Ngày 2/4, giá các mặt hàng nông sản chủ lực có xu hướng biến động không đáng kể tại thị trường trong nước.
GIÁ GẠO
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang và Lúa gạo Việt, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 5451 hôm nay dao động ở mức 8.300 - 8.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động ở mức 7.800 - 7.900 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.150 - 9.350 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 8.000 - 8.100 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.900 - 9.100 đồng/kg; đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600; gạo thành phẩm IR 504 dao động ở 9.500 - 9.700 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, gạo các loại đứng giá. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo thường dao động ở mốc 12.000 - 13.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.
Với mặt hàng lúa, theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi OM 18 hôm nay giảm 100 đồng/kg dao động ở mốc 5.600 - 5.700 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 (tươi) giảm 100 đồng/kg dao động ở mốc 5.600 - 5.700 đồng/kg; lúa IR 50404 (tươi) dao động ở mức 5.200 - 5.300 đồng/kg; lúa OM 5451 (tươi) dao động mốc 5.400 - 5.500 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.100 - 5.200 đồng/kg.
Tại các địa phương hôm nay, giao dịch mua bán yếu, một số lúa tươi giảm nhẹ. Tại An Giang, nguồn lúa Đông Xuân chào bán đều, giá biến động nhẹ. Tại Đồng Tháp, giao dịch mua bán lúa mới gần ngày cắt khá hơn, giá ít biến động. Tại Cần Thơ, nông dân chào bán lúa Đông Xuân khá nhiều, giá neo cao, thương lái chốt mua ít. Tại Cà Mau, Vĩnh Long, Tây Ninh, giao dịch mua bán ít, giá ít biến động.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu Việt Nam hiện duy trì ở nhiều mức khác nhau. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm đang được chào bán trong khoảng 400 - 415 USD/tấn; gạo 100% tấm dao động từ 316 - 320 USD/tấn; còn gạo Jasmine dao động ở mức 430 - 434 USD/tấn.
Trên thị trường thế giới, tại Thái Lan, giá gạo 5% tấm xuất khẩu dao động 381 - 385 USD/tấn, gạo 100% tấm ở mức 363 - 367 USD/tấn. Trong khi đó, tại Ấn Độ, gạo 5% tấm được chào bán dao động 351 - 355 USD/tấn và gạo 100% tấm ở mức 304 - 308 USD/tấn.
GIÁ CÀ PHÊ
Sau chuỗi ngày giảm sâu, thị trường cà phê nội địa đã ghi nhận sự phục hồi rõ rệt trong sáng 2/4, với mức tăng khá mạnh tại các địa phương trọng điểm. Theo khảo sát, giá cà phê tại khu vực Tây Nguyên tăng 1.700 - 1.800 đồng/kg so với ngày hôm trước, đưa mặt bằng giá lên dao động trong khoảng 88.700 - 89.500 đồng/kg.
Cụ thể, Đắk Nông tăng mạnh nhất 1.800 đồng/kg, lên mức 89.500 đồng/kg, cao nhất khu vực. Tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cà phê cùng tăng 1.700 đồng/kg, đạt 89.200 đồng/kg. Trong khi đó, Lâm Đồng tăng 1.700 đồng/kg, lên mức 88.700 đồng/kg.
Dù chưa thể quay lại mốc 90.000 đồng/kg, đà phục hồi này được xem là tín hiệu tích cực sau giai đoạn thị trường chịu áp lực bán mạnh và tâm lý thận trọng kéo dài.
Trên thị trường thế giới, giá cà phê tăng mạnh trở lại trên cả hai sàn giao dịch chủ chốt. Cụ thể, trên sàn London, giá cà phê Robusta hợp đồng kỳ hạn tháng 5/2026 tăng 2,16% (74 USD/tấn), lên mức 3.493 USD/tấn. Hợp đồng tháng 7/2026 cũng tăng 57 USD/tấn, đạt 3.405 USD/tấn.
Trên sàn New York, giá cà phê Arabica tăng 1,98% (5,8 US cent/pound), lên 298,35 US cent/pound đối với hợp đồng tháng 5/2026. Hợp đồng tháng 7/2026 tăng 1,47%, đạt 290,8 US cent/pound.
Đà tăng này đánh dấu sự đảo chiều đáng chú ý sau giai đoạn giảm sâu trong tháng 3, khi Robusta mất khoảng 6% và Arabica giảm gần 5%.
