Giá nông sản hôm nay (15/9): Giá thịt lợn hơi dao động trong khoảng 57.000 - 59.000 đồng/kg, cà phê đi ngang

Bản tin cập nhật những thông tin đáng chú ý trên thị trường nông sản; giá cả các mặt hàng chủ lực như thịt lợn, lúa gạo, cà phê, hồ tiêu…

Ngày 15/9, giá các mặt hàng nông sản chủ lực có xu hướng biến động không đáng kể tại thị trường trong nước.

GIÁ GẠO ỔN ĐỊNH

Giá lúa gạo hôm nay (15/9) tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ít biến động, giao dịch mua bán vẫn chậm. Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam giữ ổn định, còn nhu cầu nhập khẩu lớn của Philippines tiếp tục tạo triển vọng cho xuất khẩu gạo Việt.

Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi OM 18 hôm nay dao động ở mốc 6.400 - 6.600 đồng/kg; lúa tươi Đài Thơm 8 dao động ở mốc 6.300 - 6.400 đồng/kg; lúa tươi OM 5451 dao động ở mốc 6.100 - 6.300 đồng/kg; lúa tươi IR 50404 dao động ở mức 6.000 - 6.200 đồng/kg; lúa tươi OM 34 dao động ở mốc 5.800 - 5.900 đồng/kg.

Giá lúa gạo hôm nay tại Đồng bằng sông Cửu Long ổn định

Tại các địa phương hôm nay, giao dịch mới chậm, nguồn cung đã giảm nhiều, giá lúa vững. Tại An Giang, giao dịch mua bán chậm, giá lúa chững. Tại Cà Mau, nguồn cung lúa về khá, sức mua được duy trì với lúa Đài Thơm 8, giá vững Tại Đồng Tháp, Tây Ninh, Cần Thơ, Vĩnh Long, giao dịch mua bán mới ít, giá lúa chững.

Tương tự với mặt hàng gạo, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 hôm nay dao động ở mức 8.650 - 8.750 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động ở mức 8.650 - 8.750 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 5451 dao động ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.

Với phụ phẩm, giá các mặt hàng phụ phẩm dao động khoảng từ 7.450 - 8.750 đồng/kg. Hiện tấm thơm dao động ở mức 8.650 - 8.750 đồng/kg; giá cám dao động ở mức 7.450 - 7.600 đồng/kg.

Tại các chợ lẻ, giá gạo đứng giá. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 17.000 - 18.000 đồng/kg; gạo Đài thơm dao động 15.500 - 16.500 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; giá gạo thường dao động ở mốc 13.500 - 15.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg; gạo OM 18 dao động ở mốc 15.500 - 16.500 đồng/kg.

Phân khúc nếp bình ổn. Cụ thể, giá nếp 3 tháng khô 9.600 - 9.700 đồng/kg; giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg.

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu Việt Nam đứng giá. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm dao động trong khoảng 470 - 480 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm dao động từ 373 - 377 USD/tấn; gạo Jasmine được chào bán ở mức 534 - 538 USD/tấn.

Tại Thái Lan, giá gạo trắng 5% tấm đang được chào giá cao nhất, khoảng 453 - 457 USD/tấn. Trong khi đó, sản phẩm cùng loại của Pakistan có giá 406 - 410 USD/tấn.

Ấn Độ vẫn giữ lợi thế cạnh tranh về giá khi gạo trắng 5% tấm chỉ ở mức 364 - 368 USD/tấn, gạo đồ 5% tấm hiện khoảng 370 - 374 USD/tấn.

Thị trường gạo Philippines đang xuất hiện tín hiệu đáng chú ý khi tồn kho giảm nhanh trong lúc rủi ro thời tiết ngày càng rõ nét. Theo PSA, lượng gạo dự trữ đến ngày 1/8 chỉ còn 2,18 triệu tấn, giảm 6% so với cùng kỳ và giảm tới 13,3% so với tháng 7. Đáng lo hơn, lượng gạo tại NFA giảm hơn 32%, xuống 306.820 tấn, khiến dư địa can thiệp thị trường của Chính phủ bị thu hẹp trước nguy cơ El Niño.

