Dù bối cảnh thế giới vẫn đang nhiều biến động phức tạp nhưng kinh tế nước ta vẫn tiếp tục khởi sắc với những điểm sáng nổi bật trong nhiều ngành nghề chủ đạo.
Theo thông tin vừa được Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố, tính chung 4 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 344,17 tỷ USD, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó xuất khẩu tăng 19,7%; nhập khẩu tăng 28,7%. Cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 7,11 tỷ USD.
Dưới kịch bản ổn định sớm, tăng trưởng của Việt Nam vẫn được các tổ chức quốc tế dự báo duy trì khả năng đạt 7,2% trong năm 2026 và 7% vào năm 2027, nhờ gia tăng đầu tư công và chính sách tiền tệ nới lỏng. Đồng thời, lạm phát được dự báo sẽ tăng lên 4% trong năm 2026 trước khi giảm xuống 3,8% vào năm 2027.
Với mức tăng trưởng dự kiến trên, Việt Nam được dự báo dẫn đầu tăng trưởng khu vực châu Á đang phát triển và Thái Bình Dương trong năm 2026.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4/2026 tăng 0,84% so với tháng trước chủ yếu do giá gas trong nước tăng theo giá nhiên liệu thế giới, giá dịch vụ ăn uống ngoài gia đình và vật liệu xây dựng tăng do chi phí nguyên liệu đầu vào, vận chuyển tăng. CPI tháng 4/2026 tăng 3,31% so với tháng 12/2025 và tăng 5,46% so với cùng kỳ năm 2025.
Trong mức tăng 0,84% của CPI ở tháng 4/2026 so với tháng 3/2026 có 10 nhóm hàng tăng giá, riêng chỉ số giá nhóm giao thông giảm. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 3,99% so với cùng kỳ năm ngoái trong đó: Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng cao nhất với 6,25%; Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,71%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,89%; Giao thông tăng 3,48%; Giáo dục tăng 3,25%; Đồ uống và thuốc lá tăng 3,15%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,38%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,05%; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,79%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,94%; Riêng thông tin và truyền thông giảm 0,09%.
Lạm phát cơ bản tháng 4/2026 tăng 0,88% so với tháng 3/2026 và tăng 4,66% so với cùng kỳ năm 2025. Bình quân 4 tháng đầu năm 2026, lạm phát cơ bản tăng 3,89% so với cùng kỳ năm 2025, thấp hơn mức tăng 3,99% của CPI bình quân chung do giá xăng dầu, gas và thực phẩm biến động mạnh làm CPI chung tăng, trong khi các yếu tố này được loại trừ trong danh mục tính toán lạm phát cơ bản.
Tính đến ngày 28/4, bình quân giá vàng thế giới ở mức 4.761,71 USD/ounce, giảm 2,4% so với tháng 3/2026. Trong nước, chỉ số giá vàng trong tháng giảm 6,71% so với tháng trước, chủ yếu do giá vàng được các doanh nghiệp kinh doanh điều chỉnh giảm theo giá vàng thế giới. So với cùng kỳ năm 2025, chỉ số giá vàng tăng 54,24%; so với tháng 12/2025 tăng 10,83%. Bình quân 4 tháng đầu năm 2026, chỉ số giá vàng tăng 75,13%.
Tính đến ngày 27/4, chỉ số USD trên thị trường quốc tế bình quân trong tháng đạt mức 98,63 điểm, giảm 0,73% so với tháng 3/2026 do chiến tranh thương mại leo thang, thị trường đang kỳ vọng Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) giảm lãi suất trong nửa cuối năm 2026. Trong nước, giá đô la Mỹ bình quân trên thị trường tự do quanh mức 26.360 VND/USD. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 4/2026 tăng 0,17% so với tháng 3/2026 do nhu cầu ngoại tệ trong nước tăng; Tăng 1,44% so với cùng kỳ năm 2025; Giảm 0,31% so với tháng 12/2025. Bình quân 4 tháng đầu năm 2026, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 2,29%.
