Giá nông sản hôm nay (13/7): Giá cà phê và hồ tiêu đồng loạt tăng

Bản tin cập nhật những thông tin đáng chú ý trên thị trường nông sản; giá cả các mặt hàng chủ lực như thịt lợn, lúa gạo, cà phê, hồ tiêu…

0:00 / 0:00
0:00
Thị trường hồ tiêu trong nước tăng mạnh tại các vùng nguyên liệu trọng điểm tuần vừa qua
Thị trường hồ tiêu trong nước tăng mạnh tại các vùng nguyên liệu trọng điểm tuần vừa qua

Ngày 13/7, giá các mặt hàng nông sản chủ lực có xu hướng biến động không đáng kể tại thị trường trong nước.

GIÁ GẠO

Giá lúa hôm nay (13/7) tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long điều chỉnh giảm nhẹ. Cụ thể, giá lúa tươi IR 50404 giảm 100 đồng/kg dao động ở mức 5.400 - 5.500 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 (tươi) giảm 100 đồng/kg dao động ở mốc 6.100 - 6.200 đồng/kg. Trong khi đó, giá gạo đi ngang.

gia-gao-noi-dia-tang-vot-tu-400-500-dongkg-sau-lenh-cam-xuat-khau-cua-an-do-20230804152354.jpg
Giá lúa gạo trong nước ít biến động

Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi IR 50404 hôm nay giảm 100 đồng/kg dao động ở mức 5.400 - 5.500 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 (tươi) giảm 100 đồng/kg dao động ở mốc 6.100 - 6.200 đồng/kg; lúa tươi OM 18 dao động ở mốc 6.200 - 6.300 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.400 - 5.600 đồng/kg; lúa OM 5451 (tươi) dao động mốc 5.700 - 5.800 đồng/kg.

Tại các địa phương hôm nay, giao dịch mua bán chậm, giá lúa biến động nhẹ. Tại An Giang, giao dịch mua bán chậm, một số loại giá lúa tươi giảm nhẹ. Tại Cần Thơ, Đồng Tháp, Cà Mau, Vĩnh Long, Tây Ninh giá lúa tươi các loại ít biến động.

Với mặt hàng gạo, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 hôm nay dao động ở mức 9.200 - 9.300 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 8.700 - 8.800 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 5451 dao động ở mức 9.500 - 9.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo thành phẩm IR 504 dao động ở 10.750 - 10.900 đồng/kg.

Với phụ phẩm, giá các mặt hàng phụ phẩm dao động khoảng từ 7.800 - 8.050 đồng/kg. Hiện tấm thơm dao động ở mức 8.000 - 8.100 đồng/kg; giá cám dao động ở mức 7.950 - 8.100 đồng/kg.

Tại các chợ lẻ, giá gạo bình giá. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo Đài thơm dao động 14.500 - 15.500 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; giá gạo thường dao động ở mốc 14.000 - 15.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 16.000 - 17.000 đồng/kg, gạo Sóc thường dao động ở mốc 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.

Phân khúc nếp không đổi so với hôm qua. Cụ thể, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg; giá nếp 3 tháng khô 9.600 - 9.700 đồng/kg.

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu Việt Nam đi ngang. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo Jasmine được chào bán ở mức 508 - 512 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm dao động trong khoảng 495-450 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm dao động từ 347 - 351 USD/tấn.

Trên thị trường thế giới, giá gạo 5% tấm tại Thái Lan dao động 480 - 484 USD/tấn, gạo 100% tấm dao động từ 412 - 416 USD/tấn.

Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm dao động ở mức 350 - 354 USD/tấn, gạo 100% tấm chào bán 280 - 284 USD/tấn.

GIÁ CÀ PHÊ

Kết thúc tuần qua, giá cà phê nhân tại khu vực Tây Nguyên dao động trong khoảng 94.700 - 95.300 đồng/kg, tăng 2.300 - 2.400 đồng/kg so với cuối tuần trước, đánh dấu tuần tăng giá thứ ba liên tiếp của thị trường cà phê nội địa.

Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) tiếp tục là địa phương có giá thu mua cao nhất khi tăng 2.300 đồng/kg trong tuần, lên mức 95.300 đồng/kg. Đắk Lắk và Gia Lai cùng tăng 2.400 đồng/kg, hiện được giao dịch ở mức 95.200 đồng/kg. Trong khi đó, Lâm Đồng cũng tăng 2.400 đồng/kg, lên 94.700 đồng/kg, song vẫn là địa phương có giá thu mua thấp nhất khu vực Tây Nguyên.

Dù chốt tuần ở vùng giá cao hơn, thị trường nội địa đã trải qua nhiều phiên biến động mạnh khi có thời điểm giá cà phê vượt 98.000 đồng/kg trước khi nhanh chóng điều chỉnh giảm trở lại.

bi-quyet-chon-ca-phe-nguyen-hat-loai-ngon-nhat-cho-nguoi-moi-837594c7-416e-46e7-b326-5411d8d4a8b7.jpg
Giá cà phê tuần qua tăng mạnh

Trên sàn London, giá cà phê Robusta hợp đồng giao tháng 9/2026 chốt tuần ở mức 3.852 USD/tấn, tăng 136 USD/tấn, tương đương 3,7% so với tuần trước. Hợp đồng giao tháng 11/2026 tăng 140 USD/tấn, tương đương 3,8%, lên 3.819 USD/tấn.

Trên sàn New York, giá cà phê Arabica giao tháng 9/2026 tăng mạnh 33,1 US cent/pound, tương đương 11%, lên mức 334,25 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 12/2026 tăng 29,7 US cent/pound, đạt 316 US cent/pound.

GIÁ TIÊU

Tuần qua, thị trường hồ tiêu trong nước tăng khá mạnh tại các vùng nguyên liệu trọng điểm. Theo khảo sát, giá thu mua hiện dao động trong khoảng 138.000 - 141.000 đồng/kg, tăng từ 4.000 - 6.000 đồng/kg so với cuối tuần trước.

Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) tiếp tục là địa phương có mức tăng mạnh nhất khi giá thu mua tăng thêm 6.000 đồng/kg, lên 141.000 đồng/kg, đồng thời giữ vị trí cao nhất cả nước. Đắk Lắk tăng 5.000 đồng/kg, đạt 140.000 đồng/kg. Tại Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh), giá tiêu cũng tăng 5.000 đồng/kg lên 139.000 đồng/kg.

Đồng Nai tăng 5.000 đồng/kg và Gia Lai tăng 4.000 đồng/kg, cùng được thu mua ở mức 138.000 đồng/kg.

Diễn biến này cho thấy thị trường nội địa đã có tuần phục hồi khá tích cực sau giai đoạn giao dịch trầm lắng trước đó, khi lực mua từ các doanh nghiệp xuất khẩu gia tăng trong bối cảnh nguồn cung trong dân không còn dồi dào.

Trái ngược với xu hướng tăng của thị trường trong nước, giá tiêu xuất khẩu trong tuần qua lại đồng loạt điều chỉnh giảm.

Theo số liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, giá tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam giảm khoảng 4%, tương đương 250 USD/tấn, xuống còn 5.850 - 5.950 USD/tấn đối với các loại 500 g/l và 550 g/l.

Giá tiêu trắng xuất khẩu của Việt Nam giảm mạnh hơn, mất tới 800 USD/tấn, xuống còn 8.200 USD/tấn, tương đương mức giảm gần 9% chỉ trong một tuần.

Trên thị trường thế giới, giá tiêu đen Indonesia cũng giảm 55 USD/tấn, xuống còn 7.079 USD/tấn. Giá tiêu trắng Muntok giảm cùng mức 55 USD/tấn, còn 9.198 USD/tấn. Trong khi đó, giá tiêu đen Brazil loại ASTA 570 tiếp tục ổn định ở mức 5.900 USD/tấn. Malaysia vẫn duy trì mức giá 9.350 USD/tấn đối với tiêu đen và 12.250 USD/tấn đối với tiêu trắng.

