Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp FDI và nghịch lý liên quan ngân sách nhà nước

Dù kinh doanh không hiệu quả, nhưng doanh nghiệp nhà nước (DNNN) lại là khối có đóng góp ngân sách nhà nước cao nhất.
Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp FDI và nghịch lý liên quan ngân sách nhà nước

Theo kết quả Tổng điều tra kinh tế năm 2017 do Tổng cục Thống kê thực hiện, trong năm 2016, khu vực FDI có mức doanh thu thuần tăng mạnh nhất với 134,5% so với năm 2011 và chiếm 27,4% tổng doanh thu thuần.

Khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước có doanh thu thuần tăng 78,8% so với năm 2011 và chiếm tỷ trọng 55,9% toàn bộ khu vực doanh nghiệp.

Tỷ trọng doanh thu thuần thấp nhất thuộc về khu vực DNNN. Cụ thể, khu vực này chỉ chiếm 16,7% doanh thu thuần của khu vực. Theo đó, mức tăng thấp nhất đạt 244 nghìn tỷ đồng, doanh thu thuần bình quân năm tăng 1,7%.

Như vậy, dù là khu vực kinh tế tạo kinh tế tạo động lực nhưng DNNN lại có mức tăng thấp nhất trong 5 năm qua.

Số liệu cũng cho thấy khu vực doanh nghiệp FDI dẫn đầu về hiệu suất sinh lời trên tài sản và vượt trội so với các loại hình doanh nghiệp khác với 6,9% (năm 2016), tiếp đến là khu vực DNNN đạt 2,6% và thấp nhất là doanh nghiệp ngoài nhà nước 1,4%.

Tuy nhiên, phía Tổng cục Thống kê cũng nghi nhận việc DNNN, vốn được coi là kinh doanh không hiệu quả, đang có các mức đóng góp ngân sách cao nhất.

Trong năm 2016, bình quân một doanh nghiệp của khu vực DNNN đóng ngân sách 104 tỷ đồng, cao hơn rất nhiều so với doanh nghiệp FDI là 18 tỷ đồng và doanh nghiệp ngoài nhà nước là 1 tỷ đồng.

Tỷ lệ nộp ngân sách của DNNN chiếm 32,1% trong tổng số thuế và các khoản đã nộp ngân sách của toàn bộ khu vực doanh nghiệp. Tỷ lệ này của doanh nghiệp FDI và ngoài nhà nước lần lượt là 38,7% và 29,1%.

Trong đó, mức thuế và các khoản đã nộp ngân sách của các doanh nghiệp lớn chiếm tới 67,5%, các doanh nghiệp nhỏ chiếm 19,4% còn lại là các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ.

Nghịch lý về tỷ lệ đóng góp cho ngân sách nhà nước giữa các khu vực được ông Phạm Đình Thuý, Vụ trưởng Vụ Thống kê công nghiệp giải thích là do chính sách thuế khác nhau giữa các ngành kinh doanh.

Theo đó, các doanh nghiệp trong nước hoạt động trong các ngành kinh tế chủ yếu có lao động phổ thông nên bị áp thuế GTGT, Thuế TNDN ở mức cao. Trong khi doanh nghiệp FDI hoạt động trong ngành công nghệ cao nên được áp dụng thuế TNDN giảm 50% trong năm đầu kinh doanh. Bên cạnh đó, các lĩnh vực này đều là có lãi suất cao.

Chính bởi vậy, lợi nhuận lãi suất của các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực công nghệ cao tuy rất cao nhưng tỷ lệ đóng góp cho ngân sách thấp.

Về chính sách thuế, Việt Nam không phân biệt các loại hình doanh nghiệp, bà Lê Thị Duyên Hải, Vụ trưởng Vụ Kê khai và Kế toán thuế (Tổng cục Thuế) cho biết. Theo đó, bà giải thích chỉ có các ngành kinh tế với thuế suất GTGT là 5%, 10%.

Mức thuế này áp dụng chung cho khu vực doanh nghiệp, chỉ có khác biệt phần thuế TNDN cho doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ để hỗ trợ.

DNNN có tỷ lệ đóng góp cao hơn so với các khu vực kinh tế khác là vì khu vực này phải đóng góp thêm khoản cổ tức và lợi nhuận sau thuế do sử dụng vốn của Nhà nước. Bà Hải cho biết tỷ lệ này chiếm tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu ngân sách. Năm 2017, khoản cổ tức và lợi nhuận sau thuế của DNNN đóng góp vào ngân sách 67.000 tỷ đồng, năm 2016 là 65.000 tỷ đồng.

Theo Nhịp sống kinh tế

Có thể bạn quan tâm

Giải Golf doanh nhân quốc tế VACOD-HBA 2026 tạo dấu ấn lớn, khí thế hướng đến tháng doanh nhân Việt Nam

Giải Golf doanh nhân quốc tế VACOD-HBA 2026 tạo dấu ấn lớn, khí thế hướng đến tháng doanh nhân Việt Nam

Chủ trì Chương trình Bữa sáng Doanh nhân ngày 5/9, TS Nguyễn Hồng Sơn nêu rõ Giải Golf Doanh nhân Quốc tế VACOD – HBA ghi nhận sức hút và tinh thần đồng hành mạnh mẽ của cộng đồng doanh nhân; đồng thời chia sẻ những đánh giá tích cực từ đợt kiểm tra liên ngành đối với hoạt động của VACOD...

EVFTA sau 6 năm: Cánh cửa thuế quan mở, nhưng lại vướng "bức tường xanh"

EVFTA sau 6 năm: Cánh cửa thuế quan mở, nhưng lại vướng "bức tường xanh"

Nếu những năm đầu, lợi ích lớn nhất của EVFTA được nhìn thấy ở việc cắt giảm thuế quan và mở rộng thị trường, thì hiện nay, cuộc cạnh tranh đã chuyển sang một mặt trận khó hơn là tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, phát thải carbon, chống phá rừng và trách nhiệm xã hội...

EVFTA sau 6 năm: Từ cú hích thương mại đến cuộc cải cách sâu hơn của nền kinh tế

EVFTA sau 6 năm: Từ cú hích thương mại đến cuộc cải cách sâu hơn của nền kinh tế

6 năm sau khi Hiệp định Thương mại tự do Liên minh châu Âu (EU) - Việt Nam (EVFTA) có hiệu lực, quan hệ kinh tế Việt Nam - EU đã bước sang một giai đoạn mới, kim ngạch thương mại hai chiều tăng mạnh, xuất khẩu của Việt Nam lập những mốc cao mới, tỷ lệ tận dụng ưu đãi thuế quan cải thiện rõ rệt...