GIÁ TIÊU
Sau chuỗi ngày tăng và đi ngang quanh vùng giá cao, thị trường hồ tiêu nội địa sáng 2/4 ghi nhận đà giảm mạnh trên diện rộng. Theo khảo sát, giá tiêu tại các vùng sản xuất trọng điểm đồng loạt giảm 2.000 đồng/kg so với ngày hôm trước, xuống còn dao động trong khoảng 138.000 - 139.000 đồng/kg.
Cụ thể, Đắk Lắk và Đắk Nông cùng giảm về mức 139.000 đồng/kg. Tại Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. HCM), giá tiêu lùi về 138.500 đồng/kg, trong khi Gia Lai và Đồng Nai phổ biến ở mức 138.000 đồng/kg.
Việc giá tiêu đồng loạt điều chỉnh cho thấy thị trường đang bước vào nhịp “hạ nhiệt” sau giai đoạn tăng nóng, đồng thời phản ánh tâm lý thận trọng của thương lái trong bối cảnh xuất khẩu có dấu hiệu suy yếu.
Trên thị trường thế giới, diễn biến giá tiêu đang có sự phân hóa rõ rệt giữa các quốc gia sản xuất. Theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, giá tiêu đen của Indonesia tăng 117 USD/tấn (tương đương 1,67%), lên mức 7.122 USD/tấn.
Ngược lại, giá tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam giảm mạnh tới 300 USD/tấn (khoảng 4,7%), xuống còn 6.000 - 6.100 USD/tấn đối với các loại 500 g/l và 550 g/l.
Tại Brazil, giá tiêu đen ASTA 570 tiếp tục giữ ổn định ở mức 6.100 USD/tấn, trong khi Malaysia duy trì mức cao 9.300 USD/tấn.
Ở phân khúc tiêu trắng, Indonesia tăng thêm 108 USD/tấn lên 9.382 USD/tấn, trong khi giá tiêu trắng xuất khẩu của Việt Nam giảm 150 USD/tấn, xuống còn 8.900 USD/tấn. Malaysia vẫn giữ mức cao nhất 12.200 USD/tấn.
GIÁ CAO SU
Trong nước, các doanh nghiệp bình ổn giá cao su. Cụ thể, tại Công ty Phú Riềng, chào giá thu mua mủ tạp bình ổn ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.
Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước ghi nhận khoảng 458 - 463 đồng/TSC (loại 2 - loại 1), mủ đông tạp khoảng 404 - 459 đồng/DRC (loại 2 - loại 1).
Công ty Bình Long, giá cao su thu mua bình ổn tại Nhà máy ở mức 432 đồng/độ TSC/kg; giá thu mua tại đội sản xuất 422 đồng/TSC/kg; giá mủ tạp bình ổn (DRC 60%) 14.000 đồng/kg.
Công ty Cao su Bà Rịa cũng báo giá thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 14.600 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.
Việc giá cao su trong nước “đi ngang” phản ánh tâm lý thận trọng của doanh nghiệp trong bối cảnh thị trường thế giới còn nhiều biến động. Nếu giá nguyên liệu đầu vào và thị trường xuất khẩu không có biến động lớn, giá cao su nhiều khả năng vẫn duy trì trạng thái ổn định. Tuy nhiên, trong trường hợp giá dầu tăng mạnh hoặc nhu cầu toàn cầu phục hồi rõ rệt, thị trường có thể xuất hiện những nhịp tăng giá mới.
Trên thị trường thế giới, giá cao su kỳ hạn tháng 4/2026 tại Thái Lan tăng 0,7% (0,5 Baht) lên mức 75.8 Baht/kg.
Tại Nhật Bản, giá cao su kỳ hạn tháng 5/2026 đi ngang mức 367,9 Yên/kg.
Tại Trung Quốc, giá cao su kỳ hạn tháng 5 giảm 0,24% (40 Nhân dân tệ) về mức 16,440 Nhân dân tệ/tấn.
Trên Sàn Singapore (SICOM), hợp đồng cao su kỳ hạn tháng 4 ở mức 197,1 US cent/kg, giảm 1,7%.
Giá cao su tại Nhật Bản chấm dứt chuỗi 5 phiên tăng liên tiếp, khi nguồn cung từ Trung Quốc dần cải thiện và tồn kho tại cảng nhập khẩu Qingdao tiếp tục tăng.
