Mới đây, Chính phủ ban hành Nghị định số 20/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân, trong đó hướng dẫn hoàn trả khoản hỗ trợ giảm tiền thuê đất tại khu công nghiệp, cụm công nghiệp, vườn ươm công nghệ.
Theo đó, Điều 5 của Nghị định số 20/2026/NĐ-CP đã quy định đầy đủ hình thức, trình tự, thủ tục, hồ sơ và các trường hợp liên quan đến việc hoàn trả khoản hỗ trợ giảm tiền thuê lại đất, bảo đảm tính minh bạch, thống nhất trong quá trình thực hiện trên phạm vi cả nước.
ĐIỀU KIỆN, ĐỐI TƯỢNG VÀ HÌNH THỨC HOÀN TRẢ KHOẢN HỖ TRỢ GIẢM TIỀN THUÊ ĐẤT
Nghị định số 20/2026/NĐ-CP xác định rõ trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc công khai chính sách. Cụ thể, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm công khai trên cổng thông tin điện tử của mình về mức giảm tiền thuê lại đất theo quy định tại khoản 6 Điều 7 Nghị quyết số 198/2025/QH15, áp dụng cho các đối tượng được hỗ trợ.
Về đối tượng được hoàn trả khoản hỗ trợ, khoản 2 Điều 5 quy định chủ đầu tư dự án đầu tư và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp, vườn ươm công nghệ (sau đây gọi là chủ đầu tư) được hoàn trả khoản tiền đã giảm khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện. Theo đó, chủ đầu tư phải có quỹ đất dành cho các doanh nghiệp thuộc diện được hỗ trợ thuê lại theo quyết định của UBND cấp tỉnh; đã ký hợp đồng cho thuê đất với doanh nghiệp, trong đó thể hiện rõ mức giá thuê lại đất đã được giảm; và đã được doanh nghiệp thanh toán tiền thuê lại đất theo hợp đồng trong năm đề nghị hoàn trả.
Thời điểm đề nghị hoàn trả cũng được quy định chặt chẽ: không quá 12 tháng kể từ thời điểm thanh toán tiền thuê lại đất theo hợp đồng đã ký. Quy định này nhằm bảo đảm việc hoàn trả được thực hiện kịp thời, đúng kỳ ngân sách, tránh phát sinh vướng mắc trong quản lý tài chính công.
Đối với doanh nghiệp được hưởng hỗ trợ giảm tiền thuê đất, khoản 3 Điều 5 nêu rõ ba nhóm đối tượng chính. Thứ nhất là doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp công nghệ cao và thuộc khu vực kinh tế tư nhân. Thứ hai là doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thứ ba là doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo được công nhận theo Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Việc xác định rõ nhóm đối tượng này giúp chính sách hỗ trợ đi đúng trọng tâm, ưu tiên các doanh nghiệp có vai trò động lực trong phát triển kinh tế.
Về hình thức hoàn trả, Nghị định quy định hai phương thức. Một là thanh toán bù trừ vào số tiền thuê đất mà chủ đầu tư phải nộp trong năm, áp dụng đối với trường hợp chủ đầu tư trả tiền thuê đất hằng năm và chưa thực hiện nghĩa vụ nộp. Trường hợp khoản giảm lớn hơn số tiền phải nộp, phần chênh lệch sẽ được hoàn trả từ ngân sách nhà nước. Hai là hoàn trả trực tiếp từ ngân sách nhà nước đối với trường hợp chủ đầu tư đã nộp đủ tiền thuê đất hoặc được miễn toàn bộ tiền thuê đất cho cả thời hạn thuê.
Nguồn kinh phí thực hiện chính sách được bố trí từ ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, theo tỷ lệ phân chia tiền thuê đất giữa các cấp ngân sách, phù hợp với quy định của Luật Ngân sách nhà nước.