GIÁ CAO SU

Tại thị trường trong nước, giá thu mua mủ cao su nguyên liệu tiếp tục được các doanh nghiệp duy trì ổn định.

Cụ thể, tại Công ty Phú Riềng, chào giá thu mua mủ tạp ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.

ngay-296-gia-cao-su-the-gioi-tiep-noi-da-giam-20260629061121.jpg
Trong nước, giá thu mua mủ cao su tại các doanh nghiệp lớn tiếp tục duy trì ổn định

Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước ghi nhận khoảng 458 - 463 đồng/TSC (loại 2 - loại 1), mủ đông tạp khoảng 404 - 459 đồng/DRC (loại 2 - loại 1).

Công ty Bình Long, giá cao su thu mua tại Nhà máy ở mức 505 đồng/độ TSC/kg; thu mua tại đội sản xuất 495 đồng/TSC/kg; giá mủ tạp (DRC 60%) 18.000 đồng/kg.

Công ty Cao su Bà Rịa thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 14.600 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.

Nhìn chung, thị trường cao su nội địa vẫn duy trì trạng thái ổn định, trong khi giới kinh doanh tiếp tục theo dõi diễn biến cung - cầu và xu hướng giá trên thị trường quốc tế.

Kết thúc phiên giao dịch, thị trường cao su thế giới ghi nhận diễn biến trái chiều trên các sàn giao dịch lớn.

Tại Sàn Giao dịch Osaka (OSE) - Nhật Bản, hợp đồng cao su kỳ hạn tháng 8 giữ nguyên ở mức 415,5 Yên/kg, trong khi hợp đồng giao tháng 12 giảm 2,1 Yên, tương đương 0,5%, xuống còn 419,8 Yên/kg.

Dù điều chỉnh nhẹ trong phiên cuối tuần, hợp đồng này vẫn tăng 2,32% so với đầu tuần, phản ánh tâm lý lạc quan thận trọng của giới đầu tư.

Tại Thái Lan, giá cao su RSS3 giao tháng 8 tăng 0,6 Baht lên 91,3 Baht/kg, nhờ lực mua ổn định từ thị trường nội địa.

Trên Sàn Giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải (SHFE) - Trung Quốc, hợp đồng cao su tháng 8 giảm 130 Nhân dân tệ, xuống 16.795 Nhân dân tệ/tấn, trong khi kỳ hạn tháng 9 nhích thêm 10 Nhân dân tệ, đạt 16.905 Nhân dân tệ/tấn.

Đáng chú ý, hợp đồng cao su butadiene giao tháng 9 tăng mạnh 245 Nhân dân tệ, tương đương 1,97%, lên 12.655 Nhân dân tệ/tấn.

Trên nền tảng SICOM thuộc Sàn Giao dịch SGX - Singapore, hợp đồng cao su tháng 8 giảm 1%, còn 215 US cent/kg.

Theo các chuyên gia, thị trường vẫn giao dịch trong trạng thái thận trọng khi cả cung và cầu chưa tạo được động lực rõ rệt. Dù kỳ hạn tháng 9 trên SHFE hồi phục nhẹ, đà giảm tại SGX cho thấy hoạt động xuất khẩu cao su vẫn chịu áp lực và xu hướng ngắn hạn nhiều khả năng sẽ tiếp tục biến động theo triển vọng nhu cầu toàn cầu.

Báo cáo mới nhất của Hiệp hội các nước sản xuất cao su tự nhiên cho thấy, nguồn cung toàn cầu tiếp tục được cải thiện nhưng tốc độ tăng không lớn do thời tiết mưa kéo dài tại Thái Lan, Malaysia và một số khu vực phía Nam Việt Nam làm ảnh hưởng đến hoạt động khai thác.

