Hội nghị “Đối thoại SME 2026: Chính sách mở đường - Doanh nghiệp cất cánh”

Ngày 24/6, Hiệp hội Doanh nghiệp thành phố Hà Nội (HBA) và Hiệp hội Phát triển Hàng tiêu dùng Việt Nam (VACOD) tổ chức Hội nghị “Đối thoại SME 2026: Chính sách mở đường - Doanh nghiệp cất cánh” nhằm đồng hành, hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là khối doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), nâng cao năng lực cạnh tranh, năng lực quản trị và khả năng thích ứng với những thay đổi trong chính sách quản lý nhà nước về chuyển đổi số, thuế, hải quan, đầu tư và tài chính trong bối cảnh nền kinh tế đang bước vào giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ.

Hội nghị được định vị là diễn đàn chiến lược quan trọng, nơi cộng đồng doanh nghiệp được kết nối trực tiếp với các cơ quan quản lý, tổ chức tài chính và chuyên gia đầu ngành để cập nhật những thay đổi mới nhất về chính sách và xu hướng phát triển. Trọng tâm của chương trình là hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực thích ứng trước các chuyển động của môi trường kinh doanh, từ chính sách đầu tư, thuế, hải quan đến chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và ứng dụng AI trong quản trị, sản xuất kinh doanh.

Đồng thời, hội nghị cũng tập trung làm rõ các giải pháp tiếp cận vốn, tín dụng và các cơ chế hỗ trợ tài chính, qua đó tạo điều kiện để doanh nghiệp tận dụng hiệu quả các cơ hội tăng trưởng trong giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ của nền kinh tế.

Đặc biệt, hội nghị hôm nay được tổ chức dưới hình thức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng của Hiệp hội Doanh nghiệp Thành phố Hà Nội - HBA và Hiệp hội Phát triển Hàng tiêu dùng Việt Nam - VACOD với sự tham dự đông đảo của các vị Ủy viên Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, các doanh nghiệp hội viên cùng đại diện nhiều doanh nghiệp tiêu biểu đến từ Thủ đô Hà Nội nói riêng và trên toàn quốc nói chung.

Đây là dịp để hai Hiệp hội cùng nhìn nhận, đánh giá những kết quả hoạt động đã đạt được; trao đổi các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp; thảo luận, thống nhất các định hướng, chương trình công tác trong thời gian tới; đồng thời tăng cường kết nối, hợp tác, phát huy sức mạnh cộng đồng doanh nghiệp vì mục tiêu phát triển bền vững.

Tham dự sự kiện về phía lãnh đạo cơ quan Trung ương vinh dự đón tiếp PGS.TS Nguyễn Hồng Sơn, nguyên Phó Trưởng ban, Ban Chính Sách, Chiến Lược Trung Ương; ông Nguyễn Đức Kiên, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, nguyên Tổ trưởng Tổ tư vấn về Kinh tế của Thủ tướng Chính phủ, Thành viên Hội đồng tư vấn Chính sách tài chính tiền tệ Quốc gia; ông Nguyễn Mạnh Tiến, nguyên Phó chủ nhiệm, Uỷ Ban Quốc Phòng An Ninh Và Đối Ngoại Của Quốc Hội; ông Mai Xuân Hùng, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội; ông Bùi Trung Nghĩa, Phó Chủ Tịch, Liên Đoàn Thương Mại Và Công Nghiệp Việt Nam – VCCI; PGS.TS Phạm Bảo Sơn, Uỷ viên BCH Hiệp hội Doanh nghiệp Thành phố Hà Nội - HBA, Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội; ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội; ông Lê Trung Quân, Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội; bà Tống Thị Hạnh, Ủy viên Uỷ ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội; PGS.TS Vũ Văn Tích, Phó Giám đốc Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ - Bộ Khoa học và Công nghệ; ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển Thị trường trong nước, Bộ Công Thương; bà Phạm Thị Thu Hằng, nguyên Tổng thư ký Liên đoàn Thương Mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI; ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng thư ký, Trưởng ban Pháp chế Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI; PGS.TS Trương Ngọc Kiểm, Phó trưởng ban Khoa học và Đổi mới Sáng tạo, Giám đốc Công viên Công nghệ cao và Đổi mới Sáng tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội; ông Vũ Tuấn Anh, Phó trưởng Ban Khoa học và Đổi mới sáng tạo, Đại học Quốc gia; bà Trịnh Thu Hải, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu, Đào tạo và Hỗ trợ, Tư vấn - Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và Công nghệ.

Về phía các sở ban ngành thành phố Hà nội có sự tham dự của ông Nguyễn Hùng Anh, Phó Chi cục trưởng, Chi cục Hải quan khu vực I. Và các đồng chí lãnh đạo các phòng ban của văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và các sở ngành như sở Nội vụ, sở Công thương, Thuế, chi cục Hải quan các đơn vị trực thuộc của thành phố Hà Nội.

Về phía lãnh đạo hiệp hội doanh nghiệp các tỉnh, thành phố có sự tham dự của ông Đỗ Văn Vẻ, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh Hưng Yên; ông Trần Văn Đức, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh Vĩnh Long; ông Võ Thành Đàng, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Quảng Ngãi; bà Nguyễn Thị Thanh Bình, Đại biểu Quốc hội, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Hưng Yên; ông Nguyễn Hồng Phong, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Khoa học Công nghệ Việt Nam, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Thanh Hóa; bà Đặng Thị Trúc Lan Chi, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Vĩnh Long, Chủ tịch Hội Nữ doanh nhân tỉnh Vĩnh Long; bà Bùi Thị Sửu, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Lào Cai; bà Nguyễn Thị Minh Hiền, Phó Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh Lào Cai, Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ tỉnh Lào Cai.

Về phía lãnh đạo Hiệp hội Doanh nghiệp thành phố Hà Nội - HBA và Hiệp hội Phát triển hàng tiêu dùng Việt Nam – VACOD có sự hiện diện của TS. Nguyễn Hồng Sơn, nguyên Phó chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam – VCCI, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp thành phố Hà Nội - HBA và Hiệp hội Phát triển hàng tiêu dùng Việt Nam – VACOD; bà Ninh Thị Ty, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp thành phố Hà Nội – HBA; bà Nguyễn Thị Thanh Tâm, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp thành phố Hà Nội – HBA; bà Nguyễn Thị Thu Thủy, Phó Chủ tịch thường trực Hiệp hội Phát triển Hàng tiêu dùng Việt Nam – VACOD; ông Nguyễn Văn Khôi, Phó Chủ tịch Hiệp hội Phát triển Hàng tiêu dùng Việt Nam - VACOD, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam; bà Đặng Thị Minh Phương, Phó Chủ tịch Hiệp hội Phát triển Hàng tiêu dùng Việt Nam – VACOD, Chủ tịch Hiệp hội Logistics và Cảng biển TP.HCM; ông Trần Khắc Tâm, Phó Chủ tịch Hiệp hội Phát triển Hàng tiêu dùng Việt Nam – VACOD; ông Nguyễn Văn Luyến, Phó Chủ tịch Hiệp hội Phát triển Hàng tiêu dùng Việt Nam – VACOD

Cùng sự góp mặt đông đủ của các ông bà Ủy viên Ban Thường vụ, Ủy viên Ban chấp hành và hơn 300 doanh nghiệp Hội viên Hiệp hội Doanh nghiệp Thành phố Hà Nội – HBA, Hiệp hội Phát triển Hàng tiêu dùng Việt Nam – VACOD.

KIẾN TẠO MÔI TRƯỜNG MINH BẠCH CHO DOANH NGHIỆP

Tại hội nghị “Đối thoại SME 2026: Chính sách mở đường - Doanh nghiệp cất cánh”, TS. Nguyễn Hồng Sơn nguyên Phó chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam – VCCI, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp thành phố Hà Nội – HBA, Chủ tịch Hiệp hội Phát triển Hàng tiêu dùng Việt Nam – VACOD đã có bài phát biểu khai mạc.

Theo TS. Nguyễn Hồng Sơn, trong khuôn khổ hội nghị lần này còn diễn ra hoạt động của Ban Chấp hành HBA và VACOD. Trước khi hội nghị diễn ra, Ban Tổ chức đã gửi đầy đủ tài liệu điện tử phục vụ hội nghị Ban Chấp hành tới các đại biểu là thành viên Ban Chấp hành và hội viên của hai hiệp hội. Các tài liệu gồm báo cáo kết quả hoạt động 6 tháng đầu năm 2026, phương hướng nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026 cùng các tờ trình liên quan đến công tác nhân sự và một số nội dung khác.

Ông đề nghị các đại biểu nghiên cứu kỹ các tài liệu đã được gửi trước và tiếp tục đóng góp ý kiến bằng văn bản về Văn phòng hai hiệp hội nếu thấy cần thiết. Do chương trình hội nghị tập trung vào nội dung chuyên đề nên không bố trí thời gian thảo luận riêng về các tài liệu này. Tuy nhiên, theo quy định của điều lệ hiệp hội, công tác nhân sự cần được báo cáo và xin ý kiến trực tiếp tại hội nghị.

Quay lại với Hội nghị, Chủ tịch Nguyễn Hồng Sơn nhấn mạnh, nền kinh tế Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ với những thay đổi sâu rộng về chính sách quản lý nhà nước. Các nội dung từ chuyển đổi số, cải cách thủ tục hành chính, chính sách thuế, hải quan cho đến cơ chế đầu tư, tài chính đang được hoàn thiện theo hướng minh bạch và hiệu quả hơn. Điều đó vừa mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra không ít thách thức cho cộng đồng doanh nghiệp.

Theo ông, trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), đang đứng trước những yêu cầu ngày càng cao về năng lực quản trị, sức cạnh tranh, khả năng đổi mới sáng tạo và thích ứng linh hoạt với môi trường kinh doanh đang thay đổi nhanh chóng.

TS. Nguyễn Hồng Sơn nguyên Phó chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam – VCCI; Chủ tịch Hiệp hội Phát triển Hàng tiêu dùng Việt Nam – VACOD; Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp thành phố Hà Nội – HBA

Xuất phát từ mong muốn đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp, HBA - VACOD đã phối hợp tổ chức Hội nghị “Đối thoại SME 2026: Chính sách mở đường - Doanh nghiệp cất cánh”, nhằm tạo diễn đàn kết nối giữa cơ quan hoạch định chính sách, chuyên gia và cộng đồng doanh nghiệp để cùng trao đổi, tháo gỡ khó khăn và tìm kiếm các giải pháp phát triển trong giai đoạn mới.

