Giá nông sản hôm nay (3/3): Giá cà phê và tiêu đồng loạt giảm nhẹ

Bản tin cập nhật những thông tin đáng chú ý trên thị trường nông sản; giá cả các mặt hàng chủ lực như thịt lợn, lúa gạo, cà phê, hồ tiêu…

Ngày 3/3, giá các mặt hàng nông sản chủ lực có xu hướng biến động không đáng kể tại thị trường trong nước.

GIÁ GẠO

Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang và Lúa gạo Việt, giá gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 hôm nay tăng 100 đồng/kg dao động 9.200 - 9.300 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 giảm 100 đồng/kg dao động ở mức 7.900 - 8.000 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 8.000 - 8.100 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.900 - 9.100 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.600 - 7.770 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 5451 dao động ở mức 8.800 - 8.900 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600; gạo thành phẩm IR 504 dao động ở 9.500 - 9.700 đồng/kg.

Tại các chợ lẻ, gạo các loại bình giá so với hôm qua. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo thường dao động ở mốc 12.000 - 13.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.

Tương tự với mặt hàng lúa, giá lúa tươi IR 50404 hôm nay dao động ở mức 5.400 - 5.500 đồng/kg; giá lúa OM 5451 (tươi) dao động mốc 5.800 - 6.000 đồng/kg; giá lúa OM 4218 dao động 6.200 - 6.400 đồng/kg; giá lúa OM 18 (tươi) dao động ở mốc 6.500 - 6.700 đồng/kg; giá lúa Đài Thơm 8 (tươi) dao động ở mốc 6.500 - 6.700 đồng/kg; giá lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.200 - 5.400 đồng/kg.

Tại các địa phương hôm nay, giao dịch mua bán trở lại nhưng thương lái ít mua, lúa tươi vững giá. Tại An Giang, giao dịch mua bán yếu, thương lái hỏi mua trở lại, giao dịch chốt ít, giá tương đối ổn định. Tại Đồng Tháp, nhiều bạn hàng hỏi mua trở lại, giá ít biến động. Tại Cần Thơ, Cà Mau, Vĩnh Long, Tây Ninh, giao dịch lúa đầu năm ít, thương lái hỏi mua trở lại, giá ít biến động.

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam biến động trái chiều so với đầu tuần. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, hiện gạo thơm 5% tấm giá dao động ở mức 400 - 415 USD/tấn; gạo 100% tấm dao động ở mức 316 - 320 USD/tấn (giảm 2 USD/tấn); gạo Jasmine giá dao động 433 - 437 USD/tấn (tăng 2 USD/tấn).

GIÁ CÀ PHÊ

Khảo sát sáng nay cho thấy, giá cà phê tại khu vực Tây Nguyên dao động trong khoảng 94.800 – 95.500 đồng/kg, giảm 500 – 700 đồng/kg so với hôm trước.

Cụ thể, tại Đắk Nông, Đắk Lắk và Gia Lai, giá thu mua cùng giảm 500 đồng/kg, hiện ở mức 95.500 đồng/kg. Trong khi đó, Lâm Đồng giảm mạnh hơn 700 đồng/kg, xuống còn 94.800 đồng/kg – thấp nhất khu vực.

Tính từ đầu tháng 2 đến nay, giá cà phê nội địa đã giảm hơn 5%, tương đương khoảng 5.200 – 5.400 đồng/kg. Dù vậy, mặt bằng giá hiện tại vẫn cao hơn đáng kể so với trung bình nhiều năm trước, giúp người trồng duy trì biên lợi nhuận nhất định.

Tâm lý thị trường trong nước hiện khá thận trọng. Nông dân chưa có xu hướng bán ra ồ ạt, trong khi doanh nghiệp xuất khẩu theo sát diễn biến trên các sàn kỳ hạn để điều chỉnh chiến lược thu mua phù hợp.

Kết thúc phiên giao dịch, thị trường cà phê thế giới ghi nhận đà tăng mạnh, đặc biệt là robusta.

