Vốn cho chuyển đổi xanh: Chờ sức bật từ thị trường carbon

Thị trường carbon đã đi vào vận hành, song thanh khoản còn hạn chế, trong khi khả năng tạo doanh thu từ tín chỉ vẫn phụ thuộc vào nhiều điều kiện...

Thị trường carbon đang mở ra một hướng mới, giúp doanh nghiệp không chỉ đầu tư để giảm phát thải, mà còn có thể tạo ra giá trị kinh tế từ những kết quả giảm phát thải đủ điều kiện được công nhận và giao dịch. Song, từ một kết quả môi trường đến một nguồn thu có thể dự báo và từ nguồn thu đó đến quyết định cấp tín dụng của ngân hàng vẫn còn một chặng đường cần nhiều điều kiện bảo đảm.

Đây cũng là vấn đề được đặt ra tại hội thảo “Chính sách tín dụng và thị trường carbon: Khơi thông dòng vốn xanh” do Báo Tài chính - Đầu tư phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức sáng 14/10 tại Hà Nội.

TỪ KẾT QUẢ GIẢM PHÁT THẢI ĐẾN DÒNG TIỀN

Việc đưa thị trường carbon trong nước vào vận hành từ ngày 29/6/2026 đánh dấu bước chuyển của Việt Nam từ xây dựng khuôn khổ chính sách sang hình thành hạ tầng giao dịch.

Tuy nhiên, số liệu được công bố tại hội thảo cho biết, ba tháng sau ngày khai trương trên hệ thống của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), sàn giao dịch carbon trong nước mới chỉ vận hành với một hàng hóa duy nhất là hạn ngạch phát thải khí nhà kính mã VN2025. Tính đến hết ngày 28/9, toàn thị trường ghi nhận 7 giao dịch với 1.310 hạn ngạch, tổng trị giá khoảng 174,8 triệu đồng.

Thực tế này cho thấy, cần phân biệt giữa việc thị trường đã có hạ tầng giao dịch và việc thị trường đã hình thành thanh khoản, giá tham chiếu đủ ổn định để hỗ trợ các quyết định tài chính.

Đối với ngân hàng, sự khác biệt này có ý nghĩa trực tiếp. Một dự án có tiềm năng giảm phát thải chưa đồng nghĩa với việc dự án chắc chắn tạo ra tín chỉ carbon. Thậm chí, có tín chỉ cũng chưa đồng nghĩa với việc tín chỉ có thể bán ngay, với mức giá xác định và thời điểm thu tiền rõ ràng.

Theo TS. Nguyễn Thị Thu Hà, Giám đốc Trường Đào tạo cán bộ kiêm Phó trưởng ban Chỉ đạo ESG Agribank, việc một dự án đáp ứng tiêu chí phân loại xanh không đồng nghĩa dự án đó có tín chỉ carbon. Ngược lại, việc có tín chỉ cũng không mặc nhiên bảo đảm dự án đáp ứng đầy đủ điều kiện cấp tín dụng.

Bởi lẽ, hai hệ thống đánh giá có mối liên hệ nhưng phục vụ những mục tiêu khác nhau. Một bên xác định đặc tính môi trường của dự án, bên còn lại phải xem xét tổng thể khả năng trả nợ và rủi ro tài chính.

Bà Nguyễn Thị Thu Hà, Giám đốc Trường Đào tạo cán bộ kiêm Phó trưởng ban Chỉ đạo ESG - Agribank

"Do đó, bài toán trước mắt không phải là đưa mọi giá trị carbon vào hồ sơ vay vốn, mà là xác định phần giá trị nào đã được chứng minh, quyền kinh tế thuộc về ai và khả năng thu hồi tiền từ giá trị đó đến đâu", bà Hà nêu quan điểm.

Như vậy, khi nhìn từ bàn duyệt tín dụng, có thể tách dòng tiền của một dự án thành hai tầng. Tầng thứ nhất là dòng tiền cốt lõi từ hoạt động kinh doanh, chẳng hạn doanh thu bán hàng, dịch vụ hoặc khoản tiết kiệm chi phí nhờ sử dụng năng lượng hiệu quả hơn. Tầng thứ hai là nguồn thu bổ sung từ việc thương mại hóa tín chỉ carbon.

Nếu dòng tiền kinh doanh có thể được dự báo dựa trên sản lượng, giá bán, chi phí và thị trường đầu ra, trong khi doanh thu carbon còn phụ thuộc vào lượng tín chỉ thực tế được xác nhận, giá giao dịch, khả năng tìm người mua và thời điểm thanh toán. Các chi phí đo lường, báo cáo, thẩm định và xác minh cũng phát sinh trước khi tín chỉ có thể được đưa ra thị trường.

