Một lượng vốn khổng lồ đang được gọi tên khi các dự án hạ tầng, đô thị lớn lần lượt bước vào giai đoạn triển khai. Ngân hàng vì thế đứng trước cơ hội mở rộng tín dụng, nhưng đồng thời cũng phải đối mặt với bài toán nguồn vốn khi tiền gửi chưa tăng tương xứng. Khoảng cách giữa tốc độ cho vay và huy động đang trở thành điểm cần lưu ý trong cuộc đua giải ngân những tháng cuối năm.
NHIỀU NGÂN HÀNG “CẠN ROOM” TÍN DỤNG
Theo số liệu mới nhất của Ngân hàng Nhà nước, đến ngày 28/8, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 20,5 triệu tỷ đồng, tăng 10,24% so với cuối năm 2025. Đáng chú ý, dòng vốn tiếp tục được định hướng vào sản xuất kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên và những động lực tăng trưởng theo chủ trương của Chính phủ. Khoảng 77,3% tổng dư nợ hiện phục vụ lĩnh vực sản xuất, kinh doanh.
Ở phía huy động, theo Chứng khoán ACBS, tính đến ngày 22/8, huy động vốn VND tăng 8,77% so với đầu năm. Trước đó, TCBS Research ghi nhận tín dụng toàn ngành đến hết quý 2 đạt 15,56 triệu tỷ đồng, tăng 9% so với đầu năm; riêng quý 2, dư nợ tăng thêm khoảng 811.000 tỷ đồng, gấp 1,7 lần mức tăng trong quý 1.
Đáng chú ý, đà tăng tín dụng không diễn ra đồng đều. Nhóm ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc các tổ chức tín dụng yếu kém đang có tốc độ mở rộng dư nợ vượt trội so với mặt bằng chung, nhờ được Ngân hàng Nhà nước cấp hạn mức tín dụng cao hơn để phục vụ quá trình tái cơ cấu.
VPBank dẫn đầu với mức tăng 23,2% từ đầu năm, tương đương tăng thêm khoảng 223.000 tỷ đồng dư nợ. HDBank tăng 21,8%, trong khi MB tăng 13,2%.
Trong khi đó, NCB ghi nhận mức tăng tín dụng 30,7%, cao nhất ngành trong cùng kỳ, trên nền tảng tái cơ cấu. Techcombank và MSB lần lượt tăng 15,2% và 11,4%. Theo TCBS Research, hai ngân hàng này đã sử dụng gần hết hạn mức tín dụng chỉ sau 6 tháng đầu năm.
Ở chiều ngược lại, nhóm ngân hàng quốc doanh duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng khoảng 5 - 5,5% theo định hướng điều hành. Không ngân hàng nào ghi nhận dư nợ thu hẹp, song một số ngân hàng đang trong quá trình tái cơ cấu có tốc độ tăng khá thấp như Saigonbank 1,1%, Sacombank 1,5% và Eximbank 3%.
Sự phân hóa này cho thấy bài toán tín dụng trong những tháng cuối năm không chỉ nằm ở nhu cầu vay vốn. Với những ngân hàng đã sử dụng gần hết room, khả năng tăng trưởng còn phụ thuộc vào việc Ngân hàng Nhà nước có cấp thêm hạn mức hay không.
Theo TCBS Research, tiền gửi mới chỉ tăng khoảng 5,5% từ đầu năm, thấp hơn đáng kể tốc độ tăng tín dụng. Vì vậy, ngân hàng muốn tận dụng hết room được cấp vẫn phải đồng thời tìm được nguồn vốn mới.
DÒNG VỐN NGÂN HÀNG DỒN VỀ CÁC ĐẠI DỰ ÁN
Áp lực giải ngân càng rõ khi nền kinh tế bước vào giai đoạn triển khai hàng loạt dự án hạ tầng, đô thị và công trình quy mô lớn. Tại Hà Nội, đến ngày 30/6, 13 tổ chức tín dụng đã tiếp cận và tham gia tài trợ 29 chương trình, dự án lớn, quan trọng, với tổng cam kết tín dụng hơn 63.000 tỷ đồng.
Hà Nội hiện là một trong những địa bàn tập trung nguồn lực tín dụng lớn nhất cả nước, chiếm hơn 37% tổng huy động và khoảng 31% tổng dư nợ của nền kinh tế, với 165 tổ chức tín dụng. Trong 8 tháng đầu năm, tín dụng trên địa bàn tăng 13,05%, cao hơn tốc độ tăng trưởng chung của cả nước.
Tại Hội nghị Giải pháp tài chính ngân hàng phục vụ kinh tế Thủ đô ngày 12/9, nhiều ngân hàng như Agribank, Vietcombank, BIDV, VietinBank, NCB, MSB, TPBank và MB đã ký kết các thỏa thuận thu xếp vốn cho nhiều dự án hạ tầng, đô thị lớn.
Đáng chú ý, dự án tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Hà Nội có tổng mức đầu tư khoảng 17.000 tỷ đồng, với NCB và Agribank cùng tham gia tài trợ. NCB giữ vai trò đầu mối thu xếp vốn, với hạn mức dự kiến tối thiểu 6.800 tỷ đồng đến hết năm 2027.
Ở một hướng khác, Vietcombank Chi nhánh Hà Nội hợp tác với Tổng Công ty Vận tải Hà Nội để tài trợ đầu tư phương tiện, phục vụ quá trình chuyển đổi sang xe buýt điện. MSB cũng hợp tác với Công ty TNHH Thành phố Công nghệ Xanh Hà Nội trong nghiên cứu, thu xếp tài chính và tín dụng cho dự án Khu đô thị Thành phố Công nghệ Xanh Hà Nội.
