Nhiều doanh nghiệp "sảy chân" vì danh mục đầu tư chứng khoán

Sự phân hóa mạnh của thị trường trong quý 2/2026 khiến nhiều doanh nghiệp nắm giữ danh mục cổ phiếu lớn không thể hưởng lợi từ nhịp hồi của chỉ số...

Mặc dù VN-Index tăng hơn 11% trong quý 2/2026, đà phục hồi của thị trường không lan tỏa đồng đều mà tập trung ở một số cổ phiếu dẫn dắt. Sự phân hóa này khiến nhiều công ty chứng khoán và doanh nghiệp có hoạt động đầu tư tài chính quy mô lớn ghi nhận kết quả kém tích cực khi danh mục tự doanh phát sinh các khoản lỗ đáng kể.

CÔNG TY CHỨNG KHOÁN ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN CŨNG… LỖ

Một trong những doanh nghiệp chịu tác động rõ nét nhất là Công ty Cổ phần Chứng khoán VIX (mã chứng khoán: VIX). Trong quý 2, công ty ghi nhận lợi nhuận sau thuế gần 76 tỷ đồng, giảm hơn 87% so với cùng kỳ năm trước.

Theo giải trình của doanh nghiệp, nguyên nhân chủ yếu đến từ hoạt động đầu tư tài chính. Doanh thu từ các tài sản tài chính ghi nhận thông qua lãi/lỗ (FVTPL) suy giảm mạnh, trong khi chi phí liên quan đến danh mục này tăng thêm gần 866 tỷ đồng do phải đánh giá lại giá trị các khoản đầu tư theo diễn biến thị trường.

Tính đến ngày 30/6, VIX sở hữu danh mục FVTPL có giá gốc hơn 17.200 tỷ đồng, trong đó riêng cổ phiếu niêm yết chiếm hơn 10.400 tỷ đồng. Tuy nhiên, giá trị hợp lý của toàn bộ danh mục chỉ còn tương đương khoản lỗ chưa thực hiện hơn 2.200 tỷ đồng so với giá vốn.

Riêng trong quý 2, hoạt động FVTPL ghi nhận khoản lỗ lên tới 1.129 tỷ đồng, cao gấp hơn bốn lần cùng kỳ năm ngoái và chủ yếu đến từ việc đánh giá lại danh mục cổ phiếu. Ước tính, riêng mảng tự doanh đã khiến VIX lỗ khoảng 200 tỷ đồng, trở thành nguyên nhân lớn nhất khiến lợi nhuận sụt giảm mạnh.

Ở chiều ngược lại, hoạt động cho vay ký quỹ vẫn duy trì tăng trưởng tích cực. Doanh thu từ các khoản phải thu và cho vay đạt gần 348 tỷ đồng, tăng hơn 60% so với cùng kỳ, phản ánh dư nợ margin tiếp tục mở rộng trong bối cảnh nhu cầu sử dụng đòn bẩy của nhà đầu tư vẫn ở mức cao.

Không riêng VIX, Công ty Cổ phần Chứng khoán Vietcap (mã chứng khoán: VCI) cũng ghi nhận những biến động đáng chú ý trong hoạt động đầu tư.

Theo báo cáo tài chính hợp nhất quý 2, danh mục FVTPL của Vietcap có nguyên giá 2.465 tỷ đồng, trong khi giá trị hợp lý còn khoảng 2.463 tỷ đồng, tương ứng khoản lỗ chưa thực hiện gần 2 tỷ đồng. Phần lớn danh mục này là trái phiếu Chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp nên mức biến động không quá lớn.

Trong khi đó, danh mục tài sản tài chính sẵn sàng để bán (AFS) tiếp tục ghi nhận diễn biến tích cực. Với giá gốc 12.243 tỷ đồng, giá trị hợp lý của danh mục đạt khoảng 14.047 tỷ đồng, tương ứng khoản lãi chưa thực hiện hơn 1.800 tỷ đồng.

Ở nhóm cổ phiếu niêm yết, Vietcap phân bổ vốn vào nhiều doanh nghiệp lớn như MCH, KDH và FPT. Trong đó, khoản đầu tư vào MCH vẫn mang lại hiệu quả tích cực, song công ty đang tạm ghi nhận mức lỗ khoảng 212 tỷ đồng đối với FPT và gần 187 tỷ đồng tại TDH.

Tình trạng tương tự cũng diễn ra tại , Công ty Cổ phần Chứng khoán VietinBank (mã chứng khoán: CTS). Mặc dù doanh thu từ hoạt động cho vay ký quỹ tiếp tục cải thiện, lợi nhuận trước thuế quý II của doanh nghiệp chỉ đạt hơn 15 tỷ đồng, giảm tới 91% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu đến từ hoạt động tự doanh khi danh mục FVTPL chuyển từ trạng thái có lãi sang thua lỗ.

