Theo báo cáo ngành ngân hàng mới công bố của VPBankS Research, tăng trưởng tín dụng và thu nhập ngoài lãi đang tạo động lực cải thiện lợi nhuận ngân hàng, song áp lực huy động vốn và chất lượng tài sản vẫn là những yếu tố cần theo dõi trong nửa cuối năm 2026.
THU NHẬP NGOÀI LÃI TẠO THÊM ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG
Theo VPBankS Research, tổng thu nhập hoạt động của nhóm ngân hàng được theo dõi trong quý 2/2026 tăng 19% so với cùng kỳ năm trước, cải thiện đáng kể so với mức tăng 15,2% trong quý 1. Đây cũng là quý ghi nhận tốc độ tăng trưởng cao nhất của chỉ tiêu này kể từ cuối năm 2024, với đóng góp từ cả thu nhập lãi thuần và các nguồn thu ngoài lãi.
Cụ thể, thu nhập lãi thuần trong quý 2 tăng 17,1% so với cùng kỳ, trong khi thu nhập ngoài lãi tăng 25,1%. Đáng chú ý, thu nhập phí thuần đạt 28.559 tỷ đồng, tăng 69,8% và chiếm 54,3% tổng thu nhập ngoài lãi của nhóm ngân hàng được nghiên cứu.
VPBankS đánh giá diễn biến này cho thấy nguồn thu ngoài lãi đang có sự cải thiện về chất lượng, khi tăng trưởng được hỗ trợ bởi các hoạt động dịch vụ cốt lõi, thay vì chủ yếu phụ thuộc vào những khoản thu nhập bất thường.
Một trong những điểm đáng chú ý trong báo cáo của VPBankS là tốc độ tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đã tăng khá nhanh. Tính đến cuối quý 2, tín dụng tăng 8,37% so với đầu năm, cao hơn đáng kể mức tăng 3,2% ghi nhận trong quý 1.
Tuy nhiên, diễn biến tín dụng giữa các ngân hàng có sự phân hóa rõ rệt. Trong nhóm được VPBankS theo dõi, VPBank ghi nhận mức tăng trưởng tín dụng 23% so với đầu năm, HDBank tăng 20,6%, MB tăng 13,2% và Techcombank tăng 10,4%.
Ở nhóm ngân hàng quốc doanh, tín dụng tại Vietcombank tăng 5,1%, BIDV tăng 5,4% và VietinBank tăng 5%. Trong khi đó, Sacombank ghi nhận mức tăng trưởng tín dụng 1,5%.
Theo VPBankS, dòng tín dụng đang tập trung nhiều hơn vào những ngân hàng có dư địa mở rộng bảng cân đối và khả năng đẩy mạnh cho vay.
Xét theo cơ cấu tín dụng, dòng vốn trong quý 2 có xu hướng nghiêng về khách hàng doanh nghiệp và các khoản vay phục vụ dự án. Đáng chú ý, dư nợ cho vay doanh nghiệp bất động sản tại một số ngân hàng tăng mạnh so với đầu năm. Cụ thể, mức tăng tại VPBank là 42,6%, MB 38,2%, Techcombank 19,9% và ACB 17,9%.
Tín dụng dành cho lĩnh vực xây dựng cũng ghi nhận mức tăng đáng kể tại một số ngân hàng. Dư nợ cho vay xây dựng tại Techcombank tăng 59,9%, HDBank tăng 23% và ACB tăng 22,5% so với đầu năm.
Bên cạnh đó, tín dụng trung và dài hạn tăng 11% so với đầu năm, cao hơn mức tăng 7% của tín dụng ngắn hạn. Điều này phản ánh nhu cầu vốn cho đầu tư và dự án đang đóng vai trò lớn hơn, nhưng đồng thời đặt yêu cầu cao hơn đối với nguồn vốn ổn định của ngân hàng.
Ở phân khúc bán lẻ, cho vay mua nhà cá nhân phục hồi chậm hơn. VPBankS cho rằng tốc độ tăng trưởng tín dụng mua nhà trong quý 2 chịu ảnh hưởng bởi mặt bằng lãi suất cho vay vẫn cao hơn đầu năm, trong khi giá bất động sản tại Hà Nội và TP.HCM tiếp tục duy trì ở mức cao.
Theo đó, trong nửa cuối năm, tín dụng nhiều khả năng tiếp tục được thúc đẩy bởi nhóm khách hàng doanh nghiệp, các dự án xây dựng và hoạt động sản xuất, kinh doanh, thay vì tín dụng mua nhà bán lẻ. VPBankS dự báo tín dụng toàn hệ thống tiếp tục tăng trưởng, trong đó doanh nghiệp và các khoản vay phục vụ dự án vẫn là những động lực quan trọng.
HUY ĐỘNG VỐN CHỊU SỨC ÉP, NIM PHỤC HỒI NHƯNG CÒN PHÂN HÓA
Tín dụng tăng nhanh đang khiến bài toán cân đối nguồn vốn trở nên đáng chú ý hơn đối với các ngân hàng. Theo VPBankS, tổng tiền gửi khách hàng và giấy tờ có giá của nhóm ngân hàng được nghiên cứu trong quý 2 tăng 6,7% so với đầu năm.
Trong đó, tiền gửi khách hàng tăng 5,4%, còn giấy tờ có giá tăng tới 16,7%. Tốc độ tăng mạnh của giấy tờ có giá cho thấy các ngân hàng đang chủ động đa dạng hóa nguồn vốn, thay vì chỉ dựa vào tiền gửi truyền thống để đáp ứng nhu cầu tín dụng.