Hoạt động thương mại, dịch vụ trong tháng duy trì tăng trưởng khá với tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tăng 1,7% so với tháng 3/2026 và tăng 12,1% so với cùng kỳ năm ngoái. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,1% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 13,4% và doanh thu du lịch lữ hành tăng 12,1%.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành tháng 4/2026 ước đạt 646,3 nghìn tỷ đồng, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, nhóm hàng xăng, dầu các loại tăng 17,4% so với cùng kỳ năm 2025; Hàng lương thực, thực phẩm tăng 11,6%; Hàng may mặc tăng 9,7%; Vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 9,3%; Đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 8,1%; Dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 14,1%; Du lịch lữ hành tăng 6,5% và các nhóm hàng dịch vụ khác tăng 9,4%.
Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 2.546,6 nghìn tỷ đồng, tăng 11,1% so với cùng kỳ năm 2025, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,3%.
Doanh thu bán lẻ hàng hóa 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.938,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 76,1% tổng mức và tăng 11,1% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, doanh thu nhóm hàng may mặc tăng 11,3% so với cùng kỳ năm 2025; Hàng lương thực, thực phẩm tăng 10,2%; Đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 7,9%; Vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 6,2% và nhóm hàng hóa khác tăng 18,2%.
Doanh thu bán lẻ hàng hóa 4 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm 2025 của một số địa phương như sau: Quảng Ninh tăng 12,8%; Bắc Ninh tăng 11,5%; Cần Thơ tăng 10,4%; Hải Phòng tăng 10,3%.
Trong tháng 4/2026, cả nước có gần 20,4 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký gần 246,8 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký gần 91 nghìn lao động, giảm 7,1% về số doanh nghiệp, tăng 9,7% về vốn đăng ký và giảm 7,5% về số lao động so với tháng 3/2026. So với cùng kỳ năm 2025, tăng 33,9% về số doanh nghiệp, tăng 84,6% về số vốn đăng ký và giảm 28,7% về số lao động.
Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng 4/2026 đạt 12,1 tỷ đồng, tăng 18,1% so với tháng 3/2026 và tăng 37,9% so với cùng kỳ năm 2025. Bên cạnh đó, cả nước còn có gần 9,5 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 19,8% so với tháng trước và tăng 5,1% so với cùng kỳ năm ngoái.
Cũng trong tháng, có 8.863 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 75,2% so với tháng 3/2026 và tăng 23,4% so với cùng kỳ năm 2025; 5.388 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 14,5% so với tháng trước và giảm 40,1% so với cùng kỳ năm ngoái; có 3.473 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 9% so với tháng trước và tăng 98,5% so với cùng kỳ năm 2025.
Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, cả nước có 77,8 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký gần 785,4 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký 356,9 nghìn lao động, tăng 50,7% về số doanh nghiệp, tăng 60,1% về vốn đăng ký và tăng 0,3% về số lao động so với cùng kỳ năm 2025.
Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong 4 tháng năm 2026 đạt 10,1 tỷ đồng, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm ngoái. Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 4 tháng năm 2026 là gần 1,9 triệu tỷ đồng, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm 2025.
Bên cạnh đó, cả nước có 41,6 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 8,6% so với cùng kỳ năm 2025), nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong 4 tháng năm 2026 lên hơn 119,4 nghìn doanh nghiệp, tăng 32,8% so với cùng kỳ năm ngoái. Bình quân một tháng có 29,9 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.
Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là 72,2 nghìn doanh nghiệp, tăng 5,1% so với cùng kỳ năm 2025; gần 21,5 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 6,6%; gần 15,2 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 98,7%. Bình quân một tháng có 27,2 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.
Trong tháng 4/2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 94,32 tỷ USD, tăng 0,8% so với tháng 3/2026 và tăng 26,7% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 344,17 tỷ USD, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó xuất khẩu tăng 19,7%; nhập khẩu tăng 28,7%. Cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 7,11 tỷ USD.
Xuất khẩu hàng hóa:
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước đạt 45,52 tỷ USD, giảm 2% so với tháng 3/2026. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 8,88 tỷ USD, giảm 1,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 36,64 tỷ USD, giảm 2,1%. So với cùng kỳ năm 2025, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 4/2026 tăng 21%, trong đó khu vực kinh tế trong nước giảm 4,2%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 29,2%.
Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 168,53 tỷ USD, tăng 19,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 33,65 tỷ USD, tăng 0,4%, chiếm 20% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 134,88 tỷ USD, tăng 25,8%, chiếm 80%.
Trong 4 tháng đầu năm 2026, có 24 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 89,1% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 7 mặt hàng xuất khẩu trên 5 tỷ USD, chiếm 69,1%).
Nhập khẩu hàng hóa:
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng ước đạt 48,8 tỷ USD, tăng 3,6% so với tháng 3/2026. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 13,8 tỷ USD, tăng 2,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 35 tỷ USD, tăng 4%. So với cùng kỳ năm 2025, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 4/2026 tăng 32,5%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 22,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 36,8%.
Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt 175,64 tỷ USD, tăng 28,7% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 49,27 tỷ USD, tăng 20,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 126,37 tỷ USD, tăng 32,3%.
Trong 4 tháng đầu năm 2026 có 30 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 87,4% tổng kim ngạch nhập khẩu (có 2 mặt hàng nhập khẩu trên 5 tỷ USD, chiếm 49,2%).
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 4/2026 ước tăng 3% so với tháng 4/2026 và tăng 9,9% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 10% so với cùng kỳ năm ngoái; ngành khai khoáng tăng 7,6%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,1%; sản xuất và phân phối điện tăng 10,9%.
Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, IIP ước tăng 9,2% so với cùng kỳ năm 2025 (cùng kỳ tăng 8,6%). Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 9,9% (cùng kỳ tăng 10,6%), đóng góp 7,8 điểm phần trăm trong mức tăng chung; Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 7,5% (cùng kỳ tăng 4,5%), đóng góp 0,7 điểm phần trăm; Ngành khai khoáng tăng 4% (cùng kỳ giảm 4,6%), đóng góp 0,6 điểm phần trăm trong mức tăng chung; Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,4% (cùng kỳ tăng 9,7%), đóng góp 0,1 điểm phần trăm.
Chỉ số IIP 4 tháng đầu năm 2026 của một số ngành trọng điểm cấp II tăng so với cùng kỳ năm ngoái: Sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 20,6%; Sản xuất kim loại tăng 18,7%; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 17,9%; Sản xuất xe có động cơ tăng 17%; Sản xuất đồ uống tăng 15,9%; Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 12,5%; Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 11,8%; Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy và dệt cùng tăng 9,6%; Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 9,1%; Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 8,4%.
Ở chiều ngược lại, chỉ số IIP của một số ngành tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ năm 2025: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 4,4%; Khai thác than cứng và than non giảm 5,3%; Sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 0,9%.
Chỉ số IIP 4 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm ngoái tăng ở cả 34 địa phương. Một số địa phương có chỉ số IIP đạt mức tăng khá nhờ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao. Ở chiều ngược lại, một số địa phương có chỉ số IIP tăng thấp do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành khai khoáng và ngành sản xuất, phân phối điện tăng thấp hoặc giảm.
Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong 4 tháng đầu năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm 2025: Xe máy tăng 33,3%; Thủy hải sản chế biến tăng 22,5%; Ô tô tăng 22,4%; Thép cán tăng 17%; Thép thanh, thép góc tăng 15,8%; Bia tăng 15,5%; Sơn hóa học tăng 14,7%. Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm ngoái: Than (than sạch) giảm 5,4%; Bột ngọt giảm 4,4%; Ti vi giảm 4,3%; Giày, dép da giảm 4,1%; Phân Ure giảm 1,1%.
Thu ngân sách Nhà nước 4 tháng đầu năm 2026 ước tăng 15,2% so với cùng kỳ năm 2025. Chi ngân sách Nhà nước ước tăng 11,6%, đảm bảo các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, thanh toán các khoản nợ đến hạn cũng như chi trả kịp thời cho các đối tượng theo quy định.
