Từ 1/7/2026, chính sách mới liên quan đến y tế sẽ chính thức có hiệu lực thi hành mà người dân cần quan tâm, lưu ý.
LUẬT PHÒNG BỆNH 2025 CÓ HIỆU LỰC
Luật Phòng bệnh 2025, số 114/2025/QH15 chính thức có hiệu lực với nhiều điểm mới đáng chú ý, cụ thể:
- Mở rộng phạm vi, đối tượng điều chỉnh
Luật Phòng bệnh 2025 quy định về phòng, chống bệnh truyền nhiễm; phòng, chống bệnh không lây nhiễm; phòng, chống rối loạn tâm thần; dinh dưỡng trong phòng bệnh; điều kiện bảo đảm để phòng bệnh.
Quy định áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tại Việt Nam.
- Nguyên tắc trong phòng bệnh
Luật Phòng bệnh 2025, đánh dấu bước chuyển từ tư duy “chữa bệnh” sang “chủ động phòng bệnh” là chính, với người dân là trung tâm. Các biện pháp phòng bệnh kết hợp giữa chuyên môn y tế, hành chính và xã hội. Ưu tiên tiếp cận dịch vụ phòng bệnh cho các nhóm yếu thế như người khuyết tật, người cao tuổi, và người dân tộc thiểu số.
- Các biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm
Luật Phòng bệnh 2025 quy định các biện pháp như giám sát, khai báo, đánh giá nguy cơ, cách ly y tế, kiểm dịch, sử dụng vắc xin và bảo đảm an toàn sinh học. Trong trường hợp dịch bệnh vượt quá khả năng ứng phó của địa phương, Thủ tướng Chính phủ và các cấp chính quyền có thể áp dụng các biện pháp khẩn cấp.
- Nhà nước cấp kinh phí đào tạo sau đại học ngành y học dự phòng
Theo Điều 40 Luật Phòng bệnh 2025 Nhà nước hỗ trợ người sau đại học thuộc lĩnh vực y học dự phòng nhằm phát triển nguồn nhân lực làm công tác phòng bệnh bao gồm:
Hỗ trợ toàn bộ học phí và hỗ trợ chi phí sinh hoạt trong toàn khóa học nếu học tại cơ sở giáo dục thuộc lĩnh vực sức khỏe của Nhà nước;
Hỗ trợ tiền đóng học phí và hỗ trợ chi phí sinh hoạt trong toàn khóa học tương ứng với mức quy định tại điểm a khoản này nếu học tại cơ sở giáo dục thuộc lĩnh vực sức khỏe của tư nhân.
Đồng thời, Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân cấp học bổng hoặc trợ cấp cho người học đại học, sau đại học thuộc lĩnh vực y học dự phòng, y tế công cộng, dinh dưỡng.
Luật chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7.
BỔ SUNG QUY ĐỊNH HỖ TRỢ HÀNG THÁNG ĐỐI VỚI NHÂN VIÊN Y TẾ THÔN, TỔ DÂN PHỐ
Theo khoản 1 Điều 7 Nghị định 192/2026/NĐ-CP quy định trong thời gian công tác, nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản được hỗ trợ hàng tháng.
Khoản 2 Điều 7 quy định mức hỗ trợ hàng tháng đối với nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản bằng 0,7 lần hoặc 0,5 lần so với mức lương cơ sở, cụ thể như sau:
Căn cứ vào đặc điểm, tình hình phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu thực tế và khả năng ngân sách của địa phương mà Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp để xác định cụ thể số lượng nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản và quy định cụ thể mức hỗ trợ hàng tháng của nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn nhưng không thấp hơn mức hỗ trợ theo quy định.
Mặt khác, theo Nghị định 161/2026/NĐ-CP, từ ngày 1/7 mức lương cơ sở được điều chỉnh tăng từ 2,34 triệu đồng/tháng lên 2,53 triệu đồng/tháng.
Nghị định chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 15/7.
BỔ SUNG QUY ĐỊNH TRƯỜNG HỢP ĐƯỢC BỒI THƯỜNG KHI SỬ DỤNG VẮC XIN TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIÊM CHỦNG MỞ RỘNG
Theo Điều 50 Nghị định 165/2025/NĐ-CP quy định các trường hợp được bồi thường khi sử dụng vắc xin, sinh phẩm trong Chương trình tiêm chủng mở rộng, tiêm chủng chống dịch cụ thể:
Thứ nhất, các đối tượng thuộc diện tiêm chủng bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Nghị định 165/2026/NĐ-CP phải tham gia tiêm chủng. Trong trường hợp tham gia tiêm chủng mà xảy ra tai biến ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe hoặc tính mạng thì được Nhà nước bồi thường.
