Rào cản của ngành logistics Việt Nam

Tại diễn đàn Logistics Việt Nam 2017 vừa qua, số liệu của Ngân hàng Thế giới (WB) cho biết chi phí logistics ở Việt Nam còn ở mức cao, tương đương 20% GDP nhưng tỷ trọng đóng góp của ngành này vào GDP
Rào cản của ngành logistics Việt Nam

Ông Ousmane Dione - Giám đốc WB cho rằng, tiềm năng tăng trưởng của Việt Nam đang bị hạn chế nghiêm trọng do sự yếu kém của hành lang kết nối giữa những trọng điểm tăng trưởng quan trọng với các cửa ngõ quốc tế lớn, chi phí vận tải cao, chất lượng vận tải và logistics kém.

Năm 2016, ngành logistics của Việt Nam xếp hạng thứ 64/160 quốc gia, đứng thứ 4 trong khu vực ASEAN (sau Singapore, Thái Lan và Malaysia). Tổng chi phí logistics của Việt Nam là 41,26 tỷ USD, tương đương 20,8% GDP, trong khi ở các nước phát triển, con số này chỉ từ 9 – 14%. Đặt vấn đề về khó khăn, nhiều doanh nghiệp tại diễn đàn cho rằng cước vận chuyển cao như hiện nay là một trong những rào cản lớn nhất.

Một nghiên cứu của Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI) cho thấy, chi phí vận chuyển một container hàng từ cảng Hải Phòng về Hà Nội hay ở chiều ngược lại (khoảng 100km), đắt gấp 3 lần so với chi phí vận chuyển một container hàng từ Trung Quốc và Hàn Quốc về Việt Nam.

Phía doanh nghiệp nhận xét thêm: “Cước phí hàng không của Việt Nam hiện đang cao hơn nhiều so với chi phí đường bộ. Chi phí đường bộ trong nước lại cao hơn nhiều so với cước vận chuyển hàng không của thế giới”. Thêm một lý do nữa là chi phí logistics cảng biển của Việt Nam cao gấp từ 1,2 - 2 lần so với các nước lân cận.

Ông Phạm Minh Đức - chuyên gia kinh tế của World Bank nhận định, để phát triển logistics, cần tập trung vào giảm chi phí thuế quan, gồm chi phí tuân thủ hành chính trước và tại cửa khẩu và chi phí logistics. Ông Phạm Minh Đức cũng cho rằng chi phí về rào cản phi thương mại của Việt Nam cao hơn rất nhiều so với khu vực. Tổng chi phí logistics bao gồm chi phí vận tải, chi phí xếp dỡ, lưu trú tại cảng, thủ tục tại cửa khẩu, trong đó, chiếm trên 50% là các chi phí không rõ ràng liên quan đến các thủ tục hành chính cho xuất nhập khẩu của rất nhiều bộ ngành. Chỉ riêng 3 bộ là Bộ Công thương, Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chiếm hơn 70% các thủ tục liên quan đến logistics.

Những năm qua, tổng giá trị logistics luôn chiếm 21 – 25% GDP Việt Nam nhưng thực tế chỉ đóng góp 2 – 3% vào GDP, bởi vì những doanh nghiệp logistics lớn ở Việt Nam đa phần là của chủ đầu tư nước ngoài. Theo Viện Momura (Nhật Bản), các doanh nghiệp logistics Việt Nam chỉ đáp ứng khoảng một phần tư nhu cầu thị trường logistics trong nước. Còn theo tính toán của Cục Hàng hải Việt Nam, lĩnh vực quan trọng nhất trong logistics là vận tải biển thì doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ đáp ứng chuyên chở được 18% tổng lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, phần còn lại đang bị chi phối bởi các doanh nghiệp nước ngoài.

Hệ quả của thực trạng này, theo nhận định của VCCI, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu của Việt Nam hiện vẫn chủ yếu chuộng phương thức “mua CIF (giá tại cửa khẩu của bên nhập) bán FOB (giá tại cửa khẩu của bên xuất)”, chỉ khoảng 30% doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu và quen với dịch vụ logistics thuê ngoài, số còn lại vẫn tự làm. Việc thực hiện xuất khẩu hàng theo điều kiện FOB, FCA trong incoterms (nghĩa là người bán chỉ cần giao hàng qua lan can tàu tại cảng bốc hàng theo quy định là hết trách nhiệm) khiến quyền quyết định về vận tải đều do người mua chỉ định theo lợi ích và quan hệ riêng.

Trên thực tế, các hợp đồng logistics thường về tay các công ty logistics toàn cầu, còn một phần vì các cuộc đấu thầu hằng năm của các tập đoàn lớn thường diễn ra ở nước ngoài. “Các doanh nghiệp nước ngoài - chủ tàu chính sẽ là những người được hưởng lợi,” VCCI nhận định.

Theo Doanh nhân Sài Gòn

Có thể bạn quan tâm

Giải Golf doanh nhân quốc tế VACOD-HBA 2026 tạo dấu ấn lớn, khí thế hướng đến tháng doanh nhân Việt Nam

Giải Golf doanh nhân quốc tế VACOD-HBA 2026 tạo dấu ấn lớn, khí thế hướng đến tháng doanh nhân Việt Nam

Chủ trì Chương trình Bữa sáng Doanh nhân ngày 5/9, TS Nguyễn Hồng Sơn nêu rõ Giải Golf Doanh nhân Quốc tế VACOD – HBA ghi nhận sức hút và tinh thần đồng hành mạnh mẽ của cộng đồng doanh nhân; đồng thời chia sẻ những đánh giá tích cực từ đợt kiểm tra liên ngành đối với hoạt động của VACOD...

EVFTA sau 6 năm: Cánh cửa thuế quan mở, nhưng lại vướng "bức tường xanh"

EVFTA sau 6 năm: Cánh cửa thuế quan mở, nhưng lại vướng "bức tường xanh"

Nếu những năm đầu, lợi ích lớn nhất của EVFTA được nhìn thấy ở việc cắt giảm thuế quan và mở rộng thị trường, thì hiện nay, cuộc cạnh tranh đã chuyển sang một mặt trận khó hơn là tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, phát thải carbon, chống phá rừng và trách nhiệm xã hội...

EVFTA sau 6 năm: Từ cú hích thương mại đến cuộc cải cách sâu hơn của nền kinh tế

EVFTA sau 6 năm: Từ cú hích thương mại đến cuộc cải cách sâu hơn của nền kinh tế

6 năm sau khi Hiệp định Thương mại tự do Liên minh châu Âu (EU) - Việt Nam (EVFTA) có hiệu lực, quan hệ kinh tế Việt Nam - EU đã bước sang một giai đoạn mới, kim ngạch thương mại hai chiều tăng mạnh, xuất khẩu của Việt Nam lập những mốc cao mới, tỷ lệ tận dụng ưu đãi thuế quan cải thiện rõ rệt...