Bà Hà cho rằng, khoảng cách giữa nhu cầu vốn đầu tư ban đầu và thời điểm hình thành doanh thu từ tín chỉ carbon là một trong những thách thức lớn đối với thị trường hiện nay. Doanh nghiệp cần vốn để triển khai dự án, đầu tư công nghệ và hoàn thiện hồ sơ, trong khi nguồn thu từ carbon chỉ có thể hình thành sau khi đáp ứng các điều kiện cần thiết.

VỐN XANH CẦN ĐI TRƯỚC

Với bối cảnh trên, các chuyên gia tham dự hội thảo đều gợi mở, những dự án cần vốn đầu tư ban đầu lớn, ngân hàng có thể xem xét tài trợ cho việc đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, thay đổi quy trình sản xuất hoặc tổ chức vùng nguyên liệu phát thải thấp.

Việc thẩm định vẫn phải dựa trên phương án kinh doanh, năng lực tài chính và khả năng trả nợ của khách hàng; doanh thu carbon chỉ nên được tính đến ở mức độ phù hợp với bằng chứng và mức độ chắc chắn thực tế.

Trong trường hợp dự án chưa đủ điều kiện tạo doanh thu từ carbon, ngân hàng vẫn có thể đánh giá dự án theo các nguồn thu và lợi ích kinh tế khác, như tiết kiệm năng lượng, giảm chi phí đầu vào hoặc cải thiện năng suất. Cách tiếp cận này giúp tránh phụ thuộc quá mức vào một nguồn thu còn nhiều bất định, đồng thời vẫn tạo điều kiện cho các dự án có hiệu quả môi trường và kinh tế tiếp cận vốn.

Quang cảnh hội thảo Hội thảo "Chính sách tín dụng và thị trường Carbon: Khơi thông dòng vốn xanh"

Theo CFA Lê Hoài Ân, tín dụng xanh tại Việt Nam ghi nhận tốc độ tăng trưởng bình quân đạt trên 20% mỗi năm trong giai đoạn 2017–2025. Tuy nhiên, đến cuối tháng 6/2026, dư nợ tín dụng xanh mới đạt khoảng 856.000 tỷ đồng.

Điều này cho thấy, bài toán không chỉ nằm ở việc mở rộng nguồn vốn mà còn ở khả năng thiết kế các sản phẩm tài chính phù hợp với đặc điểm của dự án xanh, từ thời gian đầu tư, cấu trúc dòng tiền đến cơ chế chia sẻ rủi ro.

KHÔNG THỂ CHỈ DỰA VÀO TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

Tín dụng xanh có thể giúp doanh nghiệp khởi động dự án, nhưng không thể một mình đáp ứng toàn bộ nhu cầu vốn cho quá trình chuyển đổi. Với những dự án cần vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài hoặc phụ thuộc vào sự hình thành của thị trường carbon, việc kết hợp nhiều nguồn tài chính sẽ giúp phân bổ nguồn lực phù hợp hơn với đặc điểm và giai đoạn phát triển của từng dự án.

Bên cạnh nguồn vốn từ các ngân hàng thương mại, doanh nghiệp có thể tiếp cận các quỹ khí hậu, nguồn tài chính ưu đãi từ tổ chức phát triển quốc tế, vốn đầu tư tư nhân và các chương trình hỗ trợ chuyển đổi xanh.

Việc kết nối với các tổ chức như Quỹ Khí hậu Xanh (GCF), Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA), Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC), Ngân hàng Thế giới và ADB là một hướng để đa dạng hóa nguồn lực tài chính cho các dự án.

Mỗi kênh vốn có điều kiện và khẩu vị rủi ro khác nhau. Vì vậy, việc phối hợp các nguồn tài chính cần dựa trên đặc điểm của dự án, khả năng trả nợ, thời gian hoàn vốn và mức độ chắc chắn của dòng tiền, thay vì mặc định mọi nhu cầu đầu tư đều phải được đáp ứng bằng tín dụng ngân hàng.

Phó Thống đốc Nguyễn Ngọc Cảnh

Theo Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Ngọc Cảnh, thị trường carbon vận hành hiệu quả có thể tạo thêm nguồn lực tài chính cho doanh nghiệp, góp phần giảm áp lực lên tín dụng ngân hàng và nâng cao hiệu quả phân bổ vốn xanh.

Như vậy, trong giai đoạn đầu, tín dụng xanh cần đi trước để hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện các khoản đầu tư giảm phát thải có phương án tài chính khả thi. Khi thị trường carbon dần hoàn thiện, nguồn thu từ tín chỉ có thể trở thành một cấu phần bổ sung. Cùng với đó, việc huy động vốn từ nhiều kênh sẽ quyết định khả năng mở rộng quy mô đầu tư xanh mà không đặt toàn bộ gánh nặng tài chính lên hệ thống ngân hàng.

Có thể bạn quan tâm