Áp lực này diễn ra trong bối cảnh sản xuất nội địa chưa cho thấy khả năng bù đắp thiếu hụt. Bộ trưởng Nông nghiệp Francisco Tiu Laurel ước tính Philippines có thể thiếu khoảng 900.000 tấn gạo cho tiêu dùng trong năm nay và đang tính phương án nhập tới 5 triệu tấn, mức cao kỷ lục.

Đáng chú ý, nhu cầu nhập khẩu lớn đang tiếp tục củng cố vị thế của Việt Nam. BPI ghi nhận Philippines đã nhập 3,46 triệu tấn gạo tính đến 13/8, trong đó Việt Nam cung cấp 2,56 triệu tấn, tương đương 74%. Đây vừa là cơ hội mở rộng xuất khẩu, vừa cho thấy mức độ phụ thuộc ngày càng lớn của Manila vào nguồn cung bên ngoài.

GIÁ CÀ PHÊ ĐI NGANG

Giá cà phê hôm nay 15/9 tại khu vực Tây Nguyên tiếp tục đi ngang, với mặt bằng thu mua dao động trong khoảng 94.700 - 95.300 đồng/kg.

Trong đó, Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) là địa phương có giá cao nhất khu vực, đạt 95.300 đồng/kg. Tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cà phê cùng được duy trì ở mức 95.200 đồng/kg. Lâm Đồng tiếp tục đứng thấp nhất với 94.700 đồng/kg.

Giá cà phê đi ngang

Mặc dù không có biến động mới nhưng giá cà phê nội địa hiện vẫn cao hơn 300 - 500 đồng/kg so với một tuần trước. Diễn biến này chủ yếu được hỗ trợ bởi những lo ngại mưa lớn tại Tây Nguyên có thể ảnh hưởng đến vùng trồng khi vụ thu hoạch mới đang đến gần.

Trên thị trường thế giới, hai chủng loại cà phê chính có diễn biến trái chiều. Cụ thể, trên sàn London, giá cà phê Robusta giao tháng 11/2026 tăng 2,8%, tương đương 95 USD/tấn, lên 3.525 USD/tấn. Hợp đồng tháng 1/2027 cũng tăng 2,7%, tương đương 93 USD/tấn, đạt 3.508 USD/tấn.

Ngược lại, trên sàn New York, giá cà phê Arabica chịu sức ép đáng kể. Hợp đồng tháng 12/2026 giảm 3,3%, tương đương 9,9 US cent/pound, xuống 285,7 US cent/pound. Hợp đồng tháng 3/2027 giảm 3,5%, còn 277,2 US cent/pound.

GIÁ HỒ TIÊU NEO CAO

Giá tiêu hôm nay tại các vùng sản xuất trọng điểm tiếp tục ổn định, dao động trong khoảng 137.000 - 141.000 đồng/kg, không thay đổi so với phiên trước.

Trong đó, Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) tiếp tục dẫn đầu với mức thu mua 141.000 đồng/kg. Đắk Lắk đứng ngay sau với 140.000 đồng/kg.

Giá tiêu hôm nay dao động trong khoảng 137.000 - 141.000 đồng/kg

Tại Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh), giá tiêu được duy trì ở 137.500 đồng/kg. Gia Lai và Đồng Nai cùng giao dịch ở mức thấp nhất là 137.000 đồng/kg.

Mặc dù không xuất hiện biến động mới, mặt bằng giá hiện nay vẫn cao hơn đáng kể so với cuối tuần trước. Trong tuần vừa qua, giá tiêu tại các vùng trọng điểm đã tăng từ 2.000 - 4.000 đồng/kg.

Trên thị trường thế giới, giá hồ tiêu tại các quốc gia sản xuất lớn cũng tương đối ổn định. Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, tiêu đen Indonesia hiện được chào bán ở mức 6.939 USD/tấn. Tiêu đen ASTA 570 của Brazil đứng ở 5.750 USD/tấn, còn Malaysia đạt 9.300 USD/tấn.

