Giá nông sản hôm nay (7/9): Giá cà phê đảo chiều giảm, thịt lợn hơi tăng nhẹ

Bản tin cập nhật những thông tin đáng chú ý trên thị trường nông sản; giá cả các mặt hàng chủ lực như thịt lợn, lúa gạo, cà phê, hồ tiêu…

0:00 / 0:00
0:00
Giá nông sản hôm nay (7/9): Giá cà phê đảo chiều giảm, thịt lợn hơi tăng nhẹ

Ngày 7/9, giá các mặt hàng nông sản chủ lực có xu hướng biến động không đáng kể tại thị trường trong nước.

GIÁ GẠO ÍT BIẾN ĐỘNG

Giá lúa gạo hôm nay (7/9) tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ít biến động, giao dịch mua bán vắng. Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu Việt Nam đi ngang.

Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 hôm nay dao động ở mức 8.700 - 8.800 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động ở mức 8.700 - 8.800 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 5451 dao động ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.

image-1.jpg
Giá lúa gạo hôm nay tại Đồng bằng sông Cửu Long ổn định

Với phụ phẩm, giá các mặt hàng phụ phẩm dao động khoảng từ 7.450 - 8.750 đồng/kg. Hiện tấm thơm dao động ở mức 8.650 - 8.750 đồng/kg; giá cám dao động ở mức 7.450 - 7.550 đồng/kg.

Tại các chợ lẻ giá gạo ổn định so với cuối tuần. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 17.000 - 18.00 đồng/kg; gạo Đài thơm dao động 15.500 - 16.500 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; giá gạo thường dao động ở mốc 13.500 - 15.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg; gạo OM 18 dao động ở mốc 15.500 - 16.500 đồng/kg.

Phân khúc nếp duy trì ổn định. Cụ thể, giá nếp 3 tháng khô 9.600 - 9.700 đồng/kg; giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg.

Với mặt hàng lúa, giá lúa tươi OM 34 hôm nay dao động mốc 5.800 - 5.900 đồng/kg; lúa tươi OM 18 dao động ở mốc 6.500 - 6.700 đồng/kg; lúa tươi Đài Thơm 8 dao động ở mốc 6.500 - 6.700 đồng/kg; giá lúa OM 5451 (tươi) dao động mốc 6.400 - 6.500 đồng/kg; lúa tươi IR 50404 dao động ở mức 6.200 - 6.400 đồng/kg.

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu Việt Nam đi ngang. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm dao động trong khoảng 470 - 480 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm dao động từ 373 - 377 USD/tấn; gạo Jasmine được chào bán ở mức 534 - 538 USD/tấn.

Trên thị trường thế giới, giá gạo 5% tấm tại Thái Lan dao động 453 - 457 USD/tấn, gạo 100% tấm dao động từ 366 - 370 USD/tấn.

Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm dao động ở mức 364 - 368 USD/tấn, còn gạo 100% tấm dao động 304 - 308 USD/tấn.

GIÁ CÀ PHÊ GIẢM

Giá cà phê hôm nay tại khu vực Tây Nguyên dao động trong khoảng 94.200 - 95.000 đồng/kg, giảm 300 - 400 đồng/kg so với cuối tuần trước. Đây là tuần giảm thứ hai liên tiếp của thị trường nội địa.

Cụ thể, giá cà phê tại Lâm Đồng giảm 400 đồng/kg trong tuần qua, xuống còn 94.200 đồng/kg, thấp nhất trong số các địa phương được khảo sát. Tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá thu mua cùng giảm 400 đồng/kg, hiện đứng ở 94.700 đồng/kg.

Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) giảm nhẹ hơn, khoảng 300 đồng/kg, xuống 95.000 đồng/kg. Dù vậy, đây vẫn là mức giá cao nhất tại khu vực Tây Nguyên. Như vậy, ngoại trừ Đắk Nông còn đứng đúng mốc 95.000 đồng/kg, các địa phương còn lại được khảo sát đều đã xuống dưới ngưỡng này.

Diễn biến trong nước cùng chiều với xu hướng giảm mạnh trên các sàn giao dịch quốc tế trong tuần qua.