TRÌNH TỰ, HỒ SƠ HOÀN TRẢ VÀ CÁC TRƯỜNG HỢP PHẢI THU HỒI KHOẢN HỖ TRỢ
Để bảo đảm tính thống nhất trong thực hiện, khoản 6 Điều 5 Nghị định số 20/2026/NĐ-CP quy định chi tiết trình tự, thủ tục hoàn trả. Theo đó, chủ đầu tư gửi một bộ hồ sơ đến Sở Tài chính bằng một trong ba hình thức: nộp trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính hoặc nộp trực tuyến trên Cổng dịch vụ công quốc gia.
Trong trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ, Sở Tài chính có trách nhiệm thông báo cho chủ đầu tư trong thời hạn 3 ngày làm việc để hoàn thiện. Sau khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, trong thời hạn 7 ngày làm việc, Sở Tài chính tiến hành thẩm định và báo cáo UBND cấp tỉnh xem xét, quyết định việc hoàn trả. Thời gian doanh nghiệp bổ sung, hoàn thiện hồ sơ không tính vào thời hạn giải quyết.
Tiếp đó, trong vòng 3 ngày làm việc kể từ khi nhận được báo cáo của Sở Tài chính, UBND cấp tỉnh ban hành quyết định chấp thuận số tiền và hình thức hoàn trả. Căn cứ quyết định này, Sở Tài chính phối hợp với Kho bạc Nhà nước hoặc cơ quan thuế để thực hiện hoàn trả hoặc bù trừ theo quy định. Trường hợp bù trừ, cơ quan thuế thực hiện hạch toán trong thời hạn 02 ngày làm việc; trường hợp hoàn trả từ ngân sách, Kho bạc Nhà nước thực hiện chuyển tiền trong thời hạn 03 ngày làm việc.
Về hồ sơ đề nghị hoàn trả, khoản 7 Điều 5 quy định khá chi tiết, bao gồm: văn bản đề nghị hoàn trả theo mẫu; giấy xác nhận thông tin của doanh nghiệp thuê lại đất kèm các giấy tờ chứng minh doanh nghiệp thuộc diện được hỗ trợ; hợp đồng thuê đất đã ký; hóa đơn, chứng từ chứng minh việc thanh toán tiền thuê lại đất; và các giấy tờ liên quan đến nghĩa vụ nộp tiền thuê đất của chủ đầu tư. Đối với hồ sơ nộp trực tuyến, các giấy tờ được nộp dưới dạng điện tử và có giá trị pháp lý tương đương hồ sơ giấy.
Bên cạnh các quy định về hoàn trả, Nghị định cũng quy định rõ các trường hợp doanh nghiệp phải hoàn trả lại khoản hỗ trợ đã được hưởng. Trong thời gian 05 năm được hỗ trợ, nếu doanh nghiệp vi phạm pháp luật về đầu tư, đất đai dẫn đến chấm dứt dự án hoặc bị thu hồi đất, doanh nghiệp phải hoàn trả toàn bộ số tiền đã được hỗ trợ trong thời hạn không quá 1 tháng. Trường hợp chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho đối tượng không thuộc diện được hỗ trợ, nghĩa vụ hoàn trả cũng được áp dụng tương tự. Nếu quá thời hạn này, doanh nghiệp phải nộp tiền chậm nộp theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Ngoài ra, trường hợp doanh nghiệp đã được hỗ trợ nhưng sau thanh tra, kiểm tra, kiểm toán bị phát hiện không thuộc diện được giảm tiền thuê đất, doanh nghiệp phải hoàn trả toàn bộ số tiền đã được hỗ trợ kèm theo tiền chậm nộp. Thời gian tính tiền chậm nộp được xác định từ thời điểm doanh nghiệp nhận hỗ trợ đến khi có quyết định thu hồi của cơ quan có thẩm quyền.
Có thể thấy, Nghị định số 20/2026/NĐ-CP đã thiết lập một khung pháp lý tương đối đầy đủ, minh bạch cho việc hoàn trả khoản hỗ trợ giảm tiền thuê đất. Việc quy định rõ đối tượng, điều kiện, trình tự và trách nhiệm hoàn trả không chỉ giúp chính sách hỗ trợ đi vào thực chất, mà còn góp phần nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách, bảo đảm công bằng và kỷ cương pháp luật trong quá trình phát triển kinh tế tư nhân.