TS. Nguyễn Hồng Sơn nêu rõ, tại hội nghị, các đại biểu sẽ được tiếp cận những định hướng chiến lược từ đại diện Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội liên quan đến các quyết sách vĩ mô tác động trực tiếp tới hoạt động đầu tư, sản xuất và kinh doanh trong giai đoạn 2025-2026.

Bên cạnh đó, các chuyên gia đến từ Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) sẽ tập trung phân tích những vấn đề pháp lý mà doanh nghiệp đặc biệt quan tâm trong lĩnh vực thuế và hải quan, qua đó góp phần tháo gỡ những điểm nghẽn đang ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh.

Đặc biệt, hội nghị cũng dành thời lượng đáng kể để chia sẻ về các cơ hội phát triển trong kỷ nguyên số dưới góc nhìn của Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, đồng thời giới thiệu các giải pháp tài chính tối ưu dành cho doanh nghiệp từ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (ACB).

Một trong những nội dung được kỳ vọng nhất của chương trình là phiên tọa đàm chuyên sâu kéo dài hơn một giờ đồng hồ dưới sự điều phối của TS. Nguyễn Đức Kiên, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, nguyên Tổ trưởng Tổ Tư vấn Kinh tế của Thủ tướng Chính phủ.

"Ban Tổ chức kỳ vọng các chuyên gia và cộng đồng doanh nghiệp sẽ tập trung trao đổi thẳng thắn về những nhóm vấn đề trọng tâm đang tác động đến khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, từ đó nhận diện chính xác những rào cản, khó khăn và điểm nghẽn trong thực tiễn triển khai chính sách cũng như trong hoạt động sản xuất kinh doanh", Chủ tịch Nguyễn Hồng Sơn nêu rõ.

Người đứng đầu HBA - VACOD cho biết, toàn bộ các ý kiến, đề xuất và kiến nghị của doanh nghiệp sẽ được Ban Tổ chức tổng hợp đầy đủ để báo cáo và gửi tới các cơ quan có thẩm quyền, góp phần thúc đẩy việc nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế chính sách và đưa ra các giải pháp tháo gỡ phù hợp trong thời gian tới.

Đồng thời, thông qua những chia sẻ và giải đáp chuyên môn từ các diễn giả, mỗi doanh nghiệp tham dự hội nghị sẽ có thêm cơ sở để lựa chọn các giải pháp phù hợp với chiến lược phát triển của đơn vị mình trong bối cảnh mới.

“Chúng tôi tin rằng, những chính sách minh bạch, được hỗ trợ kịp thời và hiệu quả chính là sự mở đường, tạo điều kiện và là nền tảng vững chắc để doanh nghiệp tự tin cất cánh”, TS. Nguyễn Hồng Sơn nhấn mạnh.

Thay mặt Ban Tổ chức, Chủ tịch HBA - VACOD cảm ơn sự hiện diện của các đồng chí lãnh đạo, các chuyên gia đầu ngành, các đối tác đồng hành cùng chương trình; đặc biệt cảm ơn gần 300 doanh nghiệp hội viên cùng đại diện các cơ quan báo chí, truyền thông đã tham dự và góp phần lan tỏa thông điệp của hội nghị tới cộng đồng doanh nghiệp.

Kết thúc bài phát biểu, TS. Nguyễn Hồng Sơn tin tưởng chương trình sẽ mang lại nhiều thông tin hữu ích, góp phần hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp phát triển bền vững trong giai đoạn mới.

PHẦN THAM LUẬN

Ông Phan Đức Hiếu, Đại biểu Quốc hội khóa 16, Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội

Mở đầu phần tham luận, ông Phan Đức Hiếu, Đại biểu Quốc hội khóa 16, Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội trình bày chủ đề “Quyết sách quan trọng về Đầu tư, Sản xuất Kinh doanh năm 2025 - 2026”.

Nhìn lại giai đoạn vừa qua, đặc biệt là vào cuối năm 2025 và đầu năm 2026, ông Hiếu cho rằng, Việt Nam đang tập trung vào hai đạo luật rất lớn là Luật Đầu tư và Luật Quy hoạch. Hai luật này có tác động vô cùng mạnh mẽ đến toàn bộ hoạt động đầu tư từ lớn đến nhỏ của các dự án.

Một trong những tư duy quan trọng mà ông Hiếu muốn chia sẻ thêm chính là góc nhìn của Quốc hội trong việc hoàn thiện thể chế đăng ký xây dựng, nhằm giúp các doanh nghiệp nắm bắt kịp thời tinh thần này.

Cụ thể, những con số thống kê mang tính chất tham khảo cho thấy một hàm ý quan trọng về quyết sách cuối cùng là "19 cộng 5". Theo tính toán, đây là những quyết sách cốt lõi mà mỗi kỳ họp Quốc hội thông qua chứ không phải là tất cả, bởi điều quan trọng nhất đối với doanh nghiệp chính là nhìn thấy các cơ hội pháp lý.

Trong 4 kỳ họp cuối, số lượng luật được thông qua rất nhiều đã chứng minh nỗ lực lớn của Chính phủ và Quốc hội với quan điểm rõ ràng rằng: "Sớm hoàn thiện thể chế chính là vừa phát triển, vừa hoàn thiện".

Bước sang kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa XVI, thêm 14 quyết sách quan trọng nữa đã được thông qua, mở ra bức tranh rõ nét về các cơ hội phát triển sắp tới cho các nhà đầu tư.

Hiện nay, các văn bản kết luận quan trọng của Quốc hội là điều mà các doanh nghiệp buộc phải bằng cách này hay cách khác nắm bắt và tìm hiểu để thực thi chuẩn xác.

Trong số đó, có một thông tin về nghị quyết đặc biệt của Quốc hội là Nghị quyết 206 (hay còn gọi là Nghị quyết về cơ chế đặc biệt) mà tôi thấy chưa được truyền thông phổ biến rộng rãi. Đây là nghị quyết trao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ một cơ chế đặc thù để tháo gỡ kịp thời các khó khăn, vướng mắc từ các luật và nghị định.

Thông thường, nếu phát hiện một vướng mắc ở tầm Luật, Chính phủ phải báo cáo Quốc hội để sửa Luật, còn ở cấp Nghị định thì phải ban hành Nghị định mới, quy trình này rất mất thời gian.

Chính vì vậy, Quốc hội khóa XV đã ban hành Nghị quyết 206 để cho phép Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ ban hành văn bản dưới hình thức Nghị quyết để xử lý nhanh chóng. Do đó, các doanh nghiệp cần lưu ý sẽ có những Nghị quyết mang ký hiệu rất đặc biệt bắt đầu bằng số 66. Các Nghị quyết này có chứa quy phạm pháp luật và được áp dụng như Luật, nên trong quá trình giao dịch hay dịch thuật sang tiếng Anh, đối tác cần tránh dịch nhầm thành văn bản thông thường làm thay đổi bản chất, vì chúng hoàn toàn có quyền viện dẫn và thực thi như một đạo luật.

Tuy nhiên, vì đây là cơ chế đặc thù tháo gỡ khó khăn nên các Nghị quyết có số 66 này chỉ có hiệu lực đến ngày 1/3/2027, sau thời hạn đó chúng ta phải tiến hành luật hóa hoặc đưa vào cơ chế khác.

Cùng với tinh thần khơi thông nguồn lực và tăng cường sự an toàn cho các hoạt động kinh doanh, Nghị quyết 198 cũng mang lại rất nhiều giải pháp giá trị cho doanh nghiệp. Thậm chí, Chính phủ đã bỏ qua các bước thông thường để ban hành các quyết sách khẩn thiết.

Đối với Luật Đất đai hay quy hoạch đất đai, một quyết sách hết sức quan trọng vừa được thông qua cách đây khoảng một tháng là Nghị quyết 29/2026/QH16 nhằm tháo gỡ khó khăn cho các dự án có vi phạm vướng mắc về đất đai. Nghị quyết này giải quyết triệt để các vấn đề nhức nhối trước đây như đất thương mại dịch vụ, tình trạng xây nhà nhưng bị gắn tên là condotel, officetel khiến nơi thì cấp giấy chứng nhận sở hữu lâu dài, nơi thì cấp có thời hạn hoặc chưa được cấp.

Điểm đặc biệt nhất của Nghị quyết 29 mà doanh nghiệp cần biết để phối hợp với địa phương là "Nguyên tắc xử lý song song". Trước đây, khi một dự án bị phát hiện có vi phạm, toàn bộ dự án sẽ bị dừng lại để xử lý xong xuôi mới cho chạy tiếp, gây đóng băng nguồn lực. Nhưng hiện nay, Nghị quyết quy định rõ ràng việc tách bạch lỗi vi phạm: lỗi của cá nhân, tổ chức thì cứ tiến hành xử lý theo quy định, còn bản thân dự án phải được tháo gỡ đồng thời để đưa vào hoạt động nhằm tránh lãng phí cho xã hội.

Đối với Luật Đầu tư, có rất nhiều điểm mới đáng chú ý, trước hết là mong muốn của Chính phủ trong việc cắt giảm mạnh mẽ các ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện để doanh nghiệp chủ động triển khai dự án. Sau khi phiên bản 2024 - 2025 cắt giảm 38 ngành nghề, vừa rồi 6 Nghị quyết chuyên đề của Chính phủ lại tiếp tục cắt giảm sâu hơn các điều kiện này.

Về thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư, qua rà soát cùng Ban soạn thảo, chúng tôi xác định trong một số trường hợp vẫn cần duy trì thủ tục này để tránh việc doanh nghiệp tự ý đăng ký kinh doanh những ngành nghề sử dụng nguồn lực lớn của Nhà nước khi quy định hiện hành chưa phủ hết.

Lần này, luật làm theo nguyên tắc loại trừ khi quy định rõ ràng 20 trường hợp phải chấp thuận chủ trương đầu tư, còn lại ngoài danh mục này thì mặc nhiên không cần. Đồng thời, thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư cũng được chuyển từ thẩm quyền chung của một cấp chính quyền sang "thẩm quyền riêng" của cá nhân Chủ tịch Ủy ban nhân dân hoặc Thủ tướng Chính phủ trực tiếp ký và chịu trách nhiệm, giúp đẩy nhanh tiến độ xử lý thủ tục.

Ngoài ra, luật cũng mở ra quy trình "luồng xanh" gọi là thủ tục đầu tư đặc biệt cho các dự án khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo để bỏ qua hàng loạt bước rườm rà như chấp thuận công nghệ, lập ĐTM, lập quy hoạch chi tiết hay xin phép xây dựng. Thủ tục đầu tư ra nước ngoài cũng được bãi bỏ bớt đối với các dự án có quy mô dưới 2.000 tỷ đồng không thuộc lĩnh vực đặc biệt.