Hợp đồng cao su trên Sàn Giao dịch Osaka (OSE) kỳ hạn tháng 9 giảm nhẹ 0,03% xuống 380,6 Yên/kg, tương đương khoảng 2.390 USD/tấn. Mặc dù vậy, hợp đồng này vẫn tăng 1,36% kể từ đầu tháng.
Tại Trung Quốc, hợp đồng cao su trên Sàn Giao dịch Hàng hóa Thượng Hải (SHFE) kỳ hạn tháng 5 giảm 0,82%, còn 16.345 Nhân dân tệ/tấn, tương đương khoảng 2.366 USD/tấn. Hợp đồng cao su butadiene kỳ hạn tháng 5 cũng giảm 2,53% xuống 17.350 Nhân dân tệ/tấn, tương đương 2.512 USD/tấn.
Trong khi đó, giá cao su xuất khẩu chuẩn của Thái Lan (RSS3) tăng 0,46%, còn cao su dạng khối giảm 0,31%.
GIÁ THỊT LỢN
Khảo sát tại miền Bắc, giá lợn hơi hôm nay tăng mạnh nhiều nơi. Cụ thể, giá lợn tại các tỉnh Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lai Châu và Phú Thọ cùng tăng 1.000 đồng/kg, lên mức 63.000 đồng/kg. Thái Nguyên, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hải Phòng và Ninh Bình đồng loạt tăng 1.000 đồng/kg, hiện đạt 64.000 đồng/kg.
Đáng chú ý, Lào Cai và Hưng Yên ghi nhận mức tăng mạnh 2.000 đồng/kg. Sau điều chỉnh, Lào Cai lên 64.000 đồng/kg, trong khi Hưng Yên đạt mức cao nhất khu vực là 65.000 đồng/kg.
Ở chiều đi ngang, giá lợn tại Hà Nội giữ mức 64.000 đồng/kg. Điện Biên và Sơn La tiếp tục ổn định ở mức 63.000 đồng/kg.
Hiện giá lợn hơi tại miền Bắc dao động từ 63.000 đồng/kg đến 65.000 đồng/kg.
Tại Miền Trung - Tây Nguyên, giá lợn hơi hôm nay ghi nhận một số điểm tăng nhẹ. Cụ thể, giá lợn tại Thanh Hóa và Nghệ An cùng tăng 1.000 đồng/kg, lên mức 63.000 đồng/kg. Hà Tĩnh tăng 1.000 đồng/kg, đạt 62.000 đồng/kg.
Ở chiều đi ngang, các địa phương Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai và Đắk Lắk duy trì mức 64.000 đồng/kg. Khánh Hòa giữ nguyên mức 65.000 đồng/kg, trong khi Lâm Đồng tiếp tục ổn định ở mức 66.000 đồng/kg.
Hiện giá lợn hơi tại miền Trung - Tây Nguyên dao động từ 62.000 đồng/kg đến 66.000 đồng/kg.
Tại miền Nam, giá lợn hơi hôm nay đi ngang. Cụ thể, giá lợn tại Đồng Nai và Tây Ninh tiếp tục duy trì mức 68.000 đồng/kg, giữ vị trí cao nhất khu vực. Đồng Tháp và TP Hồ Chí Minh đi ngang ở mức 67.000 đồng/kg, trong khi Vĩnh Long giữ mức 66.000 đồng/kg.
Các địa phương An Giang, Cà Mau và Cần Thơ tiếp tục ổn định tại mức 65.000 đồng/kg.
Hiện giá lợn hơi tại miền Nam dao động từ 65.000 đồng/kg đến 68.000 đồng/kg.
Nhìn chung, giá lợn hơi hôm nay có xu hướng tăng tại miền Bắc và một phần miền Trung - Tây Nguyên, trong khi miền Nam tạm thời chững lại. Mặt bằng giá cao nhất vẫn tập trung tại khu vực phía Nam với mức 68.000 đồng/kg.
Theo khảo sát từ trang winmart.vn giá thịt lợn ghi nhận giữ giá ổn định, niêm yết trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg. Cụ thể, thịt lợn xay là sản phẩm có giá bán thấp nhất, duy trì mức 102.322 đồng/kg. Tiếp đó là các sản phẩm thịt nạc đùi, nạc vai lợn và chân giò rút xương, với giá bán lần lượt là 122.320 đồng/kg, 126.320 đồng/kg và 127.922 đồng/kg.
Như vậy, giá thịt lợn tại WinMart hiện dao động trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg và được giảm giá 20% theo chương trình ưu đãi dành cho hội viên của WinMart.