Trên sàn London, giá robusta kỳ hạn tháng 3/2026 tăng 3,87% (143 USD/tấn), lên 3.842 USD/tấn; hợp đồng tháng 5/2026 tăng 4,08% (148 USD/tấn), đạt 3.772 USD/tấn.

Tại sàn New York, giá arabica kỳ hạn tháng 3/2026 tăng 1,32% (3,75 US cent/pound), lên 288,35 US cent/pound; hợp đồng tháng 5/2026 tăng 1,37%, đạt 284,6 US cent/pound.

Theo dữ liệu từ Barchart, giá robusta đã chạm mức cao nhất trong hai tuần. Đà tăng này được hỗ trợ bởi lo ngại nguồn cung và rủi ro gián đoạn vận tải qua khu vực Trung Đông, đặc biệt tại eo biển Hormuz, khiến chi phí nhiên liệu, bảo hiểm và logistics toàn cầu gia tăng.

Về nguồn cung, xuất khẩu robusta của đảo Sumatra (Indonesia) trong tháng 1 đạt 18.788 tấn, tăng 1,84% so với cùng kỳ năm trước nhưng giảm mạnh 42,2% so với tháng 12/2025. Trong khi đó, tại Brazil, lượng mưa cải thiện tại bang Minas Gerais đã hỗ trợ triển vọng vụ arabica.

Theo công ty khí tượng Somar Meteorologia, khu vực này ghi nhận lượng mưa 78 mm trong tuần kết thúc ngày 20/2, tương đương 131% mức trung bình lịch sử. Tuy nhiên, thị trường vẫn theo dõi sát diễn biến thời tiết tại các vùng sản xuất trọng điểm như Nam Minas và Mogiana (bang São Paulo), bởi đây sẽ là yếu tố quyết định kỳ vọng sản lượng niên vụ 2026.

Bên cạnh đó, đồng USD mạnh lên đang phần nào hạn chế đà tăng của hàng hóa, đồng thời thúc đẩy hoạt động chốt giá từ các nhà xuất khẩu Brazil. Đối với robusta, yếu tố hỗ trợ cơ bản tiếp tục đến từ nguồn cung còn hạn chế tại Việt Nam, cùng nhu cầu ổn định từ ngành cà phê hòa tan và tiến trình tái bổ sung tồn kho toàn cầu diễn ra chậm.

Nhìn chung, thị trường cà phê bước vào tuần mới với thế cân bằng mong manh giữa nguồn cung vẫn còn thắt chặt, rủi ro địa chính trị gia tăng và yếu tố thời tiết chưa ổn định tại các vùng sản xuất lớn. Trong bối cảnh đó, nhà đầu tư và các tác nhân trong chuỗi cung ứng tiếp tục duy trì tâm thế thận trọng, chờ thêm tín hiệu rõ ràng từ cả cung – cầu lẫn môi trường vĩ mô.

GIÁ TIÊU

Ghi nhận sáng nay, giá tiêu tại các địa phương trọng điểm đồng loạt đi xuống. Cụ thể, tại Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng và Bà Rịa – Vũng Tàu, giá thu mua giảm 2.000 đồng/kg, xuống còn 146.000 đồng/kg.

Tương tự, tại Gia Lai, giá tiêu giảm 2.000 đồng/kg, hiện giao dịch ở mức 145.500 đồng/kg.

Riêng Đồng Nai ghi nhận mức giảm mạnh nhất 2.500 đồng/kg, đưa giá thu mua xuống còn 145.000 đồng/kg – thấp nhất trong các địa phương khảo sát.

Nhìn chung, giá tiêu nội địa đang dao động trong khoảng 145.000 – 146.000 đồng/kg. Áp lực giảm giá chủ yếu đến từ nguồn cung mới ra thị trường trong khi sức mua chưa có đột biến rõ rệt.