Về Luật Quy hoạch, tinh thần xuyên suốt là cắt giảm số lượng quy hoạch để tránh sự chồng chéo, mâu thuẫn gây khó khăn cho doanh nghiệp, hiện chỉ giữ lại 30 quy hoạch ngành, 15 quy hoạch chi tiết ngành cùng các quy hoạch tỉnh, vùng và tổng thể quốc gia.

Bản chất của quy hoạch lần này được làm rõ là mang tính chất định hướng chứ không phải là quy hoạch cứng, tránh việc một dự án bị xem là vướng mắc khi phù hợp với quy hoạch này nhưng lại mâu thuẫn với quy hoạch khác. Đặc biệt, Luật áp dụng công thức 1+1 rất tiến bộ: ở giai đoạn chấp thuận chủ trương đầu tư, cơ quan chức năng chỉ được căn cứ vào duy nhất 1 quy hoạch gần nhất với dự án (thường là Quy hoạch tỉnh) để đánh giá chứ không được lôi thêm các quy hoạch khác ra làm khó doanh nghiệp; đến giai đoạn thiết kế cơ sở và xin cấp phép xây dựng, quy trình được phép căn cứ vào quy hoạch đã chọn ở bước trước cộng thêm tối đa 1 quy hoạch chuyên ngành nữa.

Công thức này giúp thay đổi hoàn toàn cục diện, tiết kiệm tối đa chi phí và thời gian cho chủ đầu tư. Trong trường hợp xảy ra mâu thuẫn giữa hai quy hoạch, Luật Quy hoạch quy định rõ dự án không được phép bị đình trệ hay bị từ chối chỉ để đợi sửa đổi quy hoạch. Thay vào đó, cơ quan nhà nước phải chọn ra quy hoạch có tính khả thi cao hơn để cho dự án thực hiện trước, còn việc điều chỉnh quy hoạch mâu thuẫn kia sẽ được tiến hành song song theo một quy trình khác sau đó, giúp dự án không bị đóng băng vô lý do sự thiếu thống nhất giữa các cơ quan quản lý.

PGS.TS Vũ Văn Tích, Phó Giám đốc Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ

Tiếp theo, PGS.TS Vũ Văn Tích, Phó Giám đốc Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ sẽ trình bày tham luận với chủ đề “Chính sách và Công nghệ số tích hợp AI: Kiến tạo Kinh tế số cho doanh nghiệp vừa và nhỏ tại các địa phương”.

Ông Tích cho rằng, trong nhiều năm qua, chúng ta nói nhiều về chuyển đổi số. Thực chất, chuyển đổi số không phải là mua phần mềm, không phải là số hóa hồ sơ và càng không phải là xây dựng các ứng dụng rời rạc. Bản chất của chuyển đổi số là tái cấu trúc mô hình phát triển dựa trên dữ liệu, tri thức và công nghệ.

Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà thực sự phải là hạt nhân, trung tâm của nền kinh tế số. Do vậy, cần khung chính sách quốc gia hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và Al nhằm phát triển kinh tế số địa phương.

Hiện nay, thách thức của Việt Nam không phải thiếu doanh nghiệp. Việt Nam hiện có hàng triệu hộ kinh doanh, hàng trăm nghìn doanh nghiệp, hàng chục nghìn hợp tác xã. Điều chúng ta thiếu là hệ sinh thái tạo ra doanh nghiệp công nghệ.

Chúng ta vẫn đang tồn tại các nghịch lý gồm nhà khoa học có công nghệ nhưng thiếu thị trường, doanh nghiệp có thị trường nhưng thiếu công nghệ, địa phương có nguồn lực nhưng thiếu công cụ kết nối, các phòng thí nghiệm đầu tư lớn nhưng khai thác chưa hiệu quả, các đề tài nghiên cứu hoàn thành nhưng thương mại hóa còn hạn chế. Đây chính là điểm cần được giải quyết bằng chính sách.

Hơn 5,1 triệu hộ kinh doanh vẫn đang hoạt động ngoài hệ sinh thái số. Chúng ta thấy được thực trạng chuyển đổi số còn manh mún, thiếu hệ thống, logistics chặng cuối đắt và không ổn định, thiếu niềm tin trong giao dịch thương mại online, công nghệ quản trị vượt khả năng tài chính. Đây là vấn đề rất nan giải.

Với tư duy mới, chúng ta sẽ triển khai công nghệ từ đầu tư đề tài sang đầu tư hệ sinh thái. Trong nhiều năm qua, đơn vị nghiên cứu được nhà nước giao đề tài. Sau khi nghiệm thu thì đề tài kết thúc.

Trong khi đó, doanh nghiệp cần sản phẩm và công nghệ, thị trường cần giải pháp, người dân cần giá trị thực sự của chuyển đổi số.

Vì vậy, cần chuyển từ tư duy tài trợ nghiên cứu sang tư duy đầu tư hệ sinh thái đổi mới sáng tạo làm sao để đích đến cuối cùng phải là doanh thu với doanh nghiệp, việc làm với người dân, năng suất, thị trường, tài sản trí tuệ.

Về chính sách thúc đẩy câu chuyện này là hình thành liên kết 3 nhà thế hệ mới. Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ đã đưa ra 2 mô hình. Đầu tiên là mô hình truyền thống gồm nhà nước cấp tiền cho nhà khoa học, sau đó nhà khoa học trả lại cho doanh nghiệp. Mô hình này thực sự không chạy theo kinh tế thị trường.

Trong khi đó, mô hình mới gồm 4 yếu tố. Nhà nước có vai trò kiến tạo thể chế, kiến tạo dữ liệu, kiến tạo thị trường. Nhà khoa học tạo tri thức, tạo công nghệ, tạo tài sản trí tuệ. Doanh nghiệp đặt hàng nghiên cứu, thương mại hóa sản phẩm, mở rộng thị trường. Nhà đầu tư cung cấp vốn tăng trưởng, chia sẻ rủi ro, thúc đẩy mở rộng quy mô. Cứ như vậy hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo địa phương, thậm chí lan tỏa sang toàn quốc.

Để thực hiện việc kết nối này, có 5 chính sách đột phá cần triển khai. Đầu tiên là không để các phòng thí nghiệm tại các trường đại học, các vị trí để không. Chúng ta cần mở ra nền tảng để chia sẻ với khách hàng, để mọi doanh nghiệp có thể đặt lịch trực tuyến để thử nghiệm, kiểm định, phân tích, nghiên cứu trên một nền tảng quốc gia thống nhất giống như thuê dịch vụ điện toán đám mây.

Thứ hai là tạo ra mạng lưới chuyên gia quốc gia cho doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhiều doanh nghiệp địa phương không cần tuyển chuyên gia Al toàn thời gian vì phải trả chi phí tokken rất lớn. Điều họ cần là được tiếp cận chuyên gia đúng lúc.

Ông Tích đề xuất một mạng lưới gọi là Vietnam Innovation Expert Network, làm sao để kết nối giáo sư, tiến sĩ, chuyên gia Al, chuyên gia quản trị, chuyên gia thị trường phục vụ doanh nghiệp theo yêu cầu.

Thứ ba là hình thành quỹ đầu tư đổi mới sáng tạo địa phương vì nguồn trong dân và doanh nghiệp rất nhiều và đầu tư làm sao để hiệu quả và có nguồn lực để thực hiện đổi mới sáng tạo.

Nguồn đầu tư ngân sách khoa học công nghệ còn thiếu ở nhiều địa phương. Do vậy, cần mạng lưới gọi là Local Innovation Fund. Đây là nguồn vốn gồm ngân sách khoa học công nghệ, doanh nghiệp, quỹ đầu tư, ngân hàng

Nó hoạt động với nguyên tắc nhà nước không tài trợ toàn bộ, nhà nước đồng đầu tư theo phương thức voucher công nghệ, doanh nghiệp cùng chịu trách nhiệm.

Thứ tư là cơ chế sandbox địa phương. Hiện nay nhà nước đã cho phép doanh nghiệp thử nghiệm AI, blockchain, fintech, agritech, govtech trong phạm vi được kiểm soát để hình thành mạng lưới, giúp rút ngắn thời gian từ ý tưởng đến thị trường.

Thứ năm là Chương trình quốc gia "100.000 doanh nghiệp vừa và nhỏ AI Việt Nam". Mục tiêu đến năm 2030 sẽ có 100.000 doanh nghiệp sử dụng AI, 10.000 doanh nghiệp sử dụng DSS (AI trong quản trị), 1.000 doanh nghiệp phát triển sản phẩm công nghệ, 100 doanh nghiệp công nghệ quy mô quốc gia.

Mô hình kinh tế gắn với đổi mới sáng tạo ở địa phương gồm 4 lớp là chính quyền số, doanh nghiệp số, công dân số, tài nguyên số địa phương (dữ liệu, tri thức, văn hóa, sản phẩm, du lịch, tài nguyên bản địa).

Việt Nam đang có lượng tài nguyên số, tài sản sở hữu trí tuệ rất lớn mà chúng ta không khai khác, sắp tới các công ty nước ngoài sẽ về Việt Nam để khai thác.

Để giải quyết các vấn đề trên, PGS.TS.Vũ Văn Tích đã giới thiệu demo hệ sinh thái NOCAL. Trong đó sản phẩm NOCAL DSS hỗ trợ quyết định, làm AI CEO cho doanh nghiệp, quản trị theo KPI, dự báo kinh doanh, cảnh báo sớm.

NOCAL Mall giới thiệu sản phẩm thương mại ở địa phương. Hệ thống sẽ kết nối Ocop, hợp tác xã, doanh nghiệp và du lịch. NOCAL Social là mạng xã hội văn hóa cho từng địa phương. Mỗi sản phẩm là một câu chuyện, mỗi làng nghề là một cộng đồng, mỗi địa phương là một hệ sinh thái số.

Trung tâm NOCAL Data Hub là kho dữ liệu địa phương làm nhiên liệu cho AI. Tập trung sản phẩm, doanh nghiệp, du lịch, logistics. NOCAL AI Assistant là trợ lý AI cho doanh nghiệp. Nó sẽ trả lời các câu hỏi gồm “Tháng tới nên sản xuất gì?”, “Khách hàng nào có khả năng mua cao nhất?”, “Đâu là thị trường tiềm năng?”.

Nếu làm tốt, đến năm 2035, Việt Nam không chỉ có các doanh nghiệp số mà sẽ có các trung tâm AI vùng, Các cụm đổi mới sáng tạo địa phương, các hệ sinh thái công nghệ, các doanh nghiệp công nghệ cao mang thương hiệu Việt Nam. Khoa học công nghệ sẽ không còn đứng bên ngoài nền kinh tế mà trở thành động lực tăng trưởng cốt lõi.