Thứ hai, các trường hợp được Nhà nước bồi thường theo trường hợp thứ nhất, bao gồm:
Người được tiêm chủng bị tai biến nặng sau khi tiêm chủng để lại di chứng dẫn đến khuyết tật;
Người được tiêm chủng bị tử vong.
Căn cứ Điều 51 Nghị định 165/2026/NĐ-CP, trường hợp người được tiêm chủng bị khuyết tật do tai biến nặng sau tiêm chủng thì được bồi thường bằng 30 lần mức lương cơ sở tại thời điểm giải quyết bồi thường.
Đối với trường hợp người được tiêm chủng tử vong, Nhà nước chi trả các khoản gồm chi phí mai táng theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và khoản bù đắp tổn thất về tinh thần với mức 100 triệu đồng.
Ngoài ra, Điều 51 Nghị định 165/2026/NĐ-CP cũng quy định Nhà nước thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với trường hợp bị tai biến sau tiêm chủng mà chưa được quỹ bảo hiểm y tế chi trả.
Nghị định chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7.
PHỤ NỮ SINH ĐỦ 2 CON TRƯỚC 35 TUỔI ĐƯỢC HỖ TRỢ TỐI THIỂU 2 TRIỆU ĐỒNG
Theo điểm c khoản 1 Điều 3 Nghị định 168/2026/NĐ-CP quy định phụ nữ sinh đủ 2 con trước 35 tuổi được hỗ trợ tài chính tối thiểu 2 triệu đồng/phụ nữ khi sinh con. Ngoài ra, phụ nữ sinh con cũng được hỗ trợ tối thiểu 2 triệu đồng khi thuộc các trường hợp sau:
Phụ nữ dân tộc thiểu số rất ít người;
Phụ nữ ở tỉnh, thành phố có mức sinh dưới mức sinh thay thế.
Việc hỗ trợ kinh phí được thực hiện thông qua Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã. Cơ quan này căn cứ thông tin từ hệ thống liên thông thủ tục đăng ký khai sinh, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, ứng dụng định danh quốc gia VNeID và các cơ sở dữ liệu có sẵn để quyết định hỗ trợ và chi trả cho phụ nữ sinh con cùng thời điểm đăng ký khai sinh. Kinh phí hỗ trợ do ngân sách địa phương bảo đảm.
Bên cạnh chính sách hỗ trợ tài chính khi sinh con, Nghị định 168/2026/NĐ-CP cũng quy định về chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai. Theo đó, trường hợp sinh con thứ 2, lao động nữ được nghỉ thai sản 7 tháng; lao động nam được nghỉ 10 ngày làm việc khi vợ sinh con, nếu đáp ứng điều kiện hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
Ngoài ra, Nghị định còn quy định phụ nữ mang thai được khám và thực hiện sàng lọc trước sinh đối với 4 bệnh cơ bản gồm: Hội chứng Down, hội chứng Edwards, hội chứng Patau và bệnh Thalassemia. Trẻ sơ sinh được sàng lọc 5 bệnh cơ bản gồm: Suy giáp trạng bẩm sinh, thiếu men G6PD, tăng sản thượng thận bẩm sinh, khiếm thính bẩm sinh và bất thường tim bẩm sinh nặng.
Mức hỗ trợ khám sàng lọc trước sinh được thanh toán theo thực tế nhưng tối đa không quá 900.000 đồng/trường hợp; sàng lọc sơ sinh tối đa không quá 600.000 đồng/trường hợp. Từ ngày 1/7 đến hết ngày 31/12/2026, chính sách này ưu tiên áp dụng cho phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, bảo trợ xã hội, người dân tại địa bàn đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi, biên giới, hải đảo. Từ ngày 1/1/2027, tất cả phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh được hưởng hỗ trợ theo quy định.
Nghị định chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7.