Tại Việt Nam, tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l và 550 g/l được giao dịch trong khoảng 6.070 - 6.130 USD/tấn.

Đối với tiêu trắng, tiêu Muntok của Indonesia hiện có giá 9.500 USD/tấn. Giá tiêu trắng Việt Nam và Malaysia lần lượt đứng ở 8.450 USD/tấn và 12.200 USD/tấn.

GIÁ CAO SU ỔN ĐỊNH

Trong nước, giá thu mua cao su tại các doanh nghiệp tiếp tục được duy trì ổn định. Cụ thể, tại Công ty Cao su Bà Rịa cũng báo giá thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 14.600 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.

Công ty Bình Long, giá cao su thu mua tại Nhà máy ở mức 540 đồng/độ TSC/kg và giá thu mua tại đội sản xuất 530 đồng/TSC/kg; giá mủ tạp (DRC 60%) bình ổn 18.000 đồng/kg.

Giá cao su tại các doanh nghiệp lớn tại thị trường trong nước bình ổn

Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước ghi nhận khoảng 458 - 463 đồng/TSC (loại 2 - loại 1), mủ đông tạp khoảng 404 - 459 đồng/DRC (loại 2 - loại 1).

Công ty Phú Riềng, chào giá thu mua mủ tạp bình ổn ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.

Kết thúc phiên giao dịch, giá cao su RSS3 trên sàn TOCOM (Tokyo) - Nhật Bản hợp đồng giao tháng 9 đi ngang ở mức 500,10 Yên/kg. Hợp đồng giao tháng 10 ở mức 464,20 Yên/kg, tăng 1,35%.

Tại Thái Lan, giá chào xuất khẩu cao su RSS3 (FOB Laem Chabang) tăng nhẹ 0,03 Baht lên mức 92,4 Baht/kg.

Trên Sàn Giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải (SHFE) - Trung Quốc, giá cao su tự nhiên hợp đồng giao tháng 9 ở mức 18.400 Nhân dân tệ/tấn, giảm 0,89%. Hợp đồng giao tháng 10 ở mức 18.320 Nhân dân tệ/tấn, giảm 0,87%.

Trên Sàn Giao dịch SGX - Singapore, hợp đồng TSR20 kỳ hạn tháng 10 ở mức 241,50 Cent/kg, giảm 0,70%. Hợp đồng kỳ hạn tháng 11 ở mức 240,20 Cent/kg, giảm 0,66%.

Giá cao su hôm nay giảm trên phần lớn kỳ hạn tại 2 sàn chủ chốt tại châu Á. Trên sàn SHFE mất gần 1%; sàn SGX giảm 0,66% - 0,70%; mức tăng 1,35% của hợp đồng tháng 10 trên sàn TOCOM chưa đủ đảo chiều xu hướng ở các kỳ hạn xa. Sắc đỏ trải rộng cho thấy lực mua vẫn dè dặt, khiến thị trường bước vào những phiên tiếp theo với áp lực điều chỉnh chưa hoàn toàn được giải tỏa.

Trong báo cáo mới nhất của Hiệp hội Các nước sản xuất cao su tự nhiên (ANRPC), nguồn cung cao su tự nhiên thế giới đang đứng trước nhiều yếu tố bất lợi khi thời tiết tiếp tục diễn biến khó lường, trong lúc nhu cầu tiêu thụ vẫn duy trì xu hướng tăng. Đây là một trong những điểm đáng chú ý.

Theo ANRPC, sản lượng cao su tự nhiên toàn cầu tháng 7/2026 ước đạt 1,321 triệu tấn, thấp hơn 5,15% so với cùng kỳ năm trước. Ngược lại, nhu cầu tiêu thụ đạt khoảng 1,297 triệu tấn, tăng 0,8%.

ANRPC dự báo, trong năm 2026, sản lượng cao su tự nhiên toàn cầu đạt 15,279 triệu tấn, tăng 2,1% so với 14,971 triệu tấn năm 2025.