Trong nền kinh tế công nghiệp truyền thống, tài nguyên như điện, than, khoáng sản rất quan trọng. Trong nền kinh tế tri thức, dữ liệu là yếu tố quyết định. Trong nền kinh tế AI, khả năng kết nối tri thức mới là yếu tố quyết định.

Vì vậy, chính sách không chỉ để quản lý. Chính sách phải trở thành nền tảng cho đổi mới sáng tạo. có nghĩa là chúng ta phải cùng nhau phát triển. Công nghệ không chỉ để tự động hóa. Công nghệ phải trở thành công cụ công bằng hóa cơ hội phát triển.

Đồng thời, AI không chỉ dành cho các tập đoàn lớn. AI phải trở thành trợ lý của mọi doanh nghiệp ở các địa phương Việt Nam. Nếu kết nối được nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp, nhà đầu tư trên cùng một nền tảng thì mỗi địa phương sẽ trở thành một cực tăng trưởng mới, mỗi doanh nghiệp nhỏ sẽ có cơ hội trở thành doanh nghiệp lớn, nền kinh tế số sẽ thực sự trở thành động lực đưa Việt Nam bước vào nhóm quốc gia phát triển có thu nhập cao trong những thập niên tới.

Ông Ngô Tấn Long, Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Á Châu - ACB

Nối tiếp, ông Ngô Tấn Long, Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Á Châu - ACB trình bày phần tham luận với chủ đề: “Giải pháp ACB đồng hành cùng Doanh nghiệp nhỏ và vừa”.

Ông Long cho biết, để cùng đồng hành và phát triển bền vững với doanh nghiệp, ACB đưa ra các giải pháp về vốn để doanh nghiệp phát triển, các công cụ để doanh nghiệp tối ưu khi giao dịch với ngân hàng, cũng như tạo ra các hỗ trợ về nền tảng để giúp doanh nghiệp gia tăng năng lực bứt phá trong hoạt động kinh doanh của mình.

Về vốn, chúng ta thấy tài sản bảo đảm đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ luôn luôn là một vấn đề khó khăn, vì các doanh nghiệp không đủ tài sản bảo đảm cho các khoản vay theo yêu cầu của ngân hàng.

Số liệu thống kê cho thấy hiện tại số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm khoảng xấp xỉ 95% số lượng doanh nghiệp trên toàn Việt Nam. Trong 95% đó, chỉ có khoảng 16% số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ đang tiếp cận được các khoản cho vay của ngân hàng. Tỷ lệ doanh nghiệp chưa tiếp cận được các khoản vay của ngân hàng vẫn còn rất lớn. Trong tổng quy mô của nền kinh tế, dư nợ của doanh nghiệp vừa và nhỏ đang chiếm xấp xỉ khoảng 15% so với tổng quy mô dư nợ.

Hiểu được điều đó, ACB thiết kế các giải pháp linh hoạt cũng như đưa ra các chương trình ưu đãi để đồng hành và phát triển cùng doanh nghiệp. Đối với nguồn vốn lưu động, hiện tại chúng tôi có các phương thức tài trợ linh hoạt: từ có tài sản bảo đảm, doanh nghiệp thế chấp tài sản; khi đã hết tài sản, chúng tôi sẽ tài trợ theo dòng tiền với phương thức tín chấp một phần, mức tài trợ tối đa có thể lên đến 150% giá trị tài sản bảo đảm, khi doanh nghiệp có mối quan hệ với ACB và có uy tín, đánh giá tín nhiệm tốt.

Song song đó, ACB có các giải pháp tài trợ theo dòng tiền như L/C, tài trợ theo dòng vốn trong nước, tài trợ theo dòng xuất nhập khẩu, đặc biệt là tài trợ theo các chuỗi cung ứng và chuỗi phân phối hàng tiêu dùng nhanh hoặc hàng tiêu dùng sạch. Chúng tôi có giải pháp tài trợ phù hợp với đặc điểm của từng doanh nghiệp.

Để phục vụ cộng đồng doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt ở địa bàn Hà Nội và các tỉnh lân cận, ACB đang có chương trình ưu đãi lãi suất vay đến tối đa 2% so với mức lãi suất cho vay thông thường, áp dụng cho các doanh nghiệp ở khu vực phía Bắc.

Thông thường, khi giao dịch với ngân hàng thì tốn khá nhiều thời gian và nguồn lực. Vì vậy, ACB đã thiết kế các giải pháp, các công cụ để tối ưu giao dịch và tạo sự thuận tiện nhất khi doanh nghiệp đến giao dịch với ngân hàng. Trong đó, thứ nhất là gói ưu đãi về giao dịch, thứ hai là các nền tảng giao dịch online, và thứ ba là đội ngũ chuyên gia tại thị trường để phục vụ quý doanh nghiệp trên địa bàn.

Các gói ưu đãi hiện nay liên quan đến miễn phí các dịch vụ thanh toán, hoặc tặng gói dịch vụ thanh toán nước ngoài miễn phí lên đến 100.000 đô khi có quan hệ thanh toán quốc tế xuất nhập khẩu. Đặc biệt, đối với các doanh nghiệp quy mô nhỏ cần phần mềm bán hàng hoặc phần mềm xuất hóa đơn điện tử, chúng tôi tài trợ miễn phí gói dịch vụ này để giúp việc quản lý, quản trị dòng tiền và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thuận tiện hơn.

Đối với các doanh nghiệp có nhu cầu lắp đặt máy POS tại cửa hàng, hiện tại ACB cung cấp Smart POS và Soft POS.

"Quý doanh nghiệp có thể hình dung, hiện giờ máy POS rất đơn giản — chúng tôi đã triển khai trên thiết bị thông minh của doanh nghiệp, chỉ cần điện thoại di động và cài đặt phần mềm, điện thoại sẽ trở thành máy POS di động, đi đến đâu cũng có thể sử dụng để thanh toán rất dễ dàng, thuận tiện cho hoạt động kinh doanh", ông Long nói.

Liên quan đến nền tảng giao dịch online, đối với các giao dịch chuyển khoản thanh toán, hiện tại gần như 90% các giao dịch của khách hàng ACB đã được tự động hóa trên các nền tảng online, giúp quý doanh nghiệp rất thuận tiện và không cần phải đến ngân hàng trong các hoạt động thanh toán hàng ngày.

Đối với phần cho vay, tỷ lệ khách hàng tại ACB hiện đang giải ngân online đã lên đến khoảng 82% số lượng giải ngân hàng ngày. Điều này giúp thuận tiện rất nhiều, vì trước đây phải ký các chứng từ giấy rất phức tạp, còn bây giờ quý doanh nghiệp đi đến bất cứ đâu cũng đều có thể ký khế ước giải ngân một cách thuận tiện và đơn giản.

Liên quan đến hoạt động phát hành bảo lãnh, chúng tôi cũng đã đưa lên kênh online để phục vụ quý doanh nghiệp. Tỷ lệ này thấp hơn so với giải ngân online, nhưng đang tăng trưởng rất nhanh nhờ tính thuận tiện trong các hoạt động bảo lãnh — hiện có 36% số lượng sử dụng online tại ACB.

Liên quan đến hoạt động chuyển tiền quốc tế, tỷ lệ giao dịch online cũng rất cao, có thể chốt tỷ giá trong vòng 24 giờ rất thuận tiện. Đây là những nền tảng giao dịch online giúp doanh nghiệp không phải đi ra ngân hàng như trước đây nữa.

Song song đó, khi cần tư vấn sâu hơn về các giải pháp phù hợp với tình hình doanh nghiệp, ACB có đội ngũ nhân viên ngân hàng tại từng địa bàn. Đặc biệt tại địa bàn Hà Nội, hiện nay chúng tôi có khoảng 50-55 chi nhánh và phòng giao dịch trải dài trên khắp các địa phương để phục vụ quý doanh nghiệp.

Thứ ba, liên quan đến năng lực bứt phá, ACB sẽ đồng hành với doanh nghiệp để tạo các cơ hội mở rộng thị trường, gồm ba gói. Thứ nhất là gói đồng hành cùng ACB để phát triển thị trường, thứ hai là gói nguồn nhân lực Việt, và thứ ba là gói trao đổi để nâng cao kiến thức hoạt động kinh doanh.

Cụ thể, khi quý doanh nghiệp là khách hàng tại ACB, sẽ được quảng bá miễn phí thông qua hệ sinh thái của ACB. Doanh nghiệp chỉ cần ký hợp tác với ACB, và sẽ có cơ hội để ACB quảng bá sản phẩm của mình đến tất cả khách hàng đang giao dịch với ACB, từ khách hàng cá nhân đến khách hàng doanh nghiệp.

Tại gói thứ hai liên quan đến nguồn nhân lực Việt, hiện nay, việc thanh toán lương, thanh toán các chi phí lương hàng tháng tốn rất nhiều thời gian, nên ACB có giải pháp kết nối với hệ thống quản lý để chi trả lương thuận tiện hơn. Về việc mở tài khoản, hiện tại chúng tôi cũng có hệ thống hỗ trợ — ví dụ khi doanh nghiệp cần mở tài khoản cho toàn bộ người lao động, đặc biệt là các doanh nghiệp có số lượng lao động lớn, chúng tôi sẽ đến tận nơi để mở tài khoản, không cần đến ngân hàng. ACB có thể mở tài khoản và thực hiện các hoạt động thanh toán chi lương một cách thuận tiện, nhanh chóng, ngay tại nơi làm việc của người lao động. Các gói ưu đãi đối với người lao động về miễn phí trọn đời liên quan đến tài khoản cũng rất ưu đãi, giúp người lao động giảm chi phí khi giao dịch với ngân hàng.

Điểm sau cùng liên quan đến các gói cùng nhau nâng cao kiến thức về hoạt động kinh doanh. ACB hướng đến phát triển bền vững, nên đã phối hợp cùng IFC để thực hiện việc nâng cao kỹ năng liên quan đến sản xuất xanh và ESG. Ngoài ra, còn có các khóa đào tạo giúp doanh nghiệp tăng doanh số trên các sàn thương mại điện tử hay TikTok Shop, các kỹ thuật về livestream, affiliate liên quan đến các hoạt động marketing để giúp tối ưu doanh thu. Bên cạnh đó, còn có các lớp phối hợp cùng doanh nghiệp để chia sẻ về kỹ thuật quảng cáo, kỹ năng sử dụng AI một cách hiệu quả trong giai đoạn hiện tại.

Trên đây là các giải pháp mà ACB có thể cung cấp đến quý cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ. ACB kỳ vọng và mong muốn sẽ cùng đồng hành với quý doanh nghiệp trên chặng đường phát triển của mình.

Ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký, Trưởng Ban Pháp chế của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

Tại tham luận “Chính sách thuế và hải quan đối với doanh nghiệp SMEs: Thực tế và kỳ vọng”, ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký, Trưởng Ban Pháp chế của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho biết, môi trường kinh doanh của Việt Nam trong hơn hai năm qua đã có nhiều thay đổi nhanh chóng. Cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), đang phải đối mặt với nhiều thách thức liên quan đến chi phí sản xuất, chi phí tuân thủ pháp luật, chuyển đổi số, yêu cầu hội nhập quốc tế cũng như những biến động của kinh tế toàn cầu.

Theo kết quả khảo sát thường niên của VCCI, khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp hiện nay không chỉ nằm ở thị trường hay nguồn vốn, mà còn ở gánh nặng thủ tục hành chính và chi phí tuân thủ các quy định pháp luật. Đây là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh và khả năng phát triển của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Đánh giá về những chuyển biến tích cực trong chính sách thuế thời gian qua, ông Đậu Anh Tuấn cho biết Việt Nam đã có nhiều cải cách quan trọng nhằm hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp. Đáng chú ý, lần đầu tiên chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp được thiết kế theo hướng phân tầng dựa trên quy mô doanh nghiệp. Theo quy định mới, doanh nghiệp có doanh thu từ 1-3 tỷ đồng được áp dụng thuế suất 15%, trong khi doanh nghiệp có doanh thu trên 3-50 tỷ đồng được áp dụng thuế suất 17%, thấp hơn mức thuế suất phổ thông 20%.

Bên cạnh đó, nhiều chính sách ưu đãi tiếp tục được triển khai nhằm thúc đẩy đầu tư và đổi mới sáng tạo, như ưu đãi thuế suất 10% trong 15 năm đối với các lĩnh vực công nghệ cao, bán dẫn, đổi mới sáng tạo và năng lượng tái tạo. Tổng quy mô các chính sách miễn, giảm và gia hạn thuế hỗ trợ doanh nghiệp trong giai đoạn 2020-2025 đã đạt khoảng 900 nghìn tỷ đồng, góp phần giúp doanh nghiệp vượt qua giai đoạn khó khăn sau đại dịch và thích ứng với những biến động của kinh tế thế giới.

Ông Tuấn cũng ghi nhận những kết quả tích cực từ quá trình cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số trong lĩnh vực thuế. Theo đó, khoảng 42% thủ tục hành chính thuế đã được cắt giảm so với năm 2024; chi phí tuân thủ giảm khoảng 51%, tương đương hơn 4.400 tỷ đồng; thời gian giải quyết thủ tục được rút ngắn 27%. Các nền tảng số như eTax Mobile, hoàn thuế điện tử và các ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hỗ trợ người nộp thuế đã góp phần nâng mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp lên 92,3% trong năm 2025.

"Từ góc độ doanh nghiệp, điều quan trọng không chỉ là mức thuế suất hay các chính sách ưu đãi, mà còn là tính ổn định, minh bạch và khả năng dự báo của hệ thống pháp luật. Doanh nghiệp rất cần một môi trường chính sách ổn định để có thể xây dựng kế hoạch đầu tư và kinh doanh dài hạn", ông Đậu Anh Tuấn nhấn mạnh.

Đối với lĩnh vực hải quan, đại diện VCCI đánh giá cao những nỗ lực cải cách và hiện đại hóa trong thời gian qua. Việc triển khai hệ thống hải quan điện tử VNACCS/VCIS, nộp thuế điện tử 24/7, E-Manifest, hệ thống giám sát tự động tại kho, bãi, cảng (VASSCM) cùng nhiều giải pháp quản lý hiện đại đã góp phần rút ngắn thời gian thông quan, giảm chi phí logistics và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Hiện nay, phần lớn thủ tục hải quan đã được thực hiện bằng phương thức điện tử.

Bên cạnh đó, nhiều chính sách mới cũng đang được triển khai nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp, như mở rộng chế độ doanh nghiệp ưu tiên (AEO), xây dựng cơ chế ưu đãi đối với doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, đồng thời sửa đổi Luật Hải quan theo hướng bãi bỏ một số điều kiện kinh doanh và giảm nghĩa vụ báo cáo.

Tuy nhiên, ông Tuấn cho rằng những khó khăn trong thực tiễn vẫn còn tồn tại. Kết quả khảo sát cho thấy có tới 73,3% hộ kinh doanh coi khó khăn pháp lý là áp lực lớn nhất; 71,2% gặp khó khăn trong việc thu thập thông tin khách hàng để xuất hóa đơn điện tử; trong khi tỷ lệ nợ thuế vẫn ở mức 10,2%, cao hơn mục tiêu đề ra. Đặc biệt, hệ thống văn bản pháp luật về thuế thay đổi nhanh khiến doanh nghiệp nhỏ khó theo kịp, làm gia tăng chi phí tuân thủ và giảm khả năng dự báo trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Theo ông Tuấn, mặc dù bức tranh chung về cải cách thuế và hải quan là rất tích cực, vẫn còn khoảng cách nhất định so với các nước trong khu vực ở một số khâu thủ tục. Hoạt động kiểm tra chuyên ngành cần tiếp tục được cải cách thực chất hơn nhằm rút ngắn thời gian thông quan. Đồng thời, khung pháp lý cho thương mại điện tử xuyên biên giới và các quy định liên quan đến hoạt động đại lý hải quan cũng cần tiếp tục được hoàn thiện để phù hợp với thực tiễn phát triển.

Từ thực tiễn hoạt động của cộng đồng doanh nghiệp, đại diện VCCI kiến nghị cơ quan quản lý chuyển mạnh từ tư duy "tăng yêu cầu tuân thủ" sang "hỗ trợ và giảm rủi ro" cho doanh nghiệp. Theo đó, cần xây dựng các công cụ tuân thủ có chi phí thấp, dễ sử dụng; hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh tiếp cận các phần mềm kế toán, hóa đơn điện tử và nền tảng số; đồng thời bảo đảm tính ổn định của hệ thống pháp luật thuế, hạn chế việc sửa đổi quá thường xuyên và dành đủ thời gian chuyển tiếp để doanh nghiệp thích ứng.

Bên cạnh đó, cần tiếp tục đẩy mạnh hải quan số, mở rộng mô hình quản lý dựa trên mức độ tuân thủ của doanh nghiệp, tăng cường minh bạch hóa quy trình cấp phép, kiểm soát chi phí không chính thức và đẩy mạnh cải cách kiểm tra chuyên ngành. Quá trình xây dựng và sửa đổi các chính sách thuế, hải quan cũng cần tăng cường tham vấn cộng đồng doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề và các chuyên gia độc lập, nhằm bảo đảm chính sách sát thực tiễn và khả thi hơn trong quá trình triển khai.

Ông Đậu Anh Tuấn nhấn mạnh thông điệp: "Chính sách mở đường – doanh nghiệp cất cánh" và cho rằng điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không phải là thiếu chính sách, mà là khoảng cách giữa thiết kế chính sách và quá trình thực thi. Vì vậy, cùng với việc tiếp tục hoàn thiện thể chế, điều quan trọng là phải bảo đảm các chính sách được triển khai đồng bộ, minh bạch và hiệu quả, lấy doanh nghiệp làm trung tâm, qua đó tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi hơn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

PHẦN THẢO LUẬN

Ngay sau khi các chuyên gia kết thúc phần tham luận, chương trình nhanh chóng được chuyển sang phần tọa đàm để các chuyên gia có điều kiện phân tích sâu hơn nữa những vấn đề đã đề cập trước đó.

Phiên tọa đàm diễn ra dưới sự điều phối bởi TS. Nguyễn Đức Kiên, nguyên Tổ trưởng Tổ Tư vấn Kinh tế của Thủ tướng Chính phủ, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, Chủ tịch Hiệp hội Mua bán và Sáp nhập Doanh nghiệp Việt Nam. Cùng sự tham gia của ông Phan Đức Hiếu, Uỷ viên Uỷ ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội; ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng thư ký kiêm Trưởng ban Pháp chế Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam – VCCI; PGS.TS Vũ Văn Tích, Phó Giám đốc Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ; ông Từ Tiến Phát, Tổng Giám Đốc Ngân hàng TMCP Á Châu - ACB.

Ông Nguyễn Đức Kiên: Qua trình bày của ông Hiếu, mọi người đều thấy có quá nhiều luật. Với tư cách là người tham gia xây dựng văn bản luật này, anh hãy tư vấn cộng đồng doanh nghiệp cần quan tâm đến điều gì nhất?

Ông Phan Đức Hiếu: Trong câu chuyện cải cách thể chế, có xu thế xây dựng khuôn khổ pháp luật dựa trên chi phí tuân thủ phù hợp với quy mô và tính chất khác nhau của doanh nghiệp. Với tư cách đại biểu Quốc hội, tôi sẽ hướng đến việc tinh giản luật lệ, giảm chi phí tuân thủ, đặc biệt cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.Khía cạnh thứ hai, tôi có hai suy nghĩ muốn chia sẻ.

Thứ nhất, ở Đức, doanh nghiệp vừa và nhỏ rất quan trọng trong nền kinh tế. Các doanh nghiệp Đức thường truyền đi một thông điệp rất đáng suy ngẫm: "Chúng tôi nhỏ nhưng không xuề xòa; chúng tôi là một phần quan trọng của nền kinh tế".

Ông Phan Đức Hiếu, Uỷ viên Uỷ ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội

Tôi rất chia sẻ với doanh nghiệp vừa và nhỏ, vì họ cần có chiến lược kinh doanh và không ngừng nâng cao tính chuyên nghiệp. Đến một giai đoạn nhất định, doanh nghiệp buộc phải tính toán bài toán chi phí ở mức tối thiểu — ta gọi là "tùy cơm gắp mắm".

Tiếp đó, cần có tư duy tuân thủ. Bây giờ, việc ghi chép tài chính doanh nghiệp, ngay cả khi luật pháp không yêu cầu, vẫn cần thực hiện vì trí nhớ không phải lúc nào cũng đáng tin cậy. Nếu ghi chép bài bản, khi làm việc với ngân hàng, tôi có thể đưa cho ngân hàng xem những gì mình đã ghi chép. Tôi tin ngân hàng vẫn thích cho vay đối với doanh nghiệp không có tài sản nhưng có hồ sơ ghi chép rõ ràng.

Trong bối cảnh hiện nay, một số quy định pháp luật cần được thiết kế theo hướng tạo ra mức chi phí hợp lý. Tôi không dám khuyên doanh nghiệp, chỉ chia sẻ tư duy, vì chúng ta cần tư duy để vươn lên mạnh mẽ hơn vì lợi ích của doanh nghiệp, của cổ đông, người lao động và gia đình mình.

Ông Nguyễn Đức Kiên: Trong phần trả lời trước, anh Hiếu làm tôi nhớ đến thông điệp của cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh: "Hãy tự cứu lấy mình".