Riêng trong quý 2, nhóm ngân hàng được VPBankS nghiên cứu đã phát hành khoảng 110.000 tỷ đồng trái phiếu, chiếm 47,5% tổng giá trị phát hành mới trên toàn thị trường. Kỳ hạn phát hành bình quân đạt khoảng 5,3 năm, tương đối phù hợp với xu hướng tín dụng trung và dài hạn tăng nhanh hơn cho vay ngắn hạn.
Bên cạnh nguồn vốn trong nước, một số ngân hàng cũng đẩy mạnh huy động vốn từ thị trường quốc tế. Cuối tháng 6, VPBank ký khoản vay hợp vốn liên kết bền vững trị giá 1,44 tỷ USD với 15 định chế tài chính quốc tế. Đến cuối tháng 7, HDBank tiếp nhận khoản vay xã hội hợp vốn quốc tế trị giá 721 triệu USD.
Trong khi đó, VIB đặt mục tiêu huy động khoảng 1 tỷ USD trong năm 2026, bao gồm phương án phát hành trái phiếu quốc tế.
Về khả năng sinh lời, NIM toàn ngành đã phục hồi lên 3,1% trong quý 2, từ mức 2,9% trong quý 1. Dù vậy, VPBankS cho rằng triển vọng cải thiện NIM trong nửa cuối năm sẽ có sự phân hóa, phụ thuộc vào nền tảng tiền gửi không kỳ hạn (CASA), chi phí vốn và khả năng định giá các khoản vay của từng ngân hàng.
Theo đơn vị phân tích, thanh khoản hệ thống đã bớt căng thẳng nhưng chưa tạo ra nhiều dư địa để chi phí vốn giảm sâu. Tín dụng vẫn tăng nhanh hơn huy động, trong khi nhu cầu vốn thường có xu hướng gia tăng vào nửa cuối năm.
Trong bối cảnh đó, các ngân hàng có thể tiếp tục duy trì mặt bằng lãi suất huy động cạnh tranh, đồng thời tăng cường huy động vốn trung và dài hạn thông qua giấy tờ có giá, trái phiếu và các khoản vay quốc tế.
BỘ ĐỆM DỰ PHÒNG THU HẸP, CHẤT LƯỢNG TÀI SẢN KHÔNG ĐỒNG NHẤT
Bên cạnh tăng trưởng tín dụng và lợi nhuận, chất lượng tài sản là yếu tố được VPBankS lưu ý trong những quý tới. Theo báo cáo, tỷ lệ nợ xấu của nhóm ngân hàng nghiên cứu trong quý 2 duy trì quanh mức 2%, gần như đi ngang so với quý trước.
Tuy nhiên, tỷ lệ nợ nhóm 2 đã tăng từ 1,2% lên 1,4%. Trong khi đó, tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) giảm xuống 79,1%, từ mức 79,7% trong quý 1 và 83% vào cuối năm 2025.
Theo VPBankS, các chỉ số trên chưa phản ánh tình trạng nợ xấu tăng mạnh, song cho thấy dư địa hấp thụ rủi ro của hệ thống ngân hàng không còn dồi dào như trước. Chi phí dự phòng trên dư nợ cho vay trong quý 2 tăng nhẹ lên 1,16%, từ mức 1,09% trong quý 1. Dù vậy, đơn vị phân tích đánh giá áp lực trích lập dự phòng hiện chưa tạo sức ép quá lớn lên lợi nhuận.
Diễn biến chất lượng tài sản giữa các ngân hàng cũng không đồng nhất. Trong quý 2, VPBank ghi nhận mức cải thiện tỷ lệ nợ xấu đáng kể nhất trong nhóm được theo dõi, với mức giảm 0,30 điểm phần trăm so với quý trước. Tại Vietcombank và Techcombank, tỷ lệ nợ xấu cùng giảm nhẹ 0,01 điểm phần trăm.
Ở chiều ngược lại, chỉ số NPL tại HDBank tăng 0,23 điểm phần trăm, ACB tăng 0,06 điểm phần trăm, MB tăng 0,03 điểm phần trăm và LPBank tăng 0,02 điểm phần trăm.
Nếu so với cùng kỳ năm trước, chất lượng tài sản tại một số ngân hàng đã có sự cải thiện đáng kể. NPL của Vietcombank giảm từ 1% xuống 0,6%, ACB từ 1,3% xuống 1%, Techcombank từ 1,3% xuống 1,1%, MB từ 1,6% xuống 1,4% và VPBank từ 4% xuống 3,3%.
VPBankS lưu ý, trong bối cảnh các ngân hàng đang mở rộng bảng cân đối, việc theo dõi chất lượng tài sản không nên chỉ dựa vào NPL truyền thống. Thông tư 31 mở rộng phạm vi đánh giá sang tổng nợ nhóm 3-5 trên tổng nợ nhóm 1-5 thuộc các tài sản có phải phân loại, qua đó cung cấp thêm một góc nhìn về chất lượng tài sản.
Trong nửa cuối năm, VPBankS cho rằng áp lực nợ xấu chưa tăng mạnh nhưng nợ nhóm 2 nhích lên và bộ đệm dự phòng mỏng hơn là những yếu tố cần theo dõi, đặc biệt tại các ngân hàng có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao.
Các ngân hàng có chất lượng tài sản tốt, LLR cao và chi phí tín dụng thấp sẽ có khả năng bảo vệ lợi nhuận tốt hơn, trong khi những ngân hàng tăng trưởng tín dụng nhanh cần được theo dõi sát hơn về tốc độ hình thành nợ xấu mới và khả năng duy trì chi phí dự phòng trong vùng kiểm soát.