Chuyển đổi số đang trở thành yêu cầu bắt buộc với khu vực hợp tác xã (HTX), nhưng bài toán không nằm ở việc có thêm bao nhiêu phần mềm. Với nguồn lực còn hạn chế, HTX cần bắt đầu từ dữ liệu, năng lực quản trị và một nhu cầu kinh doanh cụ thể, sau đó mới lựa chọn công nghệ phù hợp để giảm chi phí, nâng chất lượng và mở rộng thị trường.
Ngày 7/10 tại Hà Nội, Tạp chí Kinh Doanh cùng Viện Khoa học Kinh tế Hợp tác và Liên minh HTX Việt Nam tổ chức Diễn đàn “Chuyển đổi số trong Hợp tác xã: Từ dữ liệu, quản trị đến thị trường”. Từ cơ quan quản lý, doanh nghiệp công nghệ, tổ chức tài chính đến chính các HTX và hệ thống phân phối, một thông điệp khá rõ được đặt ra: không thể chuyển đổi số bằng cách chạy theo công nghệ, mà phải bắt đầu từ vấn đề HTX đang cần giải quyết.
DỮ LIỆU YẾU, CÔNG NGHỆ KHÓ PHÁT HUY
Theo TS. Chu Tiến Đạt, Tổng công ty VTC (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), đến hết năm 2025 cả nước có 35.041 HTX với khoảng 7,1 triệu thành viên. Bình quân một HTX chỉ có khoảng 10 lao động, doanh thu 7,4 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế 250,8 triệu đồng. Trong khi đó, chi phí chuyển đổi số có thể lên tới 200–300 triệu đồng mỗi năm, ngang bằng hoặc vượt lợi nhuận của một HTX bình quân. Chỉ khoảng 15% cán bộ HTX nông nghiệp sử dụng thành thạo máy tính và phần mềm.
Nhìn từ năng lực quản trị, ông Hoàng Hữu Hạnh, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ, cho biết 53% giám đốc HTX chưa qua đào tạo chuyên môn, chỉ 13% có trình độ đại học trở lên và khoảng 15% HTX sử dụng phần mềm quản trị. Với mặt bằng như vậy, ngay cả việc tự thẩm định một hợp đồng phần mềm cũng có thể là thách thức đối với HTX.
Theo ông Hạnh, lợi ích của chuyển đổi số đã thể hiện khá rõ ở đầu ra như thị trường, truy xuất, bán hàng, nhưng nền tảng dữ liệu ở đầu vào lại còn yếu. Vì vậy, “mua công nghệ ở đầu ra khi chưa có dữ liệu ở đầu vào” là đầu tư lệch thứ tự.
Đây cũng là vấn đề được ông Đào Ngọc Tuất, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, chỉ ra qua câu chuyện truy xuất nguồn gốc. Khoảng 35% HTX đã sử dụng mã QR, nhưng tính đến ngày 31/8/2026, trong 793.623 sản phẩm đăng ký trên hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản, chỉ 158.451 sản phẩm có đầy đủ thông tin để truy xuất, tương đương khoảng 20%. Điều đó cho thấy mã QR tự thân không tạo ra giá trị.
Theo ông Tuất, QR chỉ là “cửa sổ” để người tiêu dùng tra cứu; giá trị nằm ở dữ liệu thực phía sau, được ghi nhận và xác thực xuyên suốt từ sản xuất đến tiêu thụ. Khi dữ liệu vùng nguyên liệu, nhật ký sản xuất, sản lượng, chất lượng và lô hàng không đầy đủ, công nghệ dù hiện đại đến đâu cũng khó tạo ra một chuỗi truy xuất đáng tin cậy.
Ở góc độ quản trị, ông Đỗ Xuân Trường, Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh Ninh Bình, cho rằng chuyển đổi số phải đi từ dữ liệu đến quản trị, từ quản trị đến hiệu quả rồi mới đi tới thị trường. HTX cần biết mình có bao nhiêu thành viên, chi phí từng sản phẩm, khách hàng ở đâu, thị trường cần gì và thành viên được hưởng lợi bao nhiêu. Khi dữ liệu trả lời được những câu hỏi đó, nó mới thực sự trở thành công cụ quản trị.