TS. Nguyễn Đức Kiên, nguyên Tổ trưởng Tổ Tư vấn Kinh tế của Thủ tướng Chính phủ, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, Chủ tịch Hiệp hội Mua bán và Sáp nhập Doanh nghiệp Việt Nam

Điều đó có nghĩa là, ngay cả khi khung khổ pháp lý chưa hoàn thiện, doanh nghiệp cũng phải chủ động chứng minh mình là ai, năng lực ra sao, chứ không thể ở trạng thái như anh nói là một "tờ giấy trắng", khiến ngân hàng hay đối tác không biết phải đánh giá thế nào.

Thứ hai, bản thân doanh nghiệp cũng cần chuẩn hóa quản trị nội bộ, thay đổi tư duy và nâng cao tính minh bạch.Nhưng anh mới đề cập đến một vế là doanh nghiệp cần làm gì.

Tôi muốn hỏi thêm anh Hiếu rằng, ở chiều ngược lại, cơ quan quản lý cần phải làm gì, cần ban hành hay tháo gỡ những gì một cách kịp thời để tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển, qua đó góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số?

Ông Phan Đức Hiếu: Nếu được kiến nghị điều gì trong lần sửa Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa sắp tới, tôi đã có suy nghĩ về vấn đề này, và cũng đã xem qua dự thảo. Tôi có hai suy nghĩ trước mắt.

Một là, cách thức hỗ trợ nên thay đổi để hướng đúng vào nhu cầu của doanh nghiệp, tránh hỗ trợ đại trà. Hỗ trợ chỉ thực sự hiệu quả khi xuất phát từ nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp và có sự tham gia của cả hai phía. Nếu một doanh nghiệp muốn chuyển đổi số, cần có chuyên gia đến đánh giá tình hình; trên cơ sở đó mới lựa chọn giải pháp phù hợp, và Nhà nước hỗ trợ phần giải pháp đó.

Bên cạnh đó, tôi cho rằng cần quan tâm hơn đến khâu thực thi. Nếu triển khai theo cách đại trà, rất khó xác định chính xác doanh nghiệp nào thực sự có nhu cầu và cần được hỗ trợ. Khi đó, hiệu quả chính sách có thể không cao và chưa sát với thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp.

Hai là, khi sửa luật, cơ quan soạn thảo cần rà soát đồng bộ các quy định pháp luật liên quan. Nếu chỉ sửa một luật mà không xem xét sự tương thích với các quy định khác, rất khó tạo ra giải pháp toàn diện.

Ông Nguyễn Đức Kiên: Câu hỏi vừa rồi của anh Hiếu về đề cương dự thảo sửa đổi Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2026 thực ra cũng là băn khoăn mà PGS.TS Nguyễn Hồng Sơn đã trăn trở từ rất lâu. Đó là làm thế nào để sửa luật thực sự hiệu quả, tránh tình trạng tuổi đời của luật quá ngắn nhưng hiệu quả thực thi lại không cao. Có lẽ đây sẽ còn là câu chuyện mà anh Hiếu và anh Sơn tiếp tục theo đuổi cho đến khi dự luật được thông qua.

Về khoa học công nghệ, anh Tích đã trình bày rất đầy đủ trong phần slide. Tuy nhiên, tôi chỉ xin đặt một câu hỏi đơn giản: nếu chúng ta thực sự muốn tạo ra đột phá và muốn triển khai ngay, thì Nhà nước cần bắt đầu từ đâu, doanh nghiệp cần bắt đầu từ đâu?

Ông Vũ Văn Tích: Theo tôi, để phát triển thị trường công nghệ và nền kinh tế dựa trên công nghệ, trước hết phải có hàng hóa. Một nền kinh tế không có hàng hóa là nền kinh tế không thể phát triển; thị trường không có hàng hóa cũng không thể tồn tại.

Trước đây, thị trường vận hành theo quy luật cung – cầu, nhưng hiện nay cần tính thêm quy luật giá trị. Muốn có cung phải tạo được cầu. Vì vậy, Nhà nước cần đóng vai trò tạo lập thị trường, trước hết thông qua mua sắm và sử dụng sản phẩm công nghệ, từ đó thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư phát triển hàng hóa công nghệ.

Doanh nghiệp là trung tâm của thị trường công nghệ, vì họ chuyển các kết quả nghiên cứu còn mang tính vô hình của nhà khoa học thành sản phẩm cụ thể để thị trường sử dụng. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng nền kinh tế sản xuất dựa trên công nghệ và tạo ra các sản phẩm cụ thể.

Từ kinh nghiệm của Nhật Bản và Hàn Quốc, tôi cho rằng chính sách và pháp luật cần hướng tới các mục tiêu, sản phẩm cụ thể, thay vì chỉ quy định theo hướng quá chung chung.

Ông Nguyễn Đức Kiên: Câu trả lời của anh Tích tuy ngắn nhưng có hai ý rất quan trọng. Thứ nhất, Nhà nước cần đi trước để tạo thị trường. Thứ hai, bản thân doanh nghiệp cũng phải có sản phẩm, có công nghệ thì mới có thể tham gia thị trường đó. Nghe có vẻ đơn giản, nhưng để hình thành được một thị trường công nghệ thực sự thì đòi hỏi cả một quá trình dài.

Thời gian qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã tổ chức nhiều chương trình, sự kiện nhằm thúc đẩy thương mại hóa các sản phẩm khoa học công nghệ. Tuy nhiên, hiệu quả dường như vẫn chưa được như kỳ vọng. Một trong những nguyên nhân là khoảng cách từ nghiên cứu, lý thuyết đến ứng dụng thực tiễn còn khá lớn, trong khi kinh phí hạn chế và rủi ro cao khiến nhiều kết quả nghiên cứu chưa thể đi đến thương mại hóa.

Vì vậy, theo tôi được biết, Học viện và Bộ cũng đang nghiên cứu hình thành quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ chia sẻ rủi ro để hài hòa lợi ích giữa các bên, qua đó tạo điều kiện cho các sản phẩm khoa học công nghệ phát triển.

Xin anh cho biết, trong thời gian qua, việc phát triển quỹ đã đạt được những kết quả đáng chú ý nào?

Ông Vũ Văn Tích: Theo tôi, hiện nay Nhà nước đã có những chủ trương rất lớn để phát triển khoa học công nghệ. Mục tiêu dành khoảng 2% GDP cho khoa học công nghệ là một mức đầu tư đáng kể so với nhiều quốc gia. Ngay cả Hàn Quốc — một trong những nước đầu tư mạnh nhất cho nghiên cứu và phát triển — cũng chỉ ở mức khoảng 3,6% GDP. Họ còn đầu tư rất lớn cho các viện nghiên cứu và trung tâm khoa học công nghệ nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ phát triển kinh tế.

PGS.TS Vũ Văn Tích, Phó Giám đốc Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ

Tuy nhiên, vấn đề của chúng ta hiện nay không chỉ nằm ở nguồn lực mà là làm sao để nguồn lực đó thực sự đến được với nhà khoa học và doanh nghiệp. Kinh phí dành cho khoa học công nghệ vẫn chưa được chuyển hóa hiệu quả thành các hoạt động sản xuất, kinh doanh và sản phẩm cụ thể trên thị trường.

Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy họ đã xây dựng các quỹ đầu tư cho khoa học công nghệ theo cách rất đáng tham khảo. Thay vì tập trung nhiều vào cơ chế xét duyệt như chúng ta, họ tạo động lực trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu. Các công trình khoa học, bài báo nghiên cứu đều có cơ chế hỗ trợ kinh phí; đặc biệt, những bài báo được công bố trên các tạp chí quốc tế uy tín còn được hỗ trợ ở mức cao hơn. Điều đó tạo động lực rất lớn cho đội ngũ nhà khoa học và góp phần hình thành nguồn tri thức phong phú.

Bên cạnh đó, các sáng chế, phát minh sau khi được hội đồng khoa học thẩm định và công nhận đều có thể tiếp cận nguồn vốn từ các quỹ hỗ trợ để tiếp tục hoàn thiện và đưa vào ứng dụng. Không chỉ những công nghệ lớn, mà cả những sáng kiến đơn giản nhưng có giá trị thực tiễn cũng có cơ hội được hỗ trợ.

Khi có cá nhân hoặc doanh nghiệp muốn ứng dụng công nghệ đó vào sản xuất, các quỹ có thể tham gia đầu tư, góp vốn và trở thành cổ đông đồng hành cùng doanh nghiệp. Cơ chế này vừa hỗ trợ vốn, vừa chia sẻ rủi ro trong quá trình thương mại hóa công nghệ.

Trung Quốc đã rất thành công trong việc đưa các kết quả nghiên cứu khoa học vào đời sống và sản xuất. Đây là kinh nghiệm Việt Nam cần nghiên cứu, học hỏi để hoàn thiện cơ chế quỹ đầu tư cho khoa học công nghệ, qua đó thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tạo ra nhiều sản phẩm công nghệ có giá trị cho nền kinh tế.

Ông Nguyễn Đức Kiên: Có lẽ chúng ta quay trở lại câu chuyện giải pháp để phát triển. Tôi cũng có một băn khoăn liên quan đến cải cách phương thức quản lý.

Hiện nay, trong nhiều lĩnh vực như thuế, hải quan, xuất nhập khẩu, chúng ta đang chuyển dần từ cơ chế tiền kiểm sang hậu kiểm. Đồng thời, xu hướng quản lý cũng đang dịch chuyển từ việc nhấn mạnh yêu cầu tuân thủ sang cách tiếp cận quản lý dựa trên rủi ro, nhằm giảm chi phí tuân thủ và tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn còn tâm lý lo ngại bởi rủi ro pháp lý và rủi ro trong quá trình thanh tra, kiểm tra sau này.

Báo cáo anh Tuấn, anh từng đề cập đến xu hướng chuyển từ quản lý thiên về công cụ hành chính sang quản lý theo hướng hỗ trợ doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro. Vậy theo anh, để thực hiện sự chuyển đổi này một cách thực chất, cơ quan quản lý cần ưu tiên làm gì đầu tiên? Đâu là khâu cần thay đổi trước, để vừa đảm bảo quản lý nhà nước hiệu quả, vừa tạo môi trường thuận lợi hơn cho doanh nghiệp phát triển?

Ông Đậu Anh Tuấn: Thực ra, đây là một xu hướng tất yếu trong quản lý nhà nước hiện nay. Chúng ta đang kỳ vọng chuyển từ cách tiếp cận chủ yếu dựa trên yêu cầu tuân thủ sang cách tiếp cận hỗ trợ doanh nghiệp tuân thủ và giảm thiểu rủi ro.