LƯƠNG HƯU, TRỢ CẤP BẢO HIỂM XÃ HỘI TĂNG THÊM 8%
Theo quy định tại Điều 3 Thông tư 14/2026/TT-BNV, từ ngày 1/7/2026, mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng được điều chỉnh tăng thêm 8% trên mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng của tháng 6/2026.
Trường hợp nghỉ việc hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hàng tháng trước ngày 1/1/1995 sau khi thực hiện điều chỉnh tăng 8% mà có mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hàng tháng thấp hơn 3.800.000 đồng/tháng thì điều chỉnh như sau:
- Đối với người có mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hàng tháng sau khi thực hiện điều chỉnh theo quy định tại khoản 1 Điều này bằng hoặc thấp hơn 3.500.000 đồng/tháng thì được điều chỉnh tăng thêm 300.000 đồng/tháng.
- Đối với người có mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hàng tháng sau khi thực hiện điều chỉnh theo quy định tại khoản 1 Điều này cao hơn 3.500.000 đồng/tháng nhưng thấp hơn 3.800.000 đồng/tháng thì được điều chỉnh tăng lên bằng 3.800.000 đồng/tháng.
Đối tượng đang hưởng trợ cấp tuất hàng tháng, trợ cấp phục vụ theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội trước ngày 1/7/2026 thì mức hưởng trợ cấp tuất hàng tháng từ ngày 1/7/2026 được tính theo mức lương cơ sở quy định tại Nghị định số 161/2026/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở và chế độ tiền thưởng đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang.
Thông tư chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7.
PHÂN CẤP THẨM QUYỀN CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN DƯỢC LIỆU ĐẠT GACP VỀ UBND CẤP TỈNH
Theo khoản 1 Điều 1 Thông tư 21/2026/TT-BYT, Bộ Y tế phân cấp thẩm quyền cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện các nhiệm vụ sau:
Đánh giá, đánh giá duy trì, đánh giá thay đổi, bổ sung dược liệu đạt GACP (là tiêu chuẩn “Thực hành tốt nuôi trồng và thu hái dược liệu” theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới).
Cấp lại, thu hồi Giấy chứng nhận dược liệu đạt GACP.
Trong khi đó, tại điểm b khoản 1 Điều 23 Thông tư 19/2019/TT-BYT quy định việc cấp Giấy chứng nhận dược liệu đạt GACP do Cục Quản lý Y, Dược cổ truyền thực hiện.
Hồ sơ, trình tự, thủ tục đánh giá, đánh giá duy trì, đánh giá thay đổi, bổ sung dược liệu đạt GACP và cấp lại, thu hồi Giấy chứng nhận dược liệu đạt GACP được thực hiện theo quy định tại Phụ lục I và Phụ lục II ban hành kèm Thông tư 21/2026/TT-BYT.
Ngoài ra, Thông tư cũng quy định đối với các trường hợp hồ sơ nộp trước ngày 01/7/2026 thì cơ quan đã tiếp nhận hồ sơ phải tiếp tục giải quyết theo quy định pháp luật đến khi kết thúc thủ tục hành chính.
Thông tư chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7.
QUY ĐỊNH NGUYÊN TẮC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ THUỐC MIỄN PHÍ
Theo Điều 2 Thông tư 16/2026/TT-BYT quy định nguyên tắc thực hiện Chương trình hỗ trợ thuốc miễn phí từ ngày 10/7 như sau:
- Chương trình hỗ trợ thuốc miễn phí được thực hiện trên cơ sở văn bản thỏa thuận giữa cơ sở kinh doanh dược và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định tại Điều 3 Thông tư này
- Việc thực hiện chương trình hỗ trợ thuốc miễn phí theo khả năng hỗ trợ của cơ sở kinh doanh dược, không phải nghĩa vụ bảo đảm đủ toàn bộ thuốc điều trị cho người bệnh; phải bảo đảm không thu tiền hoặc kèm theo điều kiện thương mại ràng buộc người bệnh; không tác động đến việc lựa chọn phương pháp điều trị, chỉ định sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả cho người bệnh.
- Thuốc trong chương trình hỗ trợ thuốc miễn phí phải được lưu hành hợp pháp tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về dược.
- Chỉ định sử dụng thuốc và kê đơn thuốc phải phù hợp với một trong các tài liệu sau đây:
Tờ hướng dẫn sử dụng thuốc đã được Bộ Y tế phê duyệt;
Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành hoặc công nhận;
Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh xây dựng theo quy định tại Điều 6 Thông tư 21/2013/TT-BYT.