CÔNG NGHỆ PHẢI GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN KINH DOANH
Nếu dữ liệu là nền móng thì công nghệ phải tạo ra hiệu quả kinh doanh. Đây cũng là điểm mà các HTX đặc biệt quan tâm, bởi đầu tư cho chuyển đổi số không hề nhỏ trong khi khả năng tài chính của phần lớn HTX còn hạn chế.
Ông Nguyễn Thanh Mộng, Giám đốc SORIMACHI Nhật Bản tại Việt Nam, cho biết khảo sát của doanh nghiệp cho thấy 73% HTX muốn kết nối dữ liệu kế toán với phần mềm bán hàng. Tuy nhiên, HTX không nên đầu tư tất cả phần mềm cùng lúc mà cần xác định vấn đề nào cấp thiết nhất để làm trước. Với khoản đầu tư 200–300 triệu đồng, theo ông, phần dành cho phần mềm chỉ nên ở mức hợp lý, còn nguồn lực cần dành cho con người và kỹ năng vận hành.
Từ phía doanh nghiệp công nghệ, ông Lữ Nguyễn Đức Hạnh, Giám đốc Trung tâm Kinh doanh Giải pháp Bán lẻ, Tập đoàn MISA, cho rằng công nghệ phù hợp với HTX cần tạo thành một chuỗi quản trị xuyên suốt, từ dữ liệu đầu vào, chứng từ, hóa đơn, hàng tồn kho, bán hàng đến kế toán và thuế.
Đáng chú ý, AI đang mở thêm những khả năng mới. Khi có dữ liệu bán hàng và tồn kho đủ tốt, AI có thể hỗ trợ phân tích, dự báo cung cầu, lập kế hoạch sản xuất; đồng thời hỗ trợ bán hàng trực tuyến, tư vấn khách hàng. Tuy nhiên, các ứng dụng này chỉ thực sự hữu ích khi HTX có dữ liệu đủ tốt và lựa chọn công nghệ phù hợp với năng lực vận hành, thay vì chạy theo những công nghệ mới nhất.
Thực tế từ HTX Nấm Tam Đảo lại cho thấy một mặt khác của chuyển đổi số: bán hàng trên môi trường số chưa chắc đã đồng nghĩa với có lợi nhuận.
Ông Nguyễn Quốc Huy, Chủ tịch HĐQT HTX Nấm Tam Đảo, cho biết phí sàn thương mại điện tử hiện có thể chiếm 30–35% doanh thu; cộng thêm logistics, truyền thông và các chi phí liên quan, tổng chi phí có thể lên tới khoảng 60%. Với mức chi phí này, nếu bán giá cao thì khó tiếp cận khách hàng, nhưng bán giá thấp lại không có lãi.
Câu chuyện này đặt ra một thước đo khác cho chuyển đổi số: không phải có bao nhiêu đơn hàng online, mà sau khi số hóa, HTX giữ lại được bao nhiêu giá trị.
Ở đầu ra, bà Nguyễn Thị Kim Dung, Giám đốc siêu thị Co.op Mart Hà Nội, cho rằng HTX cũng phải thay đổi tư duy sản xuất, từ “có gì sản xuất nấy” sang sản xuất theo nhu cầu thị trường. Để vào hệ thống phân phối hiện đại, HTX phải đáp ứng đồng thời hồ sơ pháp lý, chất lượng ổn định, truy xuất nguồn gốc, năng lực sản xuất và khả năng cạnh tranh về giá, nhãn mác. Quan trọng hơn, mục tiêu không chỉ là đưa hàng vào siêu thị mà phải bán được hàng và tạo ra khách hàng quay lại.
Như vậy, công nghệ chỉ là một mắt xích. Nếu không gắn với quản trị chi phí, chất lượng sản phẩm, năng lực cung ứng và thị trường, khoản đầu tư số hóa rất khó tạo ra hiệu quả bền vững.
