Ngành lúa gạo Đông Nam Á chịu sức ép lớn do chiến sự Trung Đông

Giá đầu vào và chi phí logistics tăng mạnh do xung đột Trung Đông đang tạo áp lực lớn lên chuỗi sản xuất và xuất khẩu gạo của Đông Nam Á, buộc nông dân lẫn doanh nghiệp phải tính toán lại hiệu quả sản xuất trong bối cảnh thị trường ngày càng nhiều bất định…

Ông Nguyễn Thanh Giang cùng nhiều nông dân trồng lúa tại xã Bình Thạnh, tỉnh An Giang, đã thu hoạch vụ lúa xuân vào đầu tháng 4/2026. Người dân địa phương tại đây thường canh tác ba vụ lúa liên tiếp mỗi năm.

“Chúng tôi vẫn chưa bán được lúa, nhưng giá thu mua hiện tại không thay đổi so với năm 2025, trong khi chi phí sản xuất lại tăng cao”, ông Giang - người đứng đầu một hợp tác xã nhỏ - cho biết, đồng thời chỉ ra rằng giá dầu diesel đã tăng gấp đôi cùng với đà leo thang của nhiều loại chi phí đầu vào khác.

“Một số người đang nghiêm túc cân nhắc việc không tiếp tục gieo trồng vụ tới”, ông Giang nói thêm.

Không chỉ Việt Nam, các nông dân và doanh nghiệp xuất khẩu gạo tại Thái Lan - một trong ba quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới cùng với Việt Nam và Ấn Độ - cũng đang chịu áp lực tương tự.

ÁP LỰC ĐỐI VỚI TOÀN KHU VỰC

Thái Lan đặt mục tiêu xuất khẩu 7 triệu tấn gạo ra thị trường toàn cầu trong năm 2026, tuy nhiên cuộc xung đột tại Trung Đông đã khiến thị trường trở nên bất ổn với tình hình gián đoạn nguồn cung, giá dầu tăng cao và vô số bất định về kinh tế.

“Chúng tôi thực sự rất lo lắng”, ông Chookiat Ophaswongse, Chủ tịch danh dự Hiệp hội Xuất khẩu Gạo Thái Lan, chia sẻ với The Straits Times.

Iraq hiện là thị trường nhập khẩu gạo lớn nhất của Thái Lan, với khối lượng lên tới 1 triệu tấn trong năm 2025. Tuy nhiên, theo ông Chookiat, xuất khẩu gạo của Thái Lan gần như đã ngừng hoàn toàn kể từ khi xung đột bùng phát, do tàu hàng không thể đi qua eo biển Hormuz.

Ông kỳ vọng Thái Lan có thể chuyển hướng xuất khẩu sang các thị trường lân cận như Malaysia, Indonesia và Philippines.

Tại Việt Nam, các chuyên gia cảnh báo rằng nếu xung đột kéo dài, hoạt động xuất khẩu cũng sẽ bị ảnh hưởng đáng kể.

Theo ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam kiêm Tổng Giám đốc Intimex Group, tác động hiện tại chưa quá nghiêm trọng. “Việt Nam chưa bị ảnh hưởng ngay lập tức do cơ cấu xuất khẩu vẫn tập trung vào các thị trường gần như Trung Quốc và Philippines, nên áp lực logistics chưa quá lớn”, ông Nam nói.

Philippines hiện là khách hàng lớn nhất của gạo Việt Nam, chiếm khoảng 40% tổng lượng xuất khẩu. Tuy nhiên, thị trường này đang thu hẹp dần do nhiều yếu tố, trong đó có chi phí logistics gia tăng từ xung đột Trung Đông.

“Nếu tình hình kéo dài, tác động sẽ mang tính căn cơ đối với sản xuất. Khi chi phí tăng nhưng giá bán không theo kịp, hiệu quả giảm, việc người nông dân cân nhắc chuyển đổi cây trồng là điều khó tránh khỏi”, ông Nam lưu ý.

Xung đột Trung Đông đang khiến chi phí vận chuyển hàng hóa, đặc biệt là thực phẩm, tăng mạnh.

Ông Gary Dale Cearley, Giám đốc điều hành công ty logistics Red Wolf Global - đơn vị có văn phòng tại Việt Nam - cho biết: “Gạo gần như được vận chuyển hoàn toàn bằng đường biển từ Đồng bằng sông Cửu Long qua các cảng lớn tại khu vực TP.HCM. Hiện nay, các chuyến tàu phải kéo dài thời gian vận chuyển thêm từ 7 đến 15 ngày do phải đi vòng tránh các khu vực xung đột”.

“Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu thực phẩm Việt Nam, chi phí vận tải biển là yếu tố chịu tác động nặng nề nhất, khi đã tăng từ 25% đến 35%. Điều này còn bị cộng hưởng bởi phí bảo hiểm tăng, cũng như chi phí logistics nội địa tại Việt Nam tăng thêm khoảng 0,8 đến 1,2 USD mỗi tấn”, ông chỉ ra.

Tuy nhiên, tác động tiêu cực của xung đột hiện vẫn có độ trễ nhất định.