GIÁ THỊT LỢN

Khảo sát tại thị trường miền Bắc, giá lợn hơi hôm nay tăng 1.000 đồng/kg tại Hà Nội, Ninh Bình và Hưng Yên, trong khi các địa phương còn lại giữ nguyên so với hôm trước.

Cụ thể, Hà Nội và Hưng Yên cùng tăng 1.000 đồng/kg, lên mức 67.000 đồng/kg, trở thành hai địa phương có giá lợn hơi cao nhất cả nước. Ninh Bình cũng tăng 1.000 đồng/kg, lên mức 66.000 đồng/kg.

di-tim-thit-lon-an-toan-anh-1-1-1170x700-1763637324.jpg
Giá lợn hơi hôm nay tăng cục bộ tại miền Bắc và miền Trung - Tây Nguyên khi Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, Khánh Hòa và Lâm Đồng cùng tăng 1.000 đồng/kg, trong khi miền Nam tiếp tục ổn định

Sau điều chỉnh, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hải Phòng, Điện Biên và Ninh Bình cùng giao dịch ở mức 66.000 đồng/kg. Trong khi đó, Tuyên Quang, Cao Bằng, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Lào Cai, Lai Châu, Phú Thọ và Sơn La tiếp tục giữ mức 65.000 đồng/kg.

Hiện giá lợn hơi miền Bắc dao động từ 65.000 đồng/kg đến 67.000 đồng/kg.

Tại Miền Trung - Tây Nguyên, giá lợn hơi hôm nay tăng 1.000 đồng/kg tại Khánh Hòa và Lâm Đồng, các địa phương còn lại đi ngang.

Cụ thể, Khánh Hòa tăng 1.000 đồng/kg lên 62.000 đồng/kg, trong khi Lâm Đồng tăng 1.000 đồng/kg lên 63.000 đồng/kg.

Sau điều chỉnh, Thanh Hóa và Nghệ An tiếp tục giữ mức 65.000 đồng/kg, cao nhất khu vực. Hà Tĩnh và Quảng Trị duy trì mức 64.000 đồng/kg.

Huế, Quảng Ngãi và Lâm Đồng cùng giao dịch ở mức 63.000 đồng/kg. Đà Nẵng, Gia Lai, Đắk Lắk và Khánh Hòa cùng đạt 62.000 đồng/kg.

Hiện giá heo hơi miền Trung - Tây Nguyên dao động từ 62.000 đồng/kg đến 65.000 đồng/kg.

Tại miền Nam, giá lợn hơi hôm nay không ghi nhận điều chỉnh mới, thị trường tiếp tục duy trì trạng thái đi ngang tại tất cả địa phương được khảo sát.

Đồng Nai và TP.HCM tiếp tục giữ mức 63.000 đồng/kg, cao nhất khu vực.

Tây Ninh, Vĩnh Long và Cần Thơ cùng giao dịch ở mức 62.000 đồng/kg. Đồng Tháp, An Giang và Cà Mau tiếp tục giữ mức 61.000 đồng/kg.

Hiện giá lợn hơi miền Nam dao động từ 61.000 đồng/kg đến 63.000 đồng/kg.

Theo khảo sát từ trang winmart.vn giá thịt lợn ghi nhận giữ giá ổn định, niêm yết trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg. Cụ thể, thịt lợn xay là sản phẩm có giá bán thấp nhất, duy trì mức 102.322 đồng/kg. Tiếp đó là các sản phẩm thịt nạc đùi, nạc vai lợn và chân giò rút xương, với giá bán lần lượt là 122.320 đồng/kg, 126.320 đồng/kg và 127.922 đồng/kg.

Như vậy, giá thịt lợn tại WinMart hiện dao động trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg và được giảm giá 20% theo chương trình ưu đãi dành cho hội viên của WinMart.

Xem thêm

Có thể bạn quan tâm