Trên thị trường quốc tế, kết thúc phiên giao dịch gần nhất, giá tiêu không ghi nhận biến động mới.

Theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen Indonesia hiện ở mức 7.011 USD/tấn; tiêu đen Brazil ASTA 570 đạt 6.175 USD/tấn; trong khi tiêu đen Malaysia được chào bán ở mức 9.100 USD/tấn.

Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l và 550 g/l dao động trong khoảng 6.400 – 6.500 USD/tấn.

Ở phân khúc tiêu trắng, tiêu trắng Muntok Indonesia đạt 9.339 USD/tấn. Tại Malaysia và Việt Nam, giá tiêu trắng xuất khẩu lần lượt đứng ở mức 12.100 USD/tấn và 9.150 USD/tấn.

GIÁ CAO SU

Trong nước, giá thu mua cao su nguyên liệu ổn định. Cụ thể, tại Công ty Cao su Bà Rịa báo giá thu mua mủ nước 420 đồng/độ TSC/kg, áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30. Giá mủ đông DRC (35 - 44%) đạt 14.600 đồng/kg, còn mủ nguyên liệu ở mức 18.100 đồng/kg.

Công ty Mang Yang, giá mủ nước dao động khoảng 379 - 384 đồng/TSC (loại 2 -loại 1), trong khi mủ đông tạp được thu mua trong khoảng 345 - 393 đồng/DRC.

Công ty Phú Riềng giữ giá mủ tạp bình ổn ở mức 390 đồng/DRC, còn mủ nước duy trì 420 đồng/TSC.

Công ty Cao su Bình Long, giá thu mua tại nhà máy được giữ ở mức 432 đồng/độ TSC/kg, trong khi thu mua tại đội sản xuất ở mức 422 đồng/TSC/kg. Giá mủ tạp bình ổn (DRC 60%) duy trì 14.000 đồng/kg.

Kết thúc phiên giao dịch ngày 26/2, tại Thái Lan, giá cao su kỳ hạn tháng 3/2026 tăng 2,3% (1,6 Baht) lên mức 70,2 Baht/kg.

Tại Nhật Bản, giá cao su kỳ hạn tháng 4/2026 tăng 1,7% (6,3 Yên) lên mức 368 Yên/kg.

Tại Trung Quốc, giá cao su kỳ hạn tháng 4 tăng 1,7% (295 Nhân dân tệ) lên mức 17.185 Nhân dân tệ/tấn.

Trên Sàn giao dịch Singapore (SICOM), hợp đồng cao su giao tháng 3 giao dịch ở mức 203 US cent/kg, tăng 1,8%.

Giá cao su kỳ hạn Nhật Bản tăng phiên thứ 6 liên tiếp, chạm mức cao nhất trong một năm khi thị trường phản ứng trước nguy cơ thiếu hụt nguồn cung từ các quốc gia sản xuất lớn.

Trên Sàn Osaka Exchange (OSE), hợp đồng cao su giao tháng 8/2026 tăng 5,4 Yên, tương đương 1,46% lên 374,2 yên/kg (khoảng 2,40 USD/kg), đây là mức cao nhất kể từ ngày 21/2/2025.

Tại Trung Quốc, trên sàn SHFE, hợp đồng cao su giao tháng 5 tăng 355 Nhân dân tệ, tương đương 2,1% lên 17.240 Nhân dân tệ/tấn (khoảng 2.510,16 USD/tấn). Trong khi đó, hợp đồng cao su butadien giao tháng 3, loại được giao dịch nhiều nhất giảm nhẹ 5 Nhân dân tệ xuống còn 13.045 Nhân dân tệ/tấn.

GIÁ THỊT LỢN

Khảo sát tại miền Bắc, giá lợn hơi hôm nay đồng loạt đi xuống, nhiều nơi giảm sâu 2.000 - 3.000 đồng/kg.