Những thương vụ này cho thấy tín dụng ngân hàng đang được kỳ vọng trở thành một trong những nguồn lực quan trọng để thúc đẩy đầu tư hạ tầng và đô thị, nhất là trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2026 được đặt ở mức trên 10%.
Khẳng định quyết tâm cung ứng vốn, ông Tạ Kiều Hưng, thành viên Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc NCB cho biết các công trình trọng điểm quốc gia đòi hỏi nguồn vốn rất lớn về cả quy mô lẫn tốc độ giải ngân.
NCB đã chuẩn bị bài bản nguồn lực và giải pháp tài chính đồng hành cho từng dự án, không chỉ tại Hà Nội mà còn ở khu vực TP.HCM với các dự án văn hóa, hạ tầng như Công viên Bến Nhà Rồng - Khánh Hội, Cây xanh Bến Bạch Đằng hay Quảng trường Trung tâm Thành phố.
NGÂN HÀNG CẦN SỰ “CHIA LỬA” CỦA THỊ TRƯỜNG VỐN
Tuy nhiên, khi quy mô các dự án ngày càng lớn và thời gian thu hồi vốn kéo dài, việc dựa quá nhiều vào tín dụng ngân hàng cũng đặt ra những giới hạn nhất định.
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn thẳng thắn cho rằng tín dụng ngân hàng không thể và cũng không nên trở thành nguồn vốn duy nhất cho mọi nhu cầu phát triển. Đến hết năm 2025, tỷ lệ tín dụng trên GDP của Việt Nam đã lên tới 146%, mức cao nhất trong nhóm các nước thu nhập trung bình thấp.
Với những dự án có quy mô lớn và vòng đời dài, theo Thống đốc, cần phối hợp nhiều nguồn vốn gồm vốn chủ sở hữu, tín dụng, đầu tư công, mô hình đối tác công tư (PPP) và các kênh thị trường vốn, trái phiếu, tài chính xanh và ODA. Cách tiếp cận này vừa giúp tăng nguồn lực cho dự án, vừa giảm áp lực về kỳ hạn đối với hệ thống ngân hàng.
Cùng với đó, doanh nghiệp cần nâng cao năng lực quản trị, minh bạch tài chính và chuẩn hóa hồ sơ pháp lý để rút ngắn thời gian giải ngân. Cơ quan quản lý cũng đang nghiên cứu một số cơ chế nhằm tạo thêm dư địa tín dụng cho các dự án lớn, trong đó có đề xuất nâng giới hạn cho vay lên tới 52% vốn tự có đối với một số dự án tại Hà Nội hoặc loại trừ dư nợ của một số tập đoàn như Vingroup, Sun Group, Masterise khỏi chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng hằng năm.
Từ góc độ thanh khoản, Chứng khoán ACBS cho rằng các giải pháp ngắn hạn như thị trường mở hay sử dụng tiền gửi Kho bạc Nhà nước chủ yếu giúp giảm áp lực tức thời. Về dài hạn, nền tảng thanh khoản bền vững vẫn phải đến từ tiền gửi có kỳ hạn, trái phiếu và nguồn vốn vay quốc tế.
Riêng trong tháng 8, các ngân hàng thương mại phát hành khoảng 23.200 tỷ đồng trái phiếu, với lãi suất bình quân gần 8,9%/năm. Mặt bằng chi phí vốn này cho thấy dư địa để lãi suất cho vay giảm trên diện rộng vẫn chịu sức ép.
ACBS cho rằng Ngân hàng Nhà nước cần tiếp tục điều hành linh hoạt, trong đó chú trọng các giải pháp tháo gỡ nút thắt thanh khoản khi chênh lệch cung - cầu vốn vẫn còn.
Theo chuyên gia kinh tế tài chính - ngân hàng Nguyễn Trí Hiếu, nhu cầu vốn trong những tháng cuối năm sẽ rất lớn, đặc biệt đối với đầu tư hạ tầng. Tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm đạt hơn 8%, trong khi mục tiêu cả năm trên 10%, đồng nghĩa tăng trưởng trong nửa cuối năm phải đạt trên 12% để hoàn thành mục tiêu. Vì vậy, thúc đẩy đầu tư xây dựng hạ tầng sẽ là một trong những động lực quan trọng.
“Xây dựng hạ tầng không chỉ tạo ra sản phẩm cho xã hội trong tương lai mà còn sử dụng lao động, nguyên vật liệu và nhiều nguồn lực khác, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đây cũng là lĩnh vực nằm trong tầm kiểm soát của Chính phủ nên việc đẩy mạnh đầu tư hạ tầng là giải pháp được ưu tiên”, ông Hiếu nói.
Gần đây, cơ quan quản lý đưa ra nhiều chính sách nhằm đẩy vốn cho các dự án lớn, cụ thể như đề xuất nâng giới hạn cho vay lên tới 52% vốn tự có với một số dự án tại Hà Nội, hay loại dư nợ cho vay một số dự án khỏi chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng hằng năm.
Ông Hiếu nhấn mạnh, về dài hạn, cần phát triển mạnh thị trường vốn để giảm phụ thuộc tín dụng ngân hàng. Các dự án hạ tầng, đô thị và công trình quy mô lớn cần được tài trợ bằng những nguồn vốn dài hạn phù hợp, thay vì chủ yếu dựa vào tiền gửi ngắn hạn của ngân hàng.