Thu ngân sách Nhà nước:
Tổng thu ngân sách Nhà nước tháng 4/2026 ước đạt 257,2 nghìn tỷ đồng. Lũy kế tổng thu ngân sách Nhà nước 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.114 nghìn tỷ đồng, bằng 44% dự toán năm và tăng 15,2% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, một số khoản thu chính như sau:
- Thu nội địa trong tháng ước đạt 224 nghìn tỷ đồng. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 991 nghìn tỷ đồng, bằng 45% dự toán năm và tăng 17,4% so với cùng kỳ năm 2025.
- Thu từ dầu thô trong tháng ước đạt 5,5 nghìn tỷ đồng. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt gần 17 nghìn tỷ đồng, bằng 39,5% dự toán năm và giảm 4,9% so với cùng kỳ năm ngoái.
- Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu trong tháng ước đạt 27,6 nghìn tỷ đồng. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 105,4 nghìn tỷ đồng, bằng 37,9% dự toán năm và tăng 0,4% so với cùng kỳ năm 2025.
Chi ngân sách Nhà nước:
Tổng chi ngân sách Nhà nước tháng 4/2026 ước đạt 143,9 nghìn tỷ đồng. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 668,2 nghìn tỷ đồng, bằng 21,2% dự toán năm và tăng 11,6% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, chi thường xuyên 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 471 nghìn tỷ đồng, bằng 26% dự toán năm và tăng 10,8% so với cùng kỳ năm ngoái; Chi đầu tư phát triển đạt 153,2 nghìn tỷ đồng, bằng 13,7% và tăng 16,4%; Chi trả nợ lãi 43 nghìn tỷ đồng, bằng 35,5% và tăng 5,4%.
Hoạt động vận tải trong tháng 4/2026 tiếp tục sôi động, đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân trong nước cũng như khách quốc tế đến Việt Nam, phục vụ sản xuất và xuất nhập khẩu hàng hóa. So với cùng kỳ năm 2025, vận tải hành khách trong tháng tăng 17,3% về vận chuyển và tăng 15,8% về luân chuyển; Vận tải hàng hóa tăng 14% về vận chuyển và tăng 10,4% về luân chuyển. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, vận chuyển hành khách tăng 15% và luân chuyển tăng 12,7% so với cùng kỳ năm 2025; Vận chuyển hàng hóa tăng 14,2% và luân chuyển tăng 10,2%.
Vận tải hành khách trong tháng 4/2026 ước đạt 509,5 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 5,6% so với tháng 3/2026 và luân chuyển 28,4 tỷ lượt khách/km, tăng 4,8%. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, vận tải hành khách ước đạt 2.102,3 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 15% so với cùng kỳ năm ngoái và luân chuyển đạt 113,2 tỷ lượt khách/km, tăng 12,7%. Trong đó, vận tải trong nước ước đạt 2.095,4 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 15% so với cùng kỳ năm 2025 và 91 tỷ lượt khách/km luân chuyển, tăng 14,4%; Vận tải ngoài nước ước đạt 6,9 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 7% và 22,2 tỷ lượt khách/km luân chuyển, tăng 6,1%.
Vận tải hàng hóa tháng 4/2026 ước đạt 274,2 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 1,4% so với tháng 3/2026 và luân chuyển 53,3 tỷ tấn/km, tăng 2,3%. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, vận tải hàng hóa ước đạt 1.082,9 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 14,2% so với cùng kỳ năm 2025 và luân chuyển 208,2 tỷ tấn/km, tăng 10,2%. Trong đó, vận tải trong nước ước đạt 1.063,4 triệu tấn vận chuyển, tăng 14,2% và 121,3 tỷ tấn/km luân chuyển, tăng 10,7%; Vận tải ngoài nước ước đạt 19,5 triệu tấn vận chuyển, tăng 14,7% và 86,9 tỷ tấn/km luân chuyển, tăng 9,3%.
Môi trường chính trị - xã hội ổn định, an toàn; chính sách thị thực ngày càng thông thoáng; hoạt động xúc tiến, quảng bá được chuyên nghiệp hóa, cùng với hệ thống sản phẩm đa dạng, phù hợp xu hướng và chất lượng dịch vụ không ngừng được cải thiện, tạo nền tảng quan trọng để thu hút khách quốc tế đến Việt Nam.
