Chiến lược phía sau mạng lưới 3 khu thương mại tự do của Việt Nam

Việt Nam đang hình thành mạng lưới 3 khu thương mại tự do tại Hải Phòng, Đà Nẵng và TP.HCM, mỗi khu theo đuổi một chiến lược riêng với kỳ vọng nâng tầm vị thế Việt Nam trong chuỗi cung ứng và logistics khu vực…

Vào cuối tháng 7 vừa qua, TP.HCM đã thành lập khu FTZ rộng 4.174 ha bên cạnh cụm cảng Cái Mép, đánh dấu khu FTZ thứ ba của Việt Nam. Trước đó, Đà Nẵng thành lập khu FTZ rộng khoảng 1.881 ha vào tháng 6/2025, trong khi Hải Phòng triển khai khu FTZ rộng 6.292 ha chỉ 4 tháng sau đó.

Thoạt nhìn, các dự án này có vẻ là những phiên bản của cùng một công thức chính sách công nghiệp - những khu vực được xác định rõ, kết nối với các cảng nước sâu, các trung tâm sản xuất, cơ sở logistics và cơ chế ưu đãi đầu tư. Tuy nhiên, trên thực tế, đây là 3 chiến lược khác nhau được thiết kế để giúp Việt Nam nâng cao vị thế trong các chuỗi cung ứng tại châu Á.

Ông Bùi Đào Thái Trường, đối tác tại Roland Berger Đông Nam Á và người đứng đầu bộ phận vận tải của khu vực, cho rằng các FTZ ở miền Bắc, miền Trung và miền Nam Việt Nam sẽ phản ánh lợi thế của từng khu vực thay vì cạnh tranh với nhau để giành cùng một nguồn hàng và nhà đầu tư.

Hải Phòng được định vị để thu hút thêm giá trị từ các cụm sản xuất điện tử và công nghệ cao tập trung tại miền Bắc Việt Nam.

Đà Nẵng đang phát triển vai trò như một cửa ngõ thương mại của miền Trung Việt Nam và Hành lang Kinh tế Đông - Tây của khu vực. Trong khi đó, FTZ của TP.HCM tại Cái Mép dựa trên nguồn hàng hóa lớn của khu vực phía Nam và vị trí chiến lược để hỗ trợ phát triển một trung tâm trung chuyển hàng hóa quốc tế.

Chiến lược này nhằm giải quyết những vấn đề phần nào bắt nguồn từ chính thành công xuất khẩu của Việt Nam. Tổng kim ngạch thương mại hàng hóa của Việt Nam đạt kỷ lục 930 tỷ USD trong năm 2025, đưa Việt Nam trở thành nền kinh tế thương mại hàng hóa lớn thứ hai ASEAN, chỉ sau Singapore. Tuy nhiên, nền kinh tế hàng hải của Việt Nam vẫn phụ thuộc nhiều vào các hoạt động khai thác cảng cơ bản và vận tải nội địa.

“Các FTZ sẽ giúp đa dạng hóa nguồn doanh thu hàng hải và củng cố vị thế của Việt Nam như một trung tâm hàng hải và logistics khu vực”, ông Bùi Đào Thái Trường nói, đề cập đến hoạt động trung chuyển hàng hóa, tiếp nhiên liệu cho tàu, dịch vụ tàu biển và các hoạt động logistics, sản xuất tạo giá trị gia tăng khác trong khu vực cảng.

Ông Yap Kwong Weng, CEO của Vietnam SuperPort - một trung tâm logistics đa phương thức chiến lược thuộc mạng lưới cơ sở toàn cầu do tập đoàn logistics YCH Group của Singapore vận hành - cho biết các nhà sản xuất quy mô nhỏ tại Việt Nam đôi khi phải đối mặt với áp lực dòng tiền cùng chi phí logistics cao.