Tiến sĩ Hoàng Trọng Thuỷ, chuyên gia nông nghiệp và cố vấn của Đài Truyền hình Việt Nam (VTV), chia sẻ: “Xuất khẩu gạo thực tế vẫn tăng về khối lượng, do phần lớn hợp đồng đã được ký từ năm trước. Tính đến giữa tháng 3, Việt Nam đã xuất khẩu 1,74 triệu tấn, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm 2025. Tuy nhiên, giá lại giảm và nhiều doanh nghiệp Việt Nam buộc phải chấp nhận để cạnh tranh với các quốc gia xuất khẩu lớn như Ấn Độ và Thái Lan”.

Điều này khiến biên lợi nhuận không chỉ của nông dân mà cả các doanh nghiệp thương mại đều bị ảnh hưởng tiêu cực.

ỔN ĐỊNH AN NINH LƯƠNG THỰC VÀ GIẢI PHÁP CHO DÀI HẠN

Theo Bộ Tài chính Việt Nam, dự trữ lương thực quốc gia đạt khoảng 500.000 tấn trong năm 2025 và mục tiêu năm 2026 là 420.000 tấn. Các chuyên gia đều khẳng định Việt Nam hiện chưa đối mặt với rủi ro lớn về an ninh lương thực.

Tuy nhiên, ông Đỗ Hà Nam nêu rõ cần nhìn nhận vấn đề trong dài hạn: “Khi lợi nhuận từ lúa giảm, nông dân sẽ chuyển sang cây trồng khác. Nếu xu hướng này gia tăng, nguồn cung lúa gạo trong những năm tới có thể bị ảnh hưởng”.

Theo ông, Việt Nam có thể điều chỉnh chính sách xuất khẩu theo hướng linh hoạt, không dừng xuất khẩu đột ngột mà cân đối giữa nhu cầu trong nước và vai trò là một trong những quốc gia cung cấp gạo hàng đầu thế giới.

“An ninh lương thực không chỉ là có đủ gạo hôm nay, mà còn là đảm bảo nông dân tiếp tục trồng lúa trong tương lai”, ông nhấn mạnh.

Tiến sĩ Lê Anh Tuấn, giảng viên cao cấp Khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên của trường Đại học Cần Thơ, nhận định rằng nguy cơ thiếu lương thực tại Việt Nam là không lớn.

“Không có đồng bằng nào trên thế giới có thể sản xuất khoảng 7 triệu tấn gạo chỉ trong 100 ngày như Đồng bằng sông Cửu Long”, ông nói. Khu vực này rộng khoảng 40.000 km², là nơi sinh sống của hơn 17 triệu người, phần lớn là nông dân. Khoảng 90% lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam, tương đương hơn 8 triệu tấn, trị giá 4,1 tỷ USD trong năm 2025, đến từ đây.

Tiến sĩ Hoàng Trọng Thủy cũng đề xuất nông dân giảm sử dụng phân bón hóa học, chuyển sang phân hữu cơ, tối ưu hóa tưới tiêu và phát triển mô hình lúa phát thải thấp nhằm mở rộng thị trường cho các dòng gạo chất lượng cao.

Hiện giá gạo 5% tấm của Việt Nam ở mức khoảng 460 USD/tấn, trong khi một số giống đặc biệt có thể đạt tới 630 USD/tấn hoặc cao hơn. Gạo phát thải thấp, còn gọi là gạo có “dấu chân carbon thấp”, có thể bán với giá cao hơn từ 10% đến 25% so với gạo thông thường nhờ nhu cầu ngày càng tăng đối với sản phẩm thân thiện môi trường.

Trở lại An Giang, ông Nguyễn Thanh Giang nói rằng ông muốn tiên phong ứng dụng công nghệ hiện đại nhằm giảm chi phí lao động và sản xuất.

Nhóm nông dân của ông là một trong những đơn vị đầu tiên tại Việt Nam sử dụng máy bay không người lái để gieo sạ, tưới nước, bón phân và phát hiện sâu bệnh trên đồng ruộng.

“Tôi ủng hộ việc giảm từ ba vụ xuống còn hai vụ mỗi năm. Chúng tôi chấp nhận sản lượng ít hơn nhưng bán được giá cao hơn”, ông nhấn mạnh.

Trong khi đó, tại Thái Lan, nông dân Boontham Khlaiphueak, 57 tuổi, sở hữu gần 1 ha đất tại tỉnh Khon Kaen, than thở rằng ông không có lựa chọn nào khác ngoài việc tiếp tục trồng lúa, dù chi phí tăng quá cao.

Kể từ khi xung đột Mỹ - Iran bùng phát hai tháng trước, chi phí nhiên liệu đã khiến chi phí cày đất bằng máy kéo tăng từ 250 baht lên 500 baht cho mỗi rai (0,16 ha). “Chúng tôi chỉ còn cách chờ thời điểm thích hợp để gieo trồng, ngay cả khi phải chấp nhận thua lỗ”, ông nói.

Có thể bạn quan tâm