Dược thư Quốc gia phiên bản mới nhất.
- Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện chương trình hỗ trợ thuốc miễn phí phải có phạm vi hoạt động chuyên môn phù hợp với chỉ định sử dụng thuốc trong chương trình hỗ trợ thuốc miễn phí.
- Đối tượng được hỗ trợ là người bệnh đã được chẩn đoán xác định bệnh, được chỉ định và kê đơn sử dụng thuốc phù hợp với chỉ định của thuốc thuộc chương trình hỗ trợ thuốc miễn phí và tự nguyện tham gia.
- Quỹ Bảo hiểm y tế không thanh toán đối với số lượng thuốc hỗ trợ miễn phí đã sử dụng cho người bệnh có thẻ bảo hiểm y tế.
Thông tư chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 10/7.
BỘ Y TẾ ĐƯA HPV VÀO DANH MỤC TIÊM CHỦNG BẮT BUỘC
Theo Điều 3 Thông tư 13/2026/TT-BYT quy định từ ngày 1/7/2026 bệnh do vi rút HPV (Human Papilloma Virus) ở người thuộc danh mục bệnh phải sử dụng vắc xin, sinh phẩm trong tiêm chủng bắt buộc thông qua Chương trình tiêm chủng mở rộng. Danh mục bệnh phải sử dụng vắc xin, sinh phẩm trong tiêm chủng bắt buộc gồm:
Bệnh viêm gan vi rút B;
Bệnh lao;
Bệnh bạch hầu;
Bệnh ho gà;
Bệnh uốn ván;
Bệnh bại liệt;
Bệnh do Haemophilus influenzae týp b;
Bệnh sởi;
Bệnh rubella;
Bệnh viêm não Nhật Bản;
Bệnh tiêu chảy do vi rút Rota;
Bệnh do phế cầu;
Bệnh do vi rút HPV ở người;
Bệnh khác theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Ngoài ra, Thông tư 13/2026/TT-BYT cũng quy định việc tổ chức tiêm chủng thường xuyên, tiêm chủng bù liều, tiêm chủng chiến dịch chủ động và tiêm chủng chống dịch; chế độ thông tin, báo cáo về hoạt động tiêm chủng; việc quản lý đối tượng tiêm chủng và Hội đồng tư vấn chuyên môn đánh giá nguyên nhân tai biến nặng trong quá trình sử dụng vắc xin, sinh phẩm.
Thông tư chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7.
QUY ĐỊNH 103 BỆNH BẨM SINH CẦN SÀNG LỌC TRƯỚC KHI SINH
Theo Phụ lục Thông tư 12/2026/TT-BYT đã quy định Danh mục 103 bệnh bẩm sinh khuyến khích khám sàng lọc trước khi sinh và sơ sinh bao gồm:
70 bệnh bẩm sinh khuyến khích khám sàng lọc quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư 12/2026/TT-BYT;
33 bệnh bẩm sinh khuyến khích khám sàng lọc sơ sinh quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư 12/2026/TT-BYT.
Ngoài ra, Bộ Y tế giao Cục Dân số định kỳ 02 năm một lần hoặc khi có yêu cầu về chuyên môn, kỹ thuật hoặc pháp lý chủ trì rà soát, đề xuất bổ sung Danh mục bệnh bẩm sinh cần sàng lọc.
Thông tư chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7.
137 TRƯỜNG HỢP ĐƯỢC TIẾT LỘ GIỚI TÍNH THAI NHI
Theo khoản 1 Điều 2 Thông tư 11/2026/TT-BYT xác định giới tính thai nhi phục vụ chẩn đoán và điều trị là việc sử dụng các kỹ thuật chuyên môn để xác định cặp nhiễm sắc thể giới tính, gen biệt hóa giới tính hoặc kiểu hình giới tính của thai nhi nhằm phục vụ chẩn đoán các bệnh lý di truyền có đặc điểm biểu hiện khác nhau giữa nam và nữ.
Theo đó, Danh mục các bệnh được thông báo, tiết lộ giới tính thai nhi để phục vụ chẩn đoán và điều trị từ ngày 01/7/2026 được quy quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư 11/2026/TT-BYT.
Thông tư chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7.