Tại London, giá cà phê Robusta giao tháng 9/2026 kết thúc tuần ở mức 3.344 USD/tấn, giảm 4,2%, tương đương 148 USD/tấn so với tuần trước. Hợp đồng giao tháng 11/2026 giảm 2,8%, tương đương 99 USD/tấn, xuống 3.430 USD/tấn.

Mức giảm còn mạnh hơn trên thị trường Arabica. Tại New York, hợp đồng giao tháng 9/2026 mất tới 6,2%, tương đương 21,6 US cent/pound, xuống còn 324,25 US cent/pound. Hợp đồng Arabica giao tháng 12/2026 giảm 5,5%, tương đương 17,3 US cent/pound, chốt tuần ở 295,6 US cent/pound.

GIÁ TIÊU ỔN ĐỊNH

Giá tiêu hôm nay tại các vùng sản xuất trọng điểm tiếp tục duy trì trạng thái ổn định, khép lại một tuần gần như không có biến động đáng kể. Mặt bằng thu mua hiện phổ biến trong khoảng 135.000 - 137.000 đồng/kg.

Trong đó, Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) tiếp tục là địa phương có mức giá cao nhất với 137.000 đồng/kg. Đứng tiếp theo là Đắk Lắk với 136.500 đồng/kg. Tại Đồng Nai, Gia Lai và Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh), giá tiêu cùng duy trì ở 135.000 đồng/kg, thấp nhất trong số các địa phương được khảo sát.

gia-tieu-hom-nay-2910-duy-tri-da-tang-neo-o-muc-cao-nhat-3-thang-177635.jpg
Giá tiêu hôm nay tại các vùng sản xuất trọng điểm tiếp tục duy trì trạng thái ổn định

Như vậy, giá tiêu nội địa gần như đi ngang trong suốt tuần qua. Khoảng cách giữa mức cao nhất và thấp nhất tiếp tục duy trì ở 2.000 đồng/kg.

Trên thị trường quốc tế, diễn biến có sự phân hóa rõ hơn. Theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, giá tiêu đen Indonesia tăng 0,46%, tương đương 32 USD/tấn trong tuần qua, lên 6.929 USD/tấn.

Ngược chiều, tiêu đen ASTA 570 của Brazil giảm 0,86%, tương đương 50 USD/tấn, xuống còn 5.750 USD/tấn. Giá tiêu đen Malaysia không thay đổi so với cuối tuần trước, tiếp tục được chào bán ở mức 9.300 USD/tấn.

Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu cũng duy trì ổn định trong khoảng 5.990 - 6.050 USD/tấn đối với các chủng loại có dung trọng 500 g/l và 550 g/l.

Đối với tiêu trắng, giá tiêu trắng Muntok của Indonesia tăng 0,47%, tương đương 44 USD/tấn, lên mức 9.487 USD/tấn. Trong khi đó, tiêu trắng Việt Nam và Malaysia lần lượt giữ nguyên ở 8.400 USD/tấn và 12.200 USD/tấn.

GIÁ CAO SU BÌNH ỔN

Tại thị trường nội địa, giá cao su tại các doanh nghiệp lớn bình ổn. Theo đó, tại Công ty Cao su Bà Rịa cũng báo giá thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 14.600 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.

xuat-khau-cao-su-trien-vong-tu-cac-thi-truong-lon-102221125101938615.jpg
Giá cao su tại các doanh nghiệp lớn tại thị trường trong nước bình ổn

Công ty Bình Long, giá cao su thu mua tại Nhà máy ở mức 540 đồng/độ TSC/kg và giá thu mua tại đội sản xuất 530 đồng/TSC/kg; giá mủ tạp (DRC 60%) bình ổn 18.000 đồng/kg.

Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước ghi nhận khoảng 458 - 463 đồng/TSC (loại 2-loại 1), mủ đông tạp khoảng 404 - 459 đồng/DRC (loại 2-loại 1).

Công ty Phú Riềng, chào giá thu mua mủ tạp bình ổn ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.