Trước đây, khi xây dựng và ban hành chính sách, cơ quan quản lý thường đặt nặng yêu cầu doanh nghiệp phải tuân thủ. Tuy nhiên, trên thực tế, không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ nguồn lực để theo dõi, đọc và hiểu hết các quy định, nghị định mới. Đặc biệt với doanh nghiệp nhỏ và vừa, việc tham gia góp ý chính sách cũng rất khó khăn nếu họ chưa thực sự hiểu hoặc chưa nhìn thấy tác động trực tiếp đến hoạt động của mình.

Ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng thư ký kiêm Trưởng ban Pháp chế Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam – VCCI

Vì vậy, khi ban hành chính sách, cơ quan quản lý cần xác định rõ chủ thể thực hiện là ai và thiết kế các cơ chế hỗ trợ để doanh nghiệp có thể tiếp cận, hiểu và thực hiện đúng quy định. Đây là thay đổi rất quan trọng trong tư duy quản lý.

Một vấn đề khác là cần phân biệt giữa rủi ro kinh doanh và rủi ro thủ tục. Doanh nghiệp luôn phải chấp nhận rủi ro thị trường, nhưng nếu môi trường pháp lý cũng chứa đựng quá nhiều bất định thì chi phí và rủi ro sẽ tăng lên rất lớn. Chỉ cần một thay đổi chính sách đột ngột cũng có thể làm đảo lộn các phương án kinh doanh đã được xây dựng từ trước.

Xu hướng chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm giúp giảm chi phí cho xã hội và tạo sự linh hoạt hơn cho hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, cách làm này thường phù hợp hơn với các doanh nghiệp lớn, có đội ngũ nhân sự và hệ thống quản trị tốt. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhiều khi họ vẫn rất lo lắng vì không biết mình đã tuân thủ đầy đủ hay chưa, tiêu chí kiểm tra là gì, và sẽ phải xử lý như thế nào nếu có sai sót.

Do đó, cùng với việc chuyển sang hậu kiểm, cơ quan quản lý cần tăng cường các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp nhận diện và giảm thiểu rủi ro. Quan trọng nhất là tạo điều kiện để doanh nghiệp hiểu quy định, có khả năng tuân thủ và yên tâm trong quá trình hoạt động. Đó mới là nền tảng để xây dựng một môi trường kinh doanh minh bạch, hiệu quả và bền vững.

Ông Nguyễn Đức Kiên: Anh Tuấn có một nhận xét rất đáng suy ngẫm, thậm chí khá "đau". Đó là khoảng cách giữa thiết kế chính sách và thực thi chính sách vẫn còn lớn. Tức là có độ vênh giữa những người làm chính sách và đời sống thực tiễn của doanh nghiệp.

Trước đây, chúng tôi cũng từng tranh luận rất nhiều với câu hỏi: "Đưa luật vào cuộc sống hay đưa cuộc sống vào luật?". Đây là tư duy đổi mới, đặc biệt dưới thời Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng.Vậy theo anh, để rút ngắn khoảng cách đó cần phải làm gì?

Ông Đậu Anh Tuấn: Tôi rất ấn tượng với một nhận định được một chuyên gia nói cách đây khoảng 10 năm: khoảng cách xa nhất không phải từ Hà Nội đến Cà Mau, mà là khoảng cách từ miệng đến tay - tức là từ chủ trương, chính sách đến hành động thực tế.

Chúng ta có thể xây dựng những chính sách rất hay, mục tiêu rất tốt, nhưng nếu không thực hiện được thì hiệu quả mang lại sẽ rất hạn chế. Chẳng hạn, nếu đọc Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 hay các chính sách hỗ trợ được ban hành sau đó, chúng ta thấy rất nhiều cơ chế ưu đãi. Tuy nhiên, khi hỏi trực tiếp doanh nghiệp có biết và được hưởng những chính sách đó hay không, tỷ lệ là rất thấp. Nhiều chính sách được ban hành nhưng phải mất nhiều năm mới đi vào thực tiễn, cho thấy độ trễ chính sách vẫn còn khá lớn.

Theo tôi, có nhiều nguyên nhân tạo nên khoảng cách giữa chính sách và thực tế.Thứ nhất, chính sách thường thể hiện mục tiêu mà Nhà nước mong muốn đạt được. Tuy nhiên, trong quá trình thiết kế chính sách, điều quan trọng không chỉ là xác định mục tiêu mà còn phải xây dựng được con đường và công cụ phù hợp để đạt được mục tiêu đó. Đây là điểm mà pháp luật của chúng ta đôi khi còn thiếu, hoặc chưa làm thật tốt.

Thứ hai, để chính sách đi vào cuộc sống cần có sự đồng bộ của hệ thống pháp luật. Một chính sách dù tốt, nhưng nếu các quy định liên quan chưa thống nhất hoặc thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan thực thi, thì hiệu quả cũng sẽ bị hạn chế.

Thứ ba, trong thực thi vẫn còn tâm lý e ngại trách nhiệm, sợ sai ở một bộ phận cán bộ. Điều này khiến việc triển khai chính sách đôi khi còn thận trọng quá mức hoặc chậm trễ. Vì vậy, bên cạnh việc ban hành chính sách, cần có hướng dẫn rõ ràng và cơ chế bảo đảm để người thực thi yên tâm thực hiện.

Tóm lại, muốn rút ngắn khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn, trước hết phải nâng cao chất lượng xây dựng chính sách theo hướng khả thi hơn, đồng bộ hơn và lấy hiệu quả thực hiện làm thước đo. Đồng thời, cần tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan và tạo điều kiện để đội ngũ thực thi mạnh dạn triển khai chính sách vào cuộc sống.

Ông Nguyễn Đức Kiên: Qua thực tiễn hoạt động của ACB, đặc biệt trong quá trình đồng hành và cấp tín dụng cho khu vực doanh nghiệp, anh có thể cho biết đâu là những khó khăn lớn nhất mà doanh nghiệp hiện nay đang gặp phải khi tiếp cận vốn vay?

Ông Từ Tiến Phát: Trước nay, vay ngân hàng vẫn được xem là khó, đặc biệt với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Những năm gần đây, các ngân hàng cạnh tranh khốc liệt, "gió xoay chiều" rất nhanh, việc giữ khách vay vốn cũng khó. Trong bối cảnh Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số, hệ thống ngân hàng cũng chịu áp lực rất lớn. Việc tìm kiếm doanh nghiệp nhỏ và vừa để cho vay rất khó.

Ông Từ Tiến Phát, Tổng Giám Đốc Ngân hàng TMCP Á Châu - ACB

Tôi cho rằng ngân hàng phải linh hoạt. Hiện nay, khó khăn xuất phát từ tính cân đối tài chính qua sổ sách. Trước kia, việc ghi sổ sách "hợp lý" theo cách riêng có thể chấp nhận được, nhưng giờ đây lại tiềm ẩn rủi ro pháp lý rất lớn cho cả doanh nghiệp và ngân hàng. Từ góc độ ngân hàng, chúng tôi muốn đề nghị doanh nghiệp minh bạch tài chính, và việc sử dụng hóa đơn điện tử cũng chính là một hình thức minh bạch.

Thứ hai, cách sử dụng vốn của doanh nghiệp cũng tạo khó khăn cho ngân hàng trong việc đánh giá, thẩm định. Thứ ba, chuyển đổi số là một hướng tiếp cận giúp doanh nghiệp dễ tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng hơn. Ở thời điểm hiện nay, nếu đáp ứng được các điều kiện này, việc cho vay không phải là điều quá khó.

Ông Nguyễn Đức Kiên: ACB là một trong những ngân hàng đẩy mạnh chuyển đổi số trong thời gian qua, từ số hóa quy trình tại các điểm giao dịch, ứng dụng công nghệ trong thẩm định và đánh giá năng lực tài chính khách hàng, đến xây dựng hệ thống dữ liệu số nhằm nâng cao trải nghiệm và phục vụ khách hàng hiệu quả hơn.

Xin anh chia sẻ cụ thể hơn, ACB đang triển khai những giải pháp gì để hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn thuận lợi hơn, rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, giảm chi phí giao dịch và hạn chế sự phụ thuộc quá lớn vào tài sản bảo đảm? Những mô hình, công cụ hay nền tảng số nào đang được ACB áp dụng để đồng hành cùng doanh nghiệp vượt qua khó khăn và nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng?

Ông Từ Tiến Phát: Trước đó, đại diện ACB có nói về việc ngân hàng đang sử dụng các hệ thống phân tích dữ liệu và thuật toán. Khi doanh nghiệp sử dụng nhiều hệ thống thanh toán, ngân hàng sẽ dựa vào dữ liệu đó để xác định năng lực tài chính của doanh nghiệp.

Hiện nay, việc chấm điểm tín dụng bằng AI rất phổ biến. Tùy mức độ thanh toán của khách hàng, chúng tôi sẽ phân loại và quyết định cho vay. Các doanh nghiệp nên đẩy mạnh sử dụng hệ thống thanh toán điện tử.

Ông Nguyễn Đức Kiên: Như vậy, từ phần trao đổi của đại diện ACB có thể thấy một thông điệp rất rõ là bản thân doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, phải chủ động minh bạch hóa thông tin tài chính, xây dựng dữ liệu và hệ thống quản trị của mình. Đây chính là cơ sở để ngân hàng ứng dụng dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo trong đánh giá tín dụng, qua đó giảm bất cân xứng thông tin, giảm rủi ro và nâng cao khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nhỏ và vừa càng cần chủ động hơn trong quá trình này.

Và đây cũng là câu hỏi mà rất nhiều khán giả gửi tới ông Tích. Hiện nay, liệu đã có những cơ chế, chính sách cụ thể nào để thúc đẩy sự liên kết giữa khu vực khoa học công nghệ với cộng đồng doanh nghiệp hay chưa?

Liên hệ với phần trao đổi của anh Hiếu và anh Tuấn, có thể thấy một điểm rất quan trọng: bản thân doanh nghiệp phải chủ động xây dựng và chuẩn hóa dữ liệu của mình, đặc biệt là dữ liệu tài chính và dữ liệu hoạt động.

Đây chính là cơ sở để các tổ chức tín dụng ứng dụng dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo trong thẩm định, đánh giá khách hàng, qua đó giảm bất cân xứng thông tin và giảm thiểu rủi ro. Doanh nghiệp nhỏ và vừa càng cần chủ động hơn trong việc xây dựng hệ thống dữ liệu và năng lực quản trị.

Và đây cũng là câu hỏi mà rất nhiều khán giả gửi tới ông Tích. Chúng ta vẫn nói nhiều đến liên kết "ba nhà" — Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp. Vậy hiện nay đã có những cơ chế, chính sách cụ thể nào để thúc đẩy sự kết nối giữa hệ sinh thái khoa học công nghệ với cộng đồng doanh nghiệp?

