ vải trở đi, khiến việc Việt Nam vẫn phải nhập khẩu một lượng lớn nguyên phụ liệu từ các nguồn ngoài khu vực được phép cộng gộp trở thành điểm nghẽn.

Câu chuyện tương tự cũng xuất hiện ở nhiều ngành khác. Nếu doanh nghiệp nhập nguyên liệu, thực hiện gia công đơn giản rồi xuất khẩu, rất khó vừa đạt tỷ lệ giá trị nội địa cao vừa đáp ứng các tiêu chí xuất xứ của EVFTA. Vì vậy, bài toán C/O thực chất phản ánh một vấn đề lớn hơn - năng lực hình thành chuỗi cung ứng trong nước.

5381.jpg

Tháng 3/2026, Bộ Công Thương ban hành Thông tư 14/2026/TT-BCT về quy tắc xuất xứ hàng hóa trong EVFTA, tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế chứng nhận xuất xứ. Nhưng thay đổi quy định mới chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ vẫn nằm ở khả năng doanh nghiệp kiểm soát được nguồn nguyên liệu và chứng minh được nguồn gốc.

Một vấn đề khác cũng không thể nhắc tới là phòng vệ thương mại. Thực tế, rủi ro phòng vệ thương mại không biến mất khi thuế giảm. Vì, thuế quan giảm không loại bỏ nguy cơ điều tra chống bán phá giá, chống trợ cấp hay tự vệ.

Khi xuất khẩu tăng nhanh và thị phần của hàng Việt Nam tại EU mở rộng, áp lực cạnh tranh đối với nhà sản xuất nội địa EU cũng có thể gia tăng. Trong những trường hợp nhất định, doanh nghiệp Việt Nam vẫn có thể đối mặt với các biện pháp phòng vệ thương mại. Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng hệ thống kế toán, quản trị chi phí, dữ liệu giá thành và hồ sơ xuất xứ đủ minh bạch. Đây là điểm mà nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa còn yếu.

BÀI TOÁN CHO NHỮNG NĂM TIẾP THEO

Sau 6 năm, theo quan điểm của chúng tôi, có thể nhìn EVFTA theo hai lớp. Đầu tiên là nói về thành quả. Thương mại tăng trưởng, xuất khẩu mở rộng, nhiều ngành hàng giành được thị phần, doanh nghiệp quen hơn với tiêu chuẩn EU và tỷ lệ tận dụng ưu đãi xuất xứ tăng đáng kể.

Và lớp thứ hai là những giới hạn. Giá trị gia tăng trong nước chưa cao, chuỗi cung ứng còn phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa yếu về công nghệ, vốn và quản trị, thương hiệu Việt còn mờ nhạt tại EU, FDI châu Âu chưa bứt phá, trong khi hàng rào kỹ thuật và tiêu chuẩn xanh ngày càng cao.

5380.jpg

Từ đây có thể thấy, giai đoạn tiếp theo của EVFTA không thể chỉ là câu chuyện tận dụng thuế suất 0%, mà đó phải là câu chuyện xây dựng năng lực sản xuất đáp ứng chuẩn châu Âu. Muốn vậy, Việt Nam cần phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ, nâng tỷ lệ nội địa hóa, xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc quốc gia, hỗ trợ doanh nghiệp đo lường phát thải, phát triển logistics xanh và nâng cao năng lực kiểm nghiệm - chứng nhận.

Doanh nghiệp cũng phải chuyển từ tư duy đáp ứng một đơn hàng sang quản trị một chuỗi cung ứng, từ bán sản phẩm sang xây dựng thương hiệu, từ cạnh tranh bằng giá sang cạnh tranh bằng chất lượng và tính bền vững.

Suy cho cùng, EVFTA đã mở cánh cửa vào thị trường châu Âu. Nhưng sau 6 năm, cánh cửa ấy không còn là lợi thế riêng của Việt Nam. Các đối thủ cũng đang tiến tới các Hiệp định thương mại tự do (FTA) với EU, trong khi chính EU liên tục nâng chuẩn xanh.

Vì thế, cuộc cạnh tranh đang chuyển từ ai có thuế thấp hơn sang ai đáp ứng tiêu chuẩn tốt hơn. Đây mới chính là phép thử thực sự đối với năng lực của doanh nghiệp Việt Nam trong những năm tiếp theo.

Theo Phó Chủ tịch EuroCham Jean-Jacques Bouflet, EVFTA không chỉ dừng ở cắt giảm thuế quan, mà còn bao trùm các lĩnh vực như hợp tác hải quan, tiêu chuẩn kỹ thuật, sở hữu trí tuệ, phát triển bền vững và minh bạch trong quản lý. Trong bối cảnh các quy định mới của EU như Thỏa thuận Xanh châu Âu, Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) và Quy định chống phá rừng của EU lần lượt được triển khai, năng lực hiểu và tuân thủ các quy định sẽ ngày càng trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Xem thêm

Có thể bạn quan tâm

Giải Golf Doanh nhân QT HBA-VACOD 2026, Gala Dinner: Hợp tác quốc tế - Kết nối doanh nhân

Giải Golf Doanh nhân QT HBA-VACOD 2026, Gala Dinner: Hợp tác quốc tế - Kết nối doanh nhân

Tiếp nối Giải Golf Doanh nhân Quốc tế HBA-VACOD 2026, tối 23/8, chương trình Gala Dinner “Hợp tác quốc tế - Kết nối doanh nhân” diễn ra tại Khách sạn Daewoo Hà Nội, mở rộng không gian giao lưu, xúc tiến thương mại và đầu tư giữa cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam với doanh nhân Việt Nam tại Australia…

Khai mạc Giải Golf Doanh nhân Quốc tế HBA-VACOD 2026

Khai mạc Giải Golf Doanh nhân Quốc tế HBA-VACOD 2026

Giải Golf Doanh nhân Quốc tế HBA-VACOD 2026 được kỳ vọng trở thành nhịp cầu xúc tiến thương mại, kết nối cộng đồng doanh nhân Việt Nam trong nước với doanh nhân Việt Nam tại Úc và quốc tế…

Giải Golf doanh nhân quốc tế HBA- VACOD lần thứ nhất sẵn sàng khai màn

Giải Golf doanh nhân quốc tế HBA- VACOD lần thứ nhất sẵn sàng khai màn

Chủ trì Chương trình Bữa sáng Doanh nhân, Chủ tịch VACOD-HBA TS Nguyễn Hồng Sơn tập trung chỉ đạo công tác chuẩn bị cho Giải Golf Doanh nhân Quốc tế HBA-VACOD và Gala Dinner, đồng thời rà soát các nhiệm vụ quản trị, quản lý hoạt động Hiệp hội và tăng cường kết nối, hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp...

VACOD-HBA tăng tốc cho chuỗi sự kiện lớn, thúc đẩy “cách mạng AI” trong doanh nghiệp

VACOD-HBA tăng tốc cho chuỗi sự kiện lớn, thúc đẩy “cách mạng AI” trong doanh nghiệp

Chủ trì Chương trình Bữa sáng Doanh nhân ngày 8/8, Chủ tịch VACOD – HBA TS Nguyễn Hồng Sơn đặt trọng tâm vào tọa đàm chuyên đề về AI, kết nối nguồn lực KH-CN với doanh nghiệp; đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận công nghệ và tăng tốc chuẩn bị cho chuỗi sự kiện quan trọng của VACOD – HBA…

VACOD-HBA kết nối doanh nhân với nghị trường Quốc hội, khởi động đề cử Giải thưởng Cúp Thánh Gióng 2026

VACOD-HBA kết nối doanh nhân với nghị trường Quốc hội, khởi động đề cử Giải thưởng Cúp Thánh Gióng 2026

Chủ trì Chương trình Bữa sáng Doanh nhân ngày 1/8, Chủ tịch VACOD-HBA tạo điều kiện để cộng đồng doanh nhân tiếp xúc cử tri trước Kỳ họp không thường lệ thứ nhất của Quốc hội. Đồng thời, thúc đẩy công tác chuẩn bị cho Giải Golf quốc tế và lựa chọn doanh nghiệp đề cử Giải thưởng Cúp Thánh Gióng...

VACOD-HBA "uống nước nhớ nguồn", tri ân quá khứ, đón đầu tương lai bằng đổi mới sáng tạo, tích cực hội nhập

VACOD-HBA "uống nước nhớ nguồn", tri ân quá khứ, đón đầu tương lai bằng đổi mới sáng tạo, tích cực hội nhập

Chủ trì Chương trình Bữa sáng Doanh nhân ngày 25/7, Chủ tịch VACOD-HBA, TS Nguyễn Hồng Sơn cho biết, ngoài các hoạt động tri ân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ, hai Hiệp hội đang tích cực chuẩn bị Giải Golf quốc tế Doanh nhân VACOD-HBA và đẩy mạnh chương trình đổi mới sáng tạo...

SJC và chuỗi đại án phủ bóng thương hiệu quốc gia

SJC và chuỗi đại án phủ bóng thương hiệu quốc gia

Liên tiếp vướng đại án, bị thanh tra và xử phạt, SJC trải qua giai đoạn nhiều biến động nhất trong lịch sử hoạt động. Với vị thế là doanh nghiệp nắm thương hiệu vàng miếng quốc gia, mọi diễn biến tại SJC đều thu hút sự quan tâm đặc biệt của thị trường...