Trong quý 2/2026, CTS ghi nhận gần 97 tỷ đồng doanh thu từ tài sản tài chính FVTPL, giảm 73% so với cùng kỳ, trong khi các khoản lỗ liên quan đến danh mục này vẫn lên tới khoảng 130 tỷ đồng. Sau khi bù trừ, hoạt động FVTPL ghi nhận khoản lỗ gần 33 tỷ đồng.

Tính đến cuối tháng 6, danh mục cổ phiếu niêm yết của CTS vẫn có giá trị hợp lý cao hơn giá vốn khoảng 68,2 tỷ đồng. Tuy nhiên, mức chênh lệch này đã giảm gần một nửa so với cuối quý 1, phản ánh sự suy yếu của nhiều khoản đầu tư trong giai đoạn thị trường điều chỉnh.

Một số cổ phiếu ghi nhận mức giảm giá trị đáng kể gồm EIB với hơn 37,3 tỷ đồng, GEL hơn 29,4 tỷ đồng, GEE gần 20,8 tỷ đồng và TAL khoảng 12,5 tỷ đồng. Ngược lại, một số khoản đầu tư khác vẫn tăng giá, qua đó bù đắp một phần tổn thất của danh mục.

Đáng chú ý hơn là nhóm cổ phiếu chưa niêm yết. Tại ngày 30/6, giá vốn của danh mục này ở mức 138,4 tỷ đồng nhưng giá trị hợp lý chỉ còn hơn 60,3 tỷ đồng, tương ứng khoản lỗ chưa thực hiện khoảng 78 tỷ đồng.

Trong đó, khoản đầu tư vào HNG có giá vốn gần 94,7 tỷ đồng nhưng được định giá còn khoảng 43,1 tỷ đồng, thấp hơn giá vốn 51,6 tỷ đồng. Tương tự, khoản đầu tư vào TLP cũng chỉ còn giá trị hợp lý khoảng 15,5 tỷ đồng, trong khi giá vốn vượt 35 tỷ đồng.

Tổng cộng, danh mục FVTPL của CTS có giá vốn gần 2.781,6 tỷ đồng và giá trị hợp lý khoảng 2.780,8 tỷ đồng tại cuối quý 2. Mặc dù xét trên tổng thể gần như hòa vốn, bên trong danh mục vẫn xuất hiện sự phân hóa rất lớn giữa các khoản đầu tư đang có lãi và những khoản phải ghi nhận mức giảm giá trị đáng kể.

Không chỉ các công ty chứng khoán, một số doanh nghiệp ngoài ngành có quy mô đầu tư cổ phiếu lớn cũng chịu tác động từ diễn biến phân hóa của thị trường.

Theo báo cáo tài chính hợp nhất quý 2, Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Nhà Đà Nẵng (mã chứng khoán: NDN) ghi nhận doanh thu 36,2 tỷ đồng, tăng gần 32% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, lợi nhuận sau thuế giảm gần 11%, còn 26,1 tỷ đồng.

Doanh nghiệp cho biết nguyên nhân chủ yếu đến từ hiệu quả danh mục đầu tư chứng khoán suy giảm khi thị trường biến động bất lợi, khiến chi phí và trích lập dự phòng tăng mạnh. Tổng chi phí trong quý theo đó tăng từ khoảng 100 triệu đồng lên 7,7 tỷ đồng.

Tính đến cuối tháng 6, NDN đang nắm giữ danh mục cổ phiếu có giá gốc hơn 659 tỷ đồng, tăng gần 70% so với đầu năm. Giá trị hợp lý của danh mục đạt khoảng 823 tỷ đồng, tập trung vào các cổ phiếu vốn hóa lớn như HPG, VHM, VPB, MBB và GEX.

Đáng chú ý, khoản dự phòng giảm giá chứng khoán đã tăng từ 14,6 tỷ đồng đầu năm lên gần 26,9 tỷ đồng vào cuối quý 2. Trong 6 tháng đầu năm, doanh nghiệp trích lập gần 30 tỷ đồng và hoàn nhập khoảng 17,6 tỷ đồng, khiến số dư dự phòng tăng thêm hơn 12 tỷ đồng. Dù vậy, nhiều khoản đầu tư của NDN vẫn đang ghi nhận mức lãi đáng kể.

ĐỊNH GIÁ XUỐNG VÙNG HẤP DẪN NHƯNG RỦI RO VẪN HIỆN HỮU

Ở góc nhìn thị trường, Chứng khoán SHS cho biết tại thời điểm ngày 22/7/2026, khi VN-Index ở mức 1.668 điểm, vốn hóa thị trường đạt khoảng 382 tỷ USD, tương đương 74% GDP năm 2025. Thị trường đang giao dịch với mức P/E khoảng 12,09 lần, P/B 1,81 lần và P/S 1,44 lần.