Mạng lưới 3 khu thương mại tự do tại Hải Phòng, Đà Nẵng và TP. HCM

Theo ông Yap, cơ hội nằm ở việc Việt Nam phát triển các FTZ thành những cụm tạo ra giá trị, chứ không chỉ là nơi lắp ráp. Điều đó đòi hỏi nhiều hơn các chính sách ưu đãi thuế. Việt Nam cũng cần cung cấp các khu vực ưu tiên dành cho hoạt động trung chuyển không chịu thuế, cơ sở kho lạnh và kho ngoại quan, cùng các dịch vụ tài chính và chuyên môn mà các tập đoàn đa quốc gia cần.

“Đây là thời điểm tốt nhất để đặt cược. Nếu được thực hiện đúng cách, điều này sẽ giúp GDP của đất nước tăng đáng kể”, ông Yap Kwong Weng nói trên tờ The Business Times, đề cập đến giai đoạn chuyển đổi của đất nước với mục tiêu tăng trưởng GDP 10% mỗi năm.

HẢI PHÒNG ĐẶT CƯỢC VÀO CHUỖI CUNG ỨNG CÔNG NGHỆ CAO

FTZ rộng 6.292 ha của Hải Phòng bao gồm 3 khu vực không liền nhau được kết nối với các khu kinh tế, trong đó có 2 khu vực xung quanh Lạch Huyện - cửa ngõ nước sâu quốc tế của miền Bắc Việt Nam.

Mục tiêu của khu FTZ Hải Phòng khá rõ ràng, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực công nghệ cao đang sản xuất trên khắp miền Bắc Việt Nam, trong đó có tập đoàn điện thoại di động Samsung của Hàn Quốc và Foxconn của Đài Loan, có thể được khuyến khích mở rộng các hoạt động có giá trị gia tăng cao hơn trong khu vực.

Vị trí gần các chuỗi cung ứng liên quan đến Trung Quốc, kết hợp với việc quản lý hàng tồn kho, phân phối khu vực, logistics và thông quan thuận lợi hơn theo cơ chế FTZ, có thể củng cố sức hút của Hải Phòng với vai trò trung tâm sản xuất và xuất khẩu công nghệ cao.

Tại Hội thảo Cơ sở hạ tầng Bloomberg Businessweek Vietnam tổ chức vào tháng 7, ông Nguyễn Xuân Kỳ, CEO Cảng container Quốc tế Hateco Hải Phòng, chia sẻ về trường hợp nhà máy sản xuất đế bán dẫn và đóng gói chip của LG Innotek đang được xây dựng làm ví dụ cho một khoản đầu tư mà khả năng cạnh tranh phụ thuộc vào việc hạ tầng kết nối có được phát triển kịp thời hay không. Cơ sở này cách cảng Lạch Huyện khoảng 10 km.

“Hệ thống cảng rất mạnh. Nhưng nếu cầu và hạ tầng kết nối không được xây dựng kịp thời trong thời gian tới, chi phí logistics sẽ tăng, tình trạng ùn tắc sẽ quay trở lại và khả năng thu hút đầu tư của khu vực sẽ bị hạn chế”, ông Nguyễn Xuân Kỳ chỉ ra.

ĐÀ NẴNG ĐẶT CƯỢC VÀO HÀNH LANG KINH TẾ

Dù Đà Nẵng không có sản lượng hàng hóa và mật độ sản xuất lớn như miền Bắc và miền Nam Việt Nam, nhưng cơ hội lại đến từ vị trí địa lý và sự linh hoạt về chính sách.

FTZ Đà Nẵng rộng khoảng 1.881 ha được chia thành 7 khu vực không liền nhau, được thiết kế để tận dụng kết nối với cảng Liên Chiểu và sân bay quốc tế Đà Nẵng, đồng thời phát triển song song với khu vực của thuộc Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam.

Tập đoàn YCH đã quyết định đầu tư vào một khu thử nghiệm tại đây, dù miền Trung Việt Nam có nền hàng hóa nhỏ hơn, ông Yap Kwong Weng cho biết. Ông tin rằng cảng Liên Chiểu và FTZ của Đà Nẵng có thể trở thành cửa ngõ vào Hành lang Kinh tế Đông - Tây của khu vực thông qua các kết nối với Lào và những thị trường lân cận.

