Các vụ việc liên tiếp được lực lượng chức năng phát hiện cho thấy cuộc chiến với mỹ phẩm vi phạm không chỉ là câu chuyện liên quan đến mỹ phẩm giả, mỹ phẩm nhái, mà đáng lo hơn là những sản phẩm được sản xuất "chui", kém chất lượng được sản xuất trong các cơ sở có tên tuổi, có pháp nhân, có hồ sơ nhưng vẫn lọt qua các tầng kiểm soát chất lượng.
TỪ NHÀ MÁY "CHUI" ĐẾN SẢN PHẨM LỖI CHẤT LƯỢNG
Mới đây, ngày 3/9/2026 Sở Y tế TP.HCM công bố xử phạt 8 cơ sở hoạt động trong lĩnh vực dược, mỹ phẩm với tổng số tiền 324 triệu đồng. Đáng chú ý nhất là Công ty TNHH Dược phẩm Đại Hưng bị xử phạt tổng cộng 160 triệu đồng do đồng thời có hai hành vi sản xuất mỹ phẩm khi chưa được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất mỹ phẩm và sản xuất mỹ phẩm không đạt tiêu chuẩn chất lượng. Ngoài phạt tiền, doanh nghiệp còn bị cơ quan chức năng đình chỉ hoạt động sản xuất mỹ phẩm và buộc thu hồi, tiêu hủy sản phẩm vi phạm.
Sản phẩm bị thu hồi là Dầu mù u Thái Dương, chai 10 ml, số lô 250212, sản xuất ngày 28/2/2025, hạn sử dụng đến 28/2/2028. Mẫu sản phẩm do Trung tâm Kiểm nghiệm - Sở Y tế Đà Nẵng lấy mẫu và kiểm nghiệm, kết quả xác định không đạt tiêu chuẩn chất lượng về chỉ tiêu thể tích.
Đây là vụ việc đặc biệt đáng chú ý bởi hai tầng vi phạm xuất hiện cùng lúc. Tầng thứ nhất nằm ở điều kiện sản xuất: cơ sở chưa đủ điều kiện theo quy định nhưng đã tổ chức sản xuất. Tầng thứ hai nằm ở chất lượng sản phẩm: sản phẩm được đưa ra thị trường lại không đạt chỉ tiêu công bố. Nói cách khác, ở vụ việc này vấn đề không chỉ là “một chai mỹ phẩm bị lỗi”, mà là câu hỏi về toàn bộ hệ thống kiểm soát chất lượng phía sau sản phẩm đó.
Nhìn vào thị trường mỹ phẩm những năm qua thì vụ việc liên quan đến Công ty TNHH Dược phẩm Đại Hưng không phải trường hợp cá biệt. Trước đó, năm 2023 Thanh tra Sở Y tế TP.HCM từng xử phạt Công ty TNHH SX TM Healing Pro và Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển Minh Tân, mỗi doanh nghiệp 90 triệu đồng, do sản xuất mỹ phẩm khi chưa được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất mỹ phẩm. Hai cơ sở còn bị đình chỉ hoạt động sản xuất mỹ phẩm 24 tháng hoặc cho đến khi được cấp giấy chứng nhận theo quy định.
Cùng đợt, Công ty TNHH Mỹ phẩm Thanh Thanh bị phạt 70 triệu đồng vì sản xuất mỹ phẩm không đạt tiêu chuẩn chất lượng. Sản phẩm khiến doanh nghiệp này bị xử phạt là PC Whitening Cream, hộp 4 g, số lô 01, sản xuất ngày 9/6/2022, hạn sử dụng 9/6/2025, không đạt yêu cầu về chỉ tiêu khối lượng trung bình. Doanh nghiệp bị buộc thu hồi và tiêu hủy toàn bộ sản phẩm vi phạm.
Cơ chế quản lý mỹ phẩm của Việt Nam chịu ảnh hưởng từ hệ thống ASