Ngày 24/6, Hiệp hội Doanh nghiệp thành phố Hà Nội (HBA) và Hiệp hội Phát triển Hàng tiêu dùng Việt Nam (VACOD) tổ chức Hội nghị “Đối thoại SME 2026: Chính sách mở đường - Doanh nghiệp cất cánh”.
Theo đó, chuyển đổi số đã trở thành một trong những chủ đề trung tâm trong chiến lược phát triển của Việt Nam. Chuyển đổi số theo cách tiếp cận mới được các chuyên gia nhấn mạnh không đơn thuần là số hóa quy trình hay ứng dụng công nghệ riêng lẻ, mà là sự thay đổi căn bản mô hình phát triển dựa trên dữ liệu, tri thức và công nghệ.
ĐẦU TƯ HỆ SINH THÁI ĐỔI MỚI SÁNG TẠO
Trong phần tham luận, PGS.TS.Vũ Văn Tích, Phó Giám đốc Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết, trong nhiều năm qua, chúng ta nói nhiều về chuyển đổi số.
Thực chất, chuyển đổi số không phải là mua phần mềm, không phải là số hóa hồ sơ và càng không phải là xây dựng các ứng dụng rời rạc. Bản chất của chuyển đổi số là tái cấu trúc mô hình phát triển dựa trên dữ liệu, tri thức và công nghệ.
Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà thực sự phải là hạt nhân, trung tâm của nền kinh tế số. Do vậy, cần khung chính sách quốc gia hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và Al nhằm phát triển kinh tế số địa phương.
Hiện nay, thách thức của Việt Nam không phải thiếu doanh nghiệp. Việt Nam hiện có hàng triệu hộ kinh doanh, hàng trăm nghìn doanh nghiệp, hàng chục nghìn hợp tác xã. Điều chúng ta thiếu là hệ sinh thái tạo ra doanh nghiệp công nghệ.
Chúng ta vẫn đang tồn tại các nghịch lý gồm nhà khoa học có công nghệ nhưng thiếu thị trường, doanh nghiệp có thị trường nhưng thiếu công nghệ, địa phương có nguồn lực nhưng thiếu công cụ kết nối, các phòng thí nghiệm đầu tư lớn nhưng khai thác chưa hiệu quả, các đề tài nghiên cứu hoàn thành nhưng thương mại hóa còn hạn chế. Đây chính là điểm cần được giải quyết bằng chính sách.
Hơn 5,1 triệu hộ kinh doanh vẫn đang hoạt động ngoài hệ sinh thái số. Chúng ta thấy được thực trạng chuyển đổi số còn manh mún, thiếu hệ thống, logistics chặng cuối đắt và không ổn định, thiếu niềm tin trong giao dịch thương mại online, công nghệ quản trị vượt khả năng tài chính. Đây là vấn đề rất nan giải.
Với tư duy mới, chúng ta sẽ triển khai công nghệ từ đầu tư đề tài sang đầu tư hệ sinh thái. Trong nhiều năm qua, đơn vị nghiên cứu được nhà nước giao đề tài. Sau khi nghiệm thu thì đề tài kết thúc.
Trong khi đó, doanh nghiệp cần sản phẩm và công nghệ, thị trường cần giải pháp, người dân cần giá trị thực sự của chuyển đổi số.
Vì vậy, cần chuyển từ tư duy tài trợ nghiên cứu sang tư duy đầu tư hệ sinh thái đổi mới sáng tạo làm sao để đích đến cuối cùng phải là doanh thu với doanh nghiệp, việc làm với người dân, năng suất, thị trường, tài sản trí tuệ.
Chính sách thúc đẩy câu chuyện này là hình thành liên kết 3 nhà thế hệ mới. Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ đã đưa ra 2 mô hình. Đầu tiên là mô hình truyền thống gồm nhà nước cấp tiền cho nhà khoa học, sau đó nhà khoa học trả lại cho doanh nghiệp. Mô hình này thực sự không chạy theo kinh tế thị trường.
Trong khi đó, mô hình mới gồm 4 yếu tố. Nhà nước có vai trò kiến tạo thể chế, kiến tạo dữ liệu, kiến tạo thị trường. Nhà khoa học tạo tri thức, tạo công nghệ, tạo tài sản trí tuệ. Doanh nghiệp đặt hàng nghiên cứu, thương mại hóa sản phẩm, mở rộng thị trường. Nhà đầu tư cung cấp vốn tăng trưởng, chia sẻ rủi ro, thúc đẩy mở rộng quy mô. Cứ như vậy hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo địa phương, thậm chí lan tỏa sang toàn quốc.
Để thực hiện việc kết nối này, có 5 chính sách đột phá cần triển khai. Đầu tiên là không để các phòng thí nghiệm tại các trường đại học, các vị trí để không. Chúng ta cần mở ra nền tảng để chia sẻ với khách hàng, để mọi doanh nghiệp có thể đặt lịch trực tuyến để thử nghiệm, kiểm định, phân tích, nghiên cứu trên một nền tảng quốc gia thống nhất giống như thuê dịch vụ điện toán đám mây.
Thứ hai là tạo ra mạng lưới chuyên gia quốc gia cho doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhiều doanh nghiệp địa phương không cần tuyển chuyên gia Al toàn thời gian vì phải trả chi phí tokken rất lớn. Điều họ cần là được tiếp cận chuyên gia đúng lúc.