“Dù dòng hàng hóa tại Đà Nẵng chưa tối ưu so với các khu vực phía Bắc và phía Nam, nhưng thành phố có vị trí địa lý rất chiến lược và tiềm năng trở thành một trung tâm logistics, nơi có thể tối ưu hóa hoạt động phân phối trong khu vực”, ông nhấn mạnh.

“Tôi cho rằng Đà Nẵng có nét tương đồng với những gì Singapore đã làm, khi đảo quốc sư tử bắt đầu bằng việc cải thiện dịch vụ cảng qua nhiều năm”, ông Yap nói thêm.

Thay vì phát triển một khu vực quy mô lớn ngay từ đầu, tập đoàn YCH Singapore đang cân nhắc cách tiếp cận mà ông Yap gọi là “công viên trong công viên” đối với khu thử nghiệm tại Đà Nẵng, bắt đầu bằng một khu vực cốt lõi nhỏ và mở rộng khi nhu cầu dần hình thành.

YCH cũng đang phát triển một số trung tâm logistics đa phương thức trên khắp Việt Nam và Campuchia, cũng như một trung tâm logistics và phân phối thông minh tại khu kinh tế cửa khẩu biên giới giữa hai nước.

TP. HCM ĐẶT CƯỢC VÀO HOẠT ĐỘNG TRUNG CHUYỂN

Dự án phía Nam là chiến lược tham vọng nhất về hàng hải. FTZ TP. HCM rộng 4.174 ha, cách sân bay quốc tế Long Thành đang được xây dựng khoảng 25 km, là một khu vực liền mạch được chia thành 8 phân khu.

Khu vực này bao gồm diện tích các cảng container hiện hữu, 2 bến container Cái Mép Hạ, một ga đường sắt được quy hoạch, một cảng đường thủy nội địa, phần phía Nam của Khu công nghiệp Cái Mép, một trung tâm logistics rộng 906 ha và khu công nghiệp - đô thị - dịch vụ.

Miền Nam Việt Nam sở hữu một trong những vùng hậu phương sản xuất lớn và đa dạng nhất cả nước, đồng thời vẫn là trung tâm chủ lực của hoạt động sản xuất hướng đến xuất khẩu.

Câu hỏi khó hơn là liệu khu vực này có thể thuyết phục các hãng tàu quốc tế chuyển dòng hàng trung chuyển trong khu vực từ những trung tâm đã được thiết lập như Singapore và Malaysia hay không.

Một FTZ là điều kiện rất quan trọng để mở một cảng trung chuyển quốc tế, ông Bùi Đào Thái Trường của Roland Berger nói tại Hội thảo Cơ sở hạ tầng, đồng thời lưu ý vị trí thuận lợi của miền Nam Việt Nam trên các tuyến hàng hải lớn đến Mỹ và châu Âu.

Ông dẫn trường hợp cảng Tanjung Pelepas của Malaysia làm tiền lệ. Maersk, một trong những công ty logistics container lớn nhất thế giới, đã mua cổ phần tại cảng này và chuyển trung tâm trung chuyển hàng hóa Đông Nam Á từ Singapore sang đây vào năm 2000. Ông Bùi Đào Thái Trường cho rằng Việt Nam hoàn toàn có quyền theo đuổi tham vọng tương tự, dù để làm được điều đó, Việt Nam sẽ cần các chính sách và ưu đãi đủ mạnh để thu hút một hoặc nhiều hãng tàu lớn làm đối tác chủ chốt.

Ông Yap Kwong Weng của YCH nhận định, bước đầu tiên đối với các FTZ của Việt Nam rõ ràng sẽ là tạo dựng và xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu. Tuy nhiên, thách thức lớn hơn là xây dựng dấu ấn kỹ thuật số 3 trung tâm, kết nối miền Bắc, miền Trung và miền Nam thành một hệ thống thống nhất. “Nếu được thực hiện tốt, điều này có thể trở thành một tài sản rất giá trị của Việt Nam”, ông kết luận.

Có thể bạn quan tâm