Trong tháng 4/2026, khách quốc tế đến nước ta đạt 2,03 triệu lượt người, tăng 22,8% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, khách quốc tế đến Việt Nam đạt 8,8 triệu lượt người, tăng 14,6% so với cùng kỳ năm ngoái và là mức cao nhất của 4 tháng đầu các năm từ trước đến nay. Trong đó, khách đến bằng đường hàng không đạt 7,3 triệu lượt người, chiếm 82,5% lượng khách quốc tế đến và tăng 10,1% so với cùng kỳ năm 2025; bằng đường bộ đạt 1,4 triệu lượt người, chiếm 15,5% và tăng 47,6%; bằng đường biển đạt 174,3 nghìn lượt người, chiếm 2% và tăng 10,1%.
Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước trong tháng ước đạt gần 54,8 nghìn tỷ đồng, tăng 8,2% so với cùng kỳ năm 2025, bao gồm: Vốn Trung ương quản lý đạt 7,8 nghìn tỷ đồng, tăng 2,1%; Vốn địa phương quản lý 47 nghìn tỷ đồng, tăng 9,3%. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt 187,1 nghìn tỷ đồng, bằng 19,7% kế hoạch năm và tăng 10,4% so với cùng kỳ năm ngoái (cùng kỳ bằng 16,7% và tăng 20,5%). Cụ thể:
- Vốn đầu tư thực hiện do Trung ương quản lý ước đạt 25,4 nghìn tỷ đồng, bằng 12,5% kế hoạch năm và tăng 4,6% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, Bộ Xây dựng đạt gần 16 nghìn tỷ đồng, tăng 5,1%; Bộ Nông nghiệp và Môi trường đạt 1,3 nghìn tỷ đồng, giảm 61,8%; Bộ Y tế đạt 309,7 tỷ đồng, giảm 49,4%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đạt 185,5 tỷ đồng, tăng 7,3%; Bộ Giáo dục và Đào tạo đạt 167,6 tỷ đồng, giảm 48,5%; Bộ Công Thương đạt 22,8 tỷ đồng, giảm 62,9%; Bộ Khoa học và Công nghệ đạt 12,1 tỷ đồng, giảm 82,7%.
Trong số 53 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2026, Singapore là nhà đầu tư lớn nhất với 6,05 tỷ USD, chiếm 49,8% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hàn Quốc 4,08 tỷ USD, chiếm 33,6%; Trung Quốc 524,1 triệu USD, chiếm 4,3%; Nhật Bản 462 triệu USD, chiếm 3,8%; Đặc khu hành chính Hồng Kông (TQ) 329,2 triệu USD, chiếm 2,7%; Hà Lan 318,5 triệu USD, chiếm 2,6%.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 7,4 tỷ USD, tăng 9,8% so với cùng kỳ năm ngoái. Đây là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của 4 tháng đầu năm trong 5 năm qua. Trong đó: Công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 6,12 tỷ USD, chiếm 82,7% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 540,5 triệu USD, chiếm 7,3%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 270,6 triệu USD, chiếm 3,7%.
Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và điều chỉnh) đạt 713,9 triệu USD, gấp 2,3 lần so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó: Sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 163,8 triệu USD, chiếm 22,9% tổng vốn đầu tư; xây dựng đạt 153,0 triệu USD, chiếm 21,4%; vận tải kho bãi đạt 149,2 triệu USD, chiếm 20,9%.
Trong 4 tháng đầu năm 2026, có 32 quốc gia và vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam, trong đó: Lào là nước dẫn đầu với 198 triệu USD, chiếm 27,7% tổng vốn đầu tư; Kyrgyzstan 149,9 triệu USD, chiếm 21%; Anh 82,8 triệu USD, chiếm 11,6%; Kazakhstan 36 triệu USD, chiếm 5%; quần đảo Virgin thuộc Anh 30,1 triệu USD, chiếm 4,2%; Angola 30 triệu USD, chiếm 4,1%; Hà Lan 29,4 triệu USD, chiếm 4%.
7 địa phương dẫn đầu về thu hút vốn FDI đăng ký cấp mới là Thái Nguyên, Nghệ An, TP.HCM, Đồng Nai, Bắc Ninh, Hà Tĩnh và Tây Ninh.