Kết thúc phiên giao dịch, giá cao su RSS3 trên sàn TOCOM (Tokyo) - Nhật Bản có sự phân hóa giữa các kỳ hạn. Hợp đồng tháng 9 tăng 5,20 Yên/kg, tương đương 1,13%, lên 458,80 Yên/kg. Kỳ hạn tháng 10 giữ nguyên ở mức 439 Yên/kg, trong khi hợp đồng tháng 11 giảm 1,20 Yên/kg, tương đương 0,28%, xuống 428,80 Yên/kg.

Trên Sàn Giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải (SHFE) - Trung Quốc, giá cao su tự nhiên đồng loạt đi lên. Cụ thể, hợp đồng giao tháng 9 tăng 380 Nhân dân tệ/tấn, tương đương 2,12%, lên 18.295 Nhân dân tệ/tấn. Kỳ hạn tháng 10 tăng 325 Nhân dân tệ/tấn, tương đương 1,81%, đạt 18.270 Nhân dân tệ/tấn. Hợp đồng tháng 11 tăng 360 Nhân dân tệ/tấn, tương đương 2%, lên 18.320 Nhân dân tệ/tấn.

Trên Sàn Giao dịch SGX - Singapore, hợp đồng TSR20 kỳ hạn tháng 10 ở mức 236,50 Cent/kg, tăng 1,63%. Hợp đồng kỳ hạn tháng 11 ở mức 235,80 Cent/kg, tăng 1,81%.

Khép lại phiên giao dịch, thị trường cao su châu Á chưa cho thấy một xu hướng thống nhất. Trên TOCOM, giá RSS3 biến động trái chiều giữa các kỳ hạn, trong khi sàn SHFE và sàn SGX nổi bật với sắc xanh đồng loạt. Diễn biến này cho thấy lực hỗ trợ tại thị trường Trung Quốc và Singapore đang rõ nét hơn so với Nhật Bản.

GIÁ THỊT LỢN TĂNG NHẸ

Giá lợn hơi hôm nay khép lại một tuần với diễn biến ổn định đến tăng nhẹ trên cả nước. Đáng chú ý, miền Bắc phục hồi trở lại sau nhịp giảm đầu tuần, đưa mức giá cao nhất lên 60.000 đồng/kg.

Trong tuần qua, thị trường phía Bắc có sự giằng co khá rõ. Giá lợn hơi giảm nhẹ tại một số địa phương trong những ngày đầu tuần, khiến mốc 60.000 đồng/kg tạm thời biến mất khỏi thị trường.

cach-chon-thit-lon-thom-ngon-cuc-pham-khong-bi-nguoi-ban-hang-qua-mat-hinh-2-5791.jpg
Giá thịt lợn hơi diễn biến ổn định đến tăng nhẹ trên cả nước

Tuy nhiên, từ giữa tuần, xu hướng bắt đầu đảo chiều. Một số địa phương liên tiếp tăng 1.000 đồng/kg, đưa mặt bằng giá miền Bắc trở lại vùng 58.000 - 60.000 đồng/kg.

4 địa phương Hà Nội, Hưng Yên, Thái Nguyên và Phú Thọ cùng giao dịch ở mức 60.000 đồng/kg, cao nhất khu vực và cũng là mức cao nhất trên cả nước. Trong đó, Hà Nội và Hưng Yên là hai địa phương đầu tiên lấy lại mốc 60.000 đồng/kg. Sau đó, Thái Nguyên và Phú Thọ tiếp tục tăng lên mức tương tự trong phiên cuối tuần.

Ở chiều ngược lại, Lào Cai và Điện Biên đang có mức thấp nhất miền Bắc với 58.000 đồng/kg. Các địa phương còn lại chủ yếu giao dịch quanh ngưỡng 59.000 đồng/kg.

Như vậy, sau những phiên điều chỉnh vào cuối tháng 8 và đầu tháng 9, thị trường miền Bắc đã cho thấy tín hiệu phục hồi. Khoảng cách giữa mức cao nhất và thấp nhất khu vực hiện ở mức 2.000 đồng/kg.

Đáng chú ý, xu hướng tăng xuất hiện sau kỳ nghỉ lễ Quốc khánh, khi hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng trở lại bình thường. Tuy nhiên, mức tăng hiện vẫn mang tính cục bộ và chưa xuất hiện đồng loạt tại tất cả các địa phương.