Ông Vũ Văn Tích: Tôi cho rằng hiện nay Chính phủ đã có những chính sách hỗ trợ đối với cả ba chủ thể gồm Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp gặp khó khăn về công nghệ hoặc có nhu cầu ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, kinh doanh, các nhà khoa học hoàn toàn có thể vào cuộc để cùng giải quyết.

Nhiều vấn đề hiện nay có thể được xử lý bằng khoa học công nghệ, đặc biệt là chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Vì vậy, sau hội nghị này, tôi mong nhận được nhiều đề xuất hơn từ cộng đồng doanh nghiệp về những nhu cầu cụ thể trong ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số và AI.

Khi doanh nghiệp đưa ra yêu cầu, các nhà khoa học sẽ nghiên cứu, hoàn thiện và đóng gói thành các giải pháp công nghệ cụ thể. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp có thể sử dụng các giải pháp này để xây dựng dự án sản xuất, kinh doanh và tiếp cận nguồn vốn tín dụng.

Nhà nước sẽ hỗ trợ thông qua các chính sách về kinh phí, tín dụng và ưu đãi lãi suất đối với các dự án ứng dụng khoa học công nghệ. Đây cũng là hướng cần triển khai mạnh hơn trong thời gian tới, nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho đổi mới công nghệ và đưa vốn vào sản xuất.

Tôi cho rằng khi khoa học công nghệ được đưa vào sản xuất, doanh nghiệp không chỉ nâng cao năng suất, hiệu quả mà còn có điều kiện tiếp cận các nguồn vốn với chi phí thấp hơn. Vì vậy, tôi đề nghị các doanh nghiệp mạnh dạn đề xuất những nhu cầu và bài toán thực tiễn của mình, để các nhà khoa học, cơ quan quản lý và các tổ chức tín dụng cùng phối hợp giải quyết.

Ông Nguyễn Đức Kiên: Câu trả lời của anh Tích cũng khẳng định một điều rất quan trọng: các nhà khoa học phải bước ra khỏi phòng thí nghiệm, bước ra khỏi "phòng máy lạnh" để cùng chia sẻ rủi ro, cùng đồng hành với doanh nghiệp và thị trường.

Và có một câu hỏi được rất nhiều đại biểu quan tâm. Chúng ta thường nói đến tích sản bằng bất động sản, vàng hay USD. Xin dành một câu hỏi mang tính chuyên ngành cho anh Phát: Anh đánh giá như thế nào về triển vọng của ngành ngân hàng trong thời gian tới? Diễn biến tỷ giá, mặt bằng lãi suất và thanh khoản hệ thống sẽ ra sao?

Ngoài ra, hiện nay, cơ cấu huy động vốn và tăng trưởng tín dụng vẫn có những điểm chưa thực sự cân đối; dòng vốn giữa các lĩnh vực như sản xuất, bất động sản hay tín dụng tiêu dùng có sự chênh lệch nhất định. Tuy nhiên, với sự ổn định của thị trường liên ngân hàng, bộ đệm dự phòng rủi ro của các ngân hàng cũng như kinh nghiệm điều hành chính sách tiền tệ của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước, chúng ta vẫn có cơ sở để kỳ vọng vào sự ổn định của hệ thống.

Từ góc độ nghiên cứu và kinh nghiệm của mình, anh Phát có bổ sung hay lưu ý gì thêm về triển vọng của ngành ngân hàng, cũng như những yếu tố cần đặc biệt quan tâm trong thời gian tới?

Ông Từ Tiến Phát: Chúng ta ít khi tiếp cận được đầy đủ thông tin. Đầu năm, hệ thống ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là về tỷ giá và lãi suất. Chúng tôi làm ngân hàng nhưng cũng "đau đầu" với những biến động này. Tuy nhiên, chúng tôi nhận định tỷ giá sẽ đi vào ổn định, dao động ở mức khá tốt. Ngân hàng Nhà nước có đủ công cụ để giữ ổn định mức tỷ giá này. Doanh nghiệp đang vay USD có thể yên tâm.

Lãi suất có xu hướng tăng khá nhanh trong giai đoạn vừa qua. Lãi suất sẽ dịu dần từ quý 3, còn để dịu nhanh thì khó xảy ra. Chúng ta phải nhìn vào thực tế là ngân hàng cho vay sản xuất kinh doanh sẽ có mức lãi suất thấp hơn. Ví dụ, ACB có lãi suất cho vay 8–9%, đây là một cách để doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn. Tôi tự tin rằng tình hình sắp tới sẽ cải thiện hơn rất nhiều so với 6 tháng đầu năm.

Ông Nguyễn Đức Kiên: Đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, tỷ giá luôn là một biến số rất đáng quan tâm. Cách đây khoảng 20 năm, nhiều doanh nghiệp xuất nhập khẩu thường phải ghi nhận các khoản lỗ do chênh lệch tỷ giá và phải trích lập dự phòng cho những biến động bất lợi của thị trường ngoại hối.

Tuy nhiên, căn cứ vào bối cảnh kinh tế Mỹ hiện nay, chúng tôi cho rằng khả năng Fed có những điều chỉnh đột biến đối với chính sách tiền tệ và đồng USD là không lớn. Theo dự báo, mặt bằng tỷ giá trong quý 3 nhiều khả năng vẫn duy trì ổn định. Áp lực có thể gia tăng phần nào vào quý 4, khi nhu cầu vốn của doanh nghiệp tăng lên để hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh cuối năm, khiến mặt bằng lãi suất có thể nhích lên ở một số thời điểm.

Và xin dành một câu hỏi ở góc độ vĩ mô cho anh Hiếu. Trong bối cảnh đó, anh đánh giá như thế nào về những động lực tăng trưởng của nền kinh tế trong thời gian tới? Đâu sẽ là những yếu tố hỗ trợ tăng trưởng, và đâu là những rủi ro cần đặc biệt lưu ý để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn tới?

Ông Phan Đức Hiếu: Đây là câu hỏi rất lớn. Hiện nay, quan điểm chung đã đủ rõ, các nghị quyết đều rất rõ, đặc biệt là Nghị quyết 68 và 79 đều đưa ra cách tiếp cận cải thiện thể chế. Trong đó, Nghị quyết 68 đòi hỏi quy định phải an toàn. Như các diễn giả vừa trao đổi, quy định cần rõ ràng để đảm bảo việc tuân thủ ít rủi ro.

Bên cạnh đó, cần tháo gỡ khó khăn, vướng mắc. Thời gian qua, các cơ quan quản lý đã rất nỗ lực, và tôi mong thời gian tới sẽ giảm thiểu được các khó khăn, vướng mắc còn tồn tại. Sắp tới, việc sửa Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ là nguồn trợ lực — không chỉ là trợ lực vật chất mà còn là trợ lực về thể chế. Nói gì thì nói, tôi vẫn muốn nhấn mạnh: doanh nghiệp và Nhà nước phải chạy song song.

Trong bối cảnh thể chế cải cách, hoạt động kinh doanh dễ dàng và thuận lợi hơn, chúng ta cũng đối mặt với nhiều thách thức, vì trước đây khó khăn trong kinh doanh có thể dễ dàng giải quyết, thì nay khi thị trường càng cởi mở, kinh nghiệm 5–10 năm của doanh nghiệp không còn là lợi thế. Trong bối cảnh kinh doanh sắp tới, áp lực cạnh tranh sẽ buộc doanh nghiệp phải thay đổi.

Ông Vũ Gia Luyện, Chủ tịch Hội đồng Doanh nhân trẻ VACOD-HBA

Khách mời (ông Vũ Gia Luyện, Chủ tịch Hội đồng Doanh nhân trẻ VACOD-HBA): Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tới 95% số lượng doanh nghiệp, nhưng khả năng tham gia vào các dự án đầu tư công và các chuỗi giá trị lớn còn khá hạn chế. Theo ông, cần có những cơ chế, chính sách gì để nâng cao năng lực của khu vực doanh nghiệp này, giúp họ tham gia sâu hơn vào các dự án và chuỗi cung ứng trong nước, qua đó đóng góp nhiều hơn vào mục tiêu tăng trưởng hai con số?

Ông Phan Đức Hiếu: Hiện nay, trong chính sách hiện hành, Nghị quyết 68 quy định rất rõ: các gói thầu dưới 20 tỷ đồng chỉ dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên, con số này đang gây tranh cãi, vì nhiều doanh nghiệp muốn tăng thêm mức trần này.

Ông Nguyễn Duy Ninh, Tổng Giám đốc Tập đoàn Hồ Gươm

Khách mời (ông Nguyễn Duy Ninh, Tổng Giám đốc Tập đoàn Hồ Gươm): Hiện nay, khu vực FDI đóng góp rất lớn vào tăng trưởng và xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, mức độ tham gia của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp FDI vẫn còn khá hạn chế, khiến hiệu ứng lan tỏa về công nghệ, quản trị và năng suất chưa đạt được như kỳ vọng.

Vậy Nhà nước đã có những cơ chế, chính sách nào để khuyến khích, thậm chí đặt ra các yêu cầu về liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước, nhằm nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, qua đó học hỏi về công nghệ, quản trị và nâng cao năng lực cạnh tranh?

Ông Vũ Văn Tích: Với doanh nghiệp vừa và nhỏ, Nhà nước hiện đã có chính sách hỗ trợ, chẳng hạn dành khoảng 20% diện tích trong các khu công nghệ cao cho nhóm doanh nghiệp này. Đây là một sự hỗ trợ tích cực.Về định hướng công nghệ, cần học hỏi kinh nghiệm của Trung Quốc. Thay vì tập trung ngay vào những lĩnh vực rất khó như sản xuất bán dẫn hay chip, có thể phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ như bo mạch điện tử và các sản phẩm phục vụ ngành bán dẫn.

Công nghệ cao cần được phát triển theo hướng phù hợp với năng lực thực tế, tương tự cách Trung Quốc đã từng làm trong giai đoạn đầu.

Quan trọng hơn, doanh nghiệp phải tự hình thành ý tưởng và hướng đi riêng cho mình. Nếu chỉ đi song song, chạy theo hoặc làm giống các doanh nghiệp lớn đi trước, sẽ rất khó tạo ra lợi thế cạnh tranh và cơ hội phát triển bền vững.

Sau thời gian trao đổi sôi nổi, cộng đồng doanh nghiệp tại hội nghị tin tưởng rằng, khi chính sách tiếp tục đóng vai trò mở đường, doanh nghiệp Việt Nam sẽ có cơ hội bứt phá mạnh mẽ, tạo đà cho một giai đoạn phát triển bền vững.

Có thể bạn quan tâm