"DÙNG CHUNG TRƯỚC, ĐẦU TƯ RIÊNG SAU"
Một HTX nhỏ khó có thể tự giải quyết đồng thời bài toán dữ liệu, phần mềm, nhân lực, vốn và thị trường. Vì vậy, thay vì mỗi HTX tự xây dựng một hệ thống riêng, giải pháp được nhiều chuyên gia đặt ra là hình thành các nền tảng dùng chung.
Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số Quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ Hoàng Hữu Hạnh đề xuất nguyên tắc “dùng chung trước, đầu tư riêng sau”, trong đó HTX có thể thuê thay vì tự xây dựng hoặc mua trọn gói. Các nền tảng dùng chung cần liên thông theo chuẩn dữ liệu và quan trọng nhất là HTX phải luôn xuất được dữ liệu của mình, tránh bị khóa vào một nhà cung cấp.
Theo ông, chính sách giai đoạn 2026–2030 cần hướng tới hỗ trợ HTX theo từng bậc trưởng thành số; xây dựng một đầu mối dữ liệu theo hướng “khai một lần, dùng nhiều nơi”; chuẩn hóa danh mục các nền tảng đã được thẩm định về an toàn và khả năng liên thông; đồng thời hình thành mạng lưới tư vấn viên tại chỗ. Ba rủi ro cần tránh là có tiền hỗ trợ nhưng không có người sử dụng, phụ thuộc vào một nhà cung cấp khiến dữ liệu không thể chuyển đi, và chạy theo công nghệ mới khi nền tảng dữ liệu còn yếu.
Từ góc độ vốn, ông Nguyễn Hùng Tiến, Chủ tịch Quỹ Hỗ trợ phát triển Hợp tác xã Việt Nam, cho biết Quỹ sẵn sàng hỗ trợ HTX tiếp cận vốn cho các dự án chuyển đổi số. Tuy nhiên, dự án phải phù hợp với phương án sản xuất kinh doanh, có hồ sơ pháp lý đầy đủ và chứng minh được dòng tiền trả nợ. Thực tế, không ít HTX xây dựng dự án quá lớn so với quy mô thực tế, trong khi chưa lượng hóa được khoản đầu tư sẽ tạo thêm bao nhiêu hiệu quả.
Ở cấp hệ thống, bà Cao Xuân Thu Vân, Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam, nhấn mạnh chuyển đổi số không đơn thuần là đưa quy trình lên môi trường điện tử hay mua thêm phần mềm, mà là tổ chức lại hoạt động quản trị, sản xuất và kinh doanh dựa trên dữ liệu. Theo bà, dữ liệu phải trở thành nguồn lực, công nghệ là công cụ, còn thị trường mới là đích đến.
Điều đó cũng có nghĩa mỗi HTX không nhất thiết phải bắt đầu bằng một khoản đầu tư lớn. Quan trọng hơn là xác định một vấn đề thật, một mục tiêu rõ ràng và một kết quả có thể đo đếm được. Có thể bắt đầu từ số hóa danh sách thành viên, sổ sách, nhật ký sản xuất, truy xuất nguồn gốc, quản lý đơn hàng hay kết nối với một kênh phân phối; khi những nền tảng này vận hành ổn định mới mở rộng sang dữ liệu khách hàng, bán hàng đa kênh và AI.
Sau cùng, thước đo của chuyển đổi số không nằm ở số lượng phần mềm HTX đang sử dụng hay số mã QR được dán lên sản phẩm. Đó phải là những kết quả cụ thể: quản trị tốt hơn, chi phí giảm hơn, năng suất và chất lượng tăng lên, truy xuất minh bạch hơn, thị trường mở rộng hơn và thành viên được hưởng lợi nhiều hơn.
Khi những kết quả ấy có thể đo bằng con số, chuyển đổi số mới thực sự trở thành khoản đầu tư cho năng lực cạnh tranh của HTX, thay vì chỉ là một khoản chi cho công nghệ.