Trái với diễn biến tại miền Bắc, giá lợn hơi miền Trung - Tây Nguyên gần như không thay đổi trong tuần qua. Các thương lái trong khu vực hiện thu mua lợn hơi trong khoảng 57.000 - 58.000 đồng/kg, tương đương mức cuối tuần trước.

Cụ thể, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị và Lâm Đồng cùng duy trì mức 58.000 đồng/kg, cao nhất khu vực. Các địa phương còn lại tiếp tục giao dịch ở 57.000 đồng/kg.

Miền Trung - Tây Nguyên cũng là khu vực có biên độ giá hẹp nhất hiện nay, khi chênh lệch giữa mức cao nhất và thấp nhất chỉ 1.000 đồng/kg.

Trong nhiều phiên gần đây, giá tại khu vực này gần như đứng yên, cho thấy cung - cầu chưa xuất hiện thay đổi đủ lớn để tạo ra một xu hướng mới.

Tại miền Nam, thị trường có phần tích cực hơn khi một số địa phương tăng nhẹ so với cuối tuần trước.

Cụ thể, Đồng Tháp và An Giang cùng tăng 1.000 đồng/kg, từ 57.000 đồng/kg lên 58.000 đồng/kg. Các địa phương còn lại không ghi nhận thay đổi đáng kể.

Hiện phần lớn các tỉnh, thành được khảo sát tại miền Nam cùng giao dịch ở mức 58.000 đồng/kg. Cà Mau là địa phương duy nhất còn đứng ở 57.000 đồng/kg, thấp nhất khu vực.

Như vậy, mặt bằng giá miền Nam hiện dao động trong khoảng 57.000 - 58.000 đồng/kg. Việc Đồng Tháp và An Giang tăng giá đã giúp thu hẹp đáng kể chênh lệch giữa các địa phương trong khu vực.

Xem thêm

Có thể bạn quan tâm

Doanh nghiệp Việt cần kiểm soát chặt chẽ xuất xứ trước yêu cầu mới về truy xuất nguồn gốc của Hoa Kỳ

Doanh nghiệp Việt cần kiểm soát chặt chẽ xuất xứ trước yêu cầu mới về truy xuất nguồn gốc của Hoa Kỳ

Mới đây, Hoa Kỳ ban hành Bản ghi nhớ gửi Đại diện Thương mại Hoa Kỳ về các hành động theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974 liên quan đến việc chưa ban hành hoặc chưa thực thi hiệu quả lệnh cấm nhập khẩu hàng hóa được sản xuất toàn bộ hoặc một phần bằng lao động cưỡng bức...

Mỹ phẩm giả - Phải chuyển từ “đi bắt” sang quản lý bằng dữ liệu

Mỹ phẩm giả - Phải chuyển từ “đi bắt” sang quản lý bằng dữ liệu

Muốn chặn cho mỹ phẩm giả hết đất sống, cơ quan chức năng cần chuyển từ tư duy “quản lý sản phẩm” sang quản lý cả chuỗi cung ứng, dữ liệu và hành vi kinh doanh trên môi trường số. Doanh nghiệp cần nêu cao trách nhiệm, đồng thời người tiêu dùng cần thay đổi cách tiêu thụ sản phẩm...

Giá xăng, dầu bật tăng trở lại

Giá xăng, dầu bật tăng trở lại

Chiều 20/8, giá xăng dầu trong nước tăng trở lại, có ảnh hưởng từ thị trường quốc tế, cơ quan điều hành không trích lập Quỹ Bình ổn giá...

Mỹ phẩm giả - Tiền mất, da hỏng

Mỹ phẩm giả - Tiền mất, da hỏng

Những vụ án mỹ phẩm giả bị phát hiện và bắt giữ trong thời gian qua cho thấy những hành vi vi phạm không còn là hành vi gian lận nhỏ lẻ mà đã trở thành loại tội phạm kinh tế có tổ chức, lợi dụng công nghệ số và tâm lý tiêu dùng để thu lợi bất chính...