Chúng tôi đề xuất một mạng lưới gọi là Vietnam Innovation Expert Network, làm sao để kết nối giáo sư, tiến sĩ, chuyên gia AI, chuyên gia quản trị, chuyên gia thị trường phục vụ doanh nghiệp theo yêu cầu.
Thứ ba là hình thành quỹ đầu tư đổi mới sáng tạo địa phương vì nguồn trong dân và doanh nghiệp rất nhiều và đầu tư làm sao để hiệu quả và có nguồn lực để thực hiện đổi mới sáng tạo.
Nguồn đầu tư ngân sách khoa học công nghệ còn thiếu ở nhiều địa phương. Do vậy, cần mạng lưới gọi là Local Innovation Fund. Đây là nguồn vốn gồm ngân sách khoa học công nghệ, doanh nghiệp, quỹ đầu tư, ngân hàng
Nó hoạt động với nguyên tắc nhà nước không tài trợ toàn bộ, nhà nước đồng đầu tư theo phương thức voucher công nghệ, doanh nghiệp cùng chịu trách nhiệm.
Thứ tư là cơ chế sandbox địa phương. Hiện nay nhà nước đã cho phép doanh nghiệp thử nghiệm AI, blockchain, fintech, agritech, govtech trong phạm vi được kiểm soát để hình thành mạng lưới, giúp rút ngắn thời gian từ ý tưởng đến thị trường.
Thứ năm là Chương trình quốc gia "100.000 doanh nghiệp vừa và nhỏ AI Việt Nam". Mục tiêu đến năm 2030 sẽ có 100.000 doanh nghiệp sử dụng AI, 10.000 doanh nghiệp sử dụng DSS (AI trong quản trị), 1.000 doanh nghiệp phát triển sản phẩm công nghệ, 100 doanh nghiệp công nghệ quy mô quốc gia.
NOCAL VÀ KHÁT VỌNG BIẾN DỮ LIỆU ĐỊA PHƯƠNG THÀNH ĐỘNG LỰC KINH TẾ SỐ
Mô hình kinh tế gắn với đổi mới sáng tạo ở địa phương gồm 4 lớp là chính quyền số, doanh nghiệp số, công dân số, tài nguyên số địa phương (dữ liệu, tri thức, văn hóa, sản phẩm, du lịch, tài nguyên bản địa).
Việt Nam đang có lượng tài nguyên số, tài sản sở hữu trí tuệ rất lớn mà chúng ta không khai thác, sắp tới các công ty nước ngoài sẽ về Việt Nam để khai thác.
Để giải quyết các vấn đề trên, PGS.TS.Vũ Văn Tích đã giới thiệu demo hệ sinh thái NOCAL. Trong đó sản phẩm NOCAL DSS hỗ trợ quyết định, làm AI CEO cho doanh nghiệp, quản trị theo KPI, dự báo kinh doanh, cảnh báo sớm.
NOCAL Mall giới thiệu sản phẩm thương mại ở địa phương. Hệ thống sẽ kết nối Ocop, hợp tác xã, doanh nghiệp và du lịch. NOCAL Social là mạng xã hội văn hóa cho từng địa phương. Mỗi sản phẩm là một câu chuyện, mỗi làng nghề là một cộng đồng, mỗi địa phương là một hệ sinh thái số.
Trung tâm NOCAL Data Hub là kho dữ liệu địa phương làm nhiên liệu cho AI. Tập trung sản phẩm, doanh nghiệp, du lịch, logistics. NOCAL AI Assistant là trợ lý AI cho doanh nghiệp. Nó sẽ trả lời các câu hỏi gồm “Tháng tới nên sản xuất gì?”, “Khách hàng nào có khả năng mua cao nhất?”, “Đâu là thị trường tiềm năng?”.
Nếu làm tốt, đến năm 2035, Việt Nam không chỉ có các doanh nghiệp số mà sẽ có các trung tâm AI vùng, Các cụm đổi mới sáng tạo địa phương, các hệ sinh thái công nghệ, các doanh nghiệp công nghệ cao mang thương hiệu Việt Nam. Khoa học công nghệ sẽ không còn đứng bên ngoài nền kinh tế mà trở thành động lực tăng trưởng cốt lõi.
Trong nền kinh tế công nghiệp truyền thống, tài nguyên như điện, than, khoáng sản rất quan trọng. Trong nền kinh tế tri thức, dữ liệu là yếu tố quyết định. Trong nền kinh tế AI, khả năng kết nối tri thức mới là yếu tố quyết định.
Vì vậy, chính sách không chỉ để quản lý. Chính sách phải trở thành nền tảng cho đổi mới sáng tạo. có nghĩa là chúng ta phải cùng nhau phát triển. Công nghệ không chỉ để tự động hóa. Công nghệ phải trở thành công cụ công bằng hóa cơ hội phát triển.
Đồng thời, AI không chỉ dành cho các tập đoàn lớn. AI phải trở thành trợ lý của mọi doanh nghiệp ở các địa phương Việt Nam. Nếu kết nối được nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp, nhà đầu tư trên cùng một nền tảng thì mỗi địa phương sẽ trở thành một cực tăng trưởng mới, mỗi doanh nghiệp nhỏ sẽ có cơ hội trở thành doanh nghiệp lớn, nền kinh tế số sẽ thực sự trở thành động lực đưa Việt Nam bước vào nhóm quốc gia phát triển có thu nhập cao trong những thập niên tới.