Cụ thể, giá lợn tại Tuyên Quang, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Phú Thọ và Hưng Yên cùng giảm 3.000 đồng/kg. Sau điều chỉnh, Tuyên Quang và Phú Thọ xuống 65.000 đồng/kg; Lạng Sơn và Quảng Ninh còn 66.000 đồng/kg; Bắc Ninh, Hưng Yên về mức 67.000 đồng/kg.

Cao Bằng, Thái Nguyên, Hà Nội, Hải Phòng, Ninh Bình, Lai Châu, Điện Biên và Sơn La giảm 2.000 đồng/kg. Hiện Cao Bằng, Hà Nội, Hải Phòng, Điện Biên và Sơn La cùng đạt 67.000 đồng/kg; Thái Nguyên, Ninh Bình và Lai Châu còn 66.000 đồng/kg. Lào Cai ghi nhận mức giảm nhẹ nhất khu vực khi hạ 1.000 đồng/kg, xuống 67.000 đồng/kg.

Hiện giá lợn hơi tại miền Bắc dao động từ 65.000 đồng/kg đến 67.000 đồng/kg.

Tại khu vực miền Trung - Tây Nguyên, giá lợn hơi hôm nay tiếp tục điều chỉnh giảm trên diện rộng. Cụ thể, giá lợn tại Gia Lai và Lâm Đồng cùng giảm 3.000 đồng/kg, lần lượt xuống mức 67.000 đồng/kg và 69.000 đồng/kg.

lợn hơi tại Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Đắk Lắk và Khánh Hòa đồng loạt giảm 2.000 đồng/kg. Hiện Nghệ An đạt 68.000 đồng/kg; Hà Tĩnh còn 66.000 đồng/kg; các địa phương Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Đắk Lắk và Khánh Hòa cùng ở mức 68.000 đồng/kg. Thanh Hóa giảm 1.000 đồng/kg, xuống 67.000 đồng/kg.

Hiện giá lợn hơi tại miền Trung - Tây Nguyên dao động từ 66.000 đồng/kg đến 69.000 đồng/kg.

Tại miền Nam, giá lợn hơi hôm nay cũng không nằm ngoài xu hướng giảm chung. Cụ thể, giá lợn tại Đồng Nai, Tây Ninh, Đồng Tháp và TP HCM cùng giảm 2.000 đồng/kg. Sau điều chỉnh, Đồng Nai, Tây Ninh và TP Hồ Chí Minh còn 70.000 đồng/kg; Đồng Tháp xuống 69.000 đồng/kg.

Lợn hơi tại An Giang, Vĩnh Long và Cần Thơ giảm 1.000 đồng/kg. Hiện An Giang và Vĩnh Long đạt 69.000 đồng/kg; Cần Thơ còn 68.000 đồng/kg. Trong khi đó, Cà Mau là địa phương duy nhất giữ nguyên giá, tiếp tục neo tại 70.000 đồng/kg.

Hiện giá lợn hơi tại miền Nam dao động từ 68.000 đồng/kg đến 70.000 đồng/kg.

Nhìn chung, giá lợn hơi sáng nay giảm sâu trên diện rộng, nhiều nơi điều chỉnh tới 3.000 đồng/kg. Mặt bằng giá tại các khu vực đang thu hẹp dần, phản ánh áp lực cung lớn trong bối cảnh sức mua chưa có dấu hiệu cải thiện./.

Theo khảo sát từ trang winmart.vn giá thịt lợn ghi nhận giữ giá ổn định, niêm yết trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg. Cụ thể, thịt lợn xay là sản phẩm có giá bán thấp nhất, duy trì mức 102.322 đồng/kg. Tiếp đó là các sản phẩm thịt nạc đùi, nạc vai lợn và chân giò rút xương, với giá bán lần lượt là 122.320 đồng/kg, 126.320 đồng/kg và 127.922 đồng/kg.

Như vậy, giá thịt lợn tại WinMart hiện dao động trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg và được giảm giá 20% theo chương trình ưu đãi dành cho hội viên của WinMart.

Có thể bạn quan tâm