GIÁ THỊT LỢN ĐI NGANG

Tại miền Bắc, giá lợn hơi hôm nay duy trì trong khoảng 58.000 - 59.000 đồng/kg, tiếp tục là khu vực có mặt bằng giá cao nhất cả nước.

Cụ thể, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Phòng, Ninh Bình, Lai Châu, Phú Thọ, Sơn La và Hưng Yên cùng được thương lái thu mua ở mức 59.000 đồng/kg.

Trong khi đó, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai và Điện Biên tiếp tục đứng ở mức 58.000 đồng/kg.

Như vậy, sau đợt giảm tại một số địa phương trong tuần trước khiến mốc 60.000 đồng/kg biến mất, thị trường miền Bắc đang tạm thời ổn định ở vùng giá mới. Khoảng cách giữa mức cao nhất và thấp nhất trong khu vực hiện chỉ còn 1.000 đồng/kg.

Tại Miền Trung - Tây Nguyên, giá lợn hơi hôm nay cũng không xuất hiện biến động mới. Giá được duy trì trong khoảng 57.000 - 58.000 đồng/kg.

Trong đó, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị và Lâm Đồng cùng giữ mức 58.000 đồng/kg. Các địa phương còn lại giao dịch ở mức 57.000 đồng/kg.

Tại miền Nam, giá lợn hơi hôm nay tiếp tục ổn định, với giá thu mua phổ biến quanh hai mức 57.000 đồng/kg và 58.000 đồng/kg.

Cụ thể, Đồng Nai, Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang, TP Hồ Chí Minh, Vĩnh Long và Cần Thơ cùng duy trì mức 58.000 đồng/kg. Cà Mau tiếp tục là địa phương có giá thấp nhất khu vực và cũng thuộc nhóm thấp nhất cả nước, với 57.000 đồng/kg.

Như vậy, giá lợn hơi tại cả ba miền chưa xuất hiện tín hiệu biến động mới. Miền Bắc dao động từ 58.000 - 59.000 đồng/kg, trong khi miền Trung - Tây Nguyên và miền Nam cùng duy trì khoảng 57.000 - 58.000 đồng/kg.

Mức chênh lệch giữa giá cao nhất và thấp nhất trên toàn quốc hiện chỉ còn 2.000 đồng/kg.

So với đầu tuần trước, mặt bằng giá hiện tại đã có sự thay đổi đáng chú ý tại miền Bắc. Khi đó, Hà Nội, Hưng Yên, Thái Nguyên và Phú Thọ từng đạt 60.000 đồng/kg. Sau một số phiên điều chỉnh, mức giá này đã không còn xuất hiện và trần thị trường hiện hạ xuống 59.000 đồng/kg.

Trong khi đó, miền Trung - Tây Nguyên và miền Nam vẫn cho thấy sự ổn định tương đối. Việc giá lợn hơi chững lại trên diện rộng cho thấy thị trường đang tạm thời cân bằng sau những phiên điều chỉnh cục bộ trước đó.

Trước mắt, 57.000 - 59.000 đồng/kg vẫn là vùng giá chủ đạo của thị trường. Diễn biến nguồn cung, nhu cầu tiêu thụ và tình hình dịch bệnh trên đàn vật nuôi sẽ tiếp tục là những yếu tố đáng chú ý trong các phiên tới.

Theo khảo sát từ trang winmart.vn giá thịt lợn ghi nhận giữ giá ổn định, niêm yết trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg. Cụ thể, thịt lợn xay là sản phẩm có giá bán thấp nhất, duy trì mức 102.322 đồng/kg. Tiếp đó là các sản phẩm thịt nạc đùi, nạc vai lợn và chân giò rút xương, với giá bán lần lượt là 122.320 đồng/kg, 126.320 đồng/kg và 127.922 đồng/kg.

Như vậy, giá thịt lợn tại WinMart hiện dao động trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg và được giảm giá 20% theo chương trình ưu đãi dành cho hội viên của WinMart.

Có thể bạn quan tâm