Nếu loại trừ nhóm cổ phiếu Vingroup có vốn hóa khoảng 91 tỷ USD, phần còn lại của thị trường chỉ còn quy mô khoảng 291 tỷ USD với P/E 10,37 lần và P/B 1,53 lần. Theo SHS, đây là vùng định giá từng xuất hiện trong các giai đoạn tạo đáy của những chu kỳ điều chỉnh lớn trước đây, cho thấy mặt bằng giá cổ phiếu đã trở nên hấp dẫn hơn đối với nhà đầu tư dài hạn.

Tuy nhiên, công ty chứng khoán cũng lưu ý một điểm khác biệt đáng kể so với các chu kỳ trước là dư nợ cho vay ký quỹ hiện vẫn ở mức rất cao. Điều này đồng nghĩa áp lực bán giải chấp có thể tiếp tục tạo biến động mạnh nếu thị trường giảm sâu hơn.

Về diễn biến ngắn hạn, SHS cho rằng VN-Index vẫn trong xu hướng suy yếu sau khi đánh mất các vùng hỗ trợ quan trọng như đường trung bình động 200 phiên và mốc tâm lý 1.750 điểm.

Theo kịch bản cơ sở, nếu áp lực giải chấp tiếp tục kéo dài, chỉ số có thể lùi về vùng 1.670-1.700 điểm, tương ứng khu vực đáy được thiết lập trong tháng 4/2026, trước khi phục hồi trở lại vùng 1.770-1.800 điểm.

Ở kịch bản kém tích cực hơn, khi áp lực bán lan rộng và ảnh hưởng sang nhóm cổ phiếu Vingroup, VN-Index có thể điều chỉnh về quanh 1.600 điểm trước khi hình thành vùng cân bằng mới.

Dù vậy, SHS vẫn đánh giá triển vọng trung và dài hạn của thị trường chưa hoàn toàn tiêu cực khi nhiều yếu tố hỗ trợ vẫn hiện hữu. Nền kinh tế được kỳ vọng duy trì tăng trưởng GDP trên 10% trong năm 2026, lạm phát có xu hướng hạ nhiệt, mặt bằng lãi suất ổn định hơn và việc thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức được FTSE nâng hạng được kỳ vọng sẽ góp phần thu hút thêm dòng vốn ngoại.

Ở chiều ngược lại, công ty chứng khoán lưu ý một số yếu tố rủi ro và bất định gồm căng thẳng địa chính trị trên thế giới tiếp diễn, áp lực thuế quan có thể gia tăng trở lại và làm thu hẹp dòng chảy thương mại trong năm 2026. Ngoài ra, SHS cho rằng bong bóng đã hình thành trên nhiều loại tài sản như tiền mã hóa, vàng - bạc và kim loại quý, AI, trong khi giá bất động sản giảm. Đặc biệt, tỷ lệ dư nợ cho vay ký quỹ trên thị trường hiện vẫn ở mức rất cao.

Về triển vọng các nhóm ngành trong nửa cuối năm 2026, SHS đánh giá ngân hàng tiếp tục là nhóm đáng chú ý với tăng trưởng lợi nhuận dự kiến đạt 16-18%, được hỗ trợ bởi tín dụng tiếp tục mở rộng, đặc biệt ở lĩnh vực đầu tư xây dựng hạ tầng.

Đồng thời, biên lãi ròng (NIM) được kỳ vọng cải thiện hoặc ổn định trở lại nhờ các giải pháp hỗ trợ thanh khoản từ Ngân hàng Nhà nước. Sau nhịp điều chỉnh của thị trường, định giá của nhóm ngân hàng cũng đã trở về vùng hấp dẫn. SHS ưu tiên các ngân hàng có lợi thế về nguồn vốn, quản trị rủi ro thận trọng và sở hữu câu chuyện tăng trưởng riêng.

Đối với nhóm vật liệu cơ bản, công ty chứng khoán kỳ vọng sẽ hưởng lợi từ "chu kỳ hạ tầng mới" giai đoạn 2026-2030, khi nhu cầu vốn đầu tư hạ tầng đến năm 2030 ước khoảng 266 tỷ USD, kéo theo nhu cầu lớn đối với các loại vật liệu xây dựng. Ngoài ra, chính sách ưu tiên hàng hóa sản xuất trong nước và khuyến khích doanh nghiệp nội địa tham gia các dự án quy mô lớn cũng được xem là động lực hỗ trợ ngành.

Ở nhóm bán lẻ (tiêu dùng không thiết yếu), SHS cho rằng ngành công nghệ thông tin và điện tử tiêu dùng (ICT & CE) đang bước vào giai đoạn bão hòa hơn, cạnh tranh ngày càng gay gắt. Trọng tâm tăng trưởng sẽ chuyển từ mở rộng quy mô sang nâng cao trải nghiệm khách hàng và ứng dụng AI.

Bên cạnh đó, xu hướng dịch chuyển từ mô hình bán lẻ truyền thống sang hiện đại vẫn tiếp diễn, trong khi một số doanh nghiệp có thể thu hút sự quan tâm nhờ các câu chuyện IPO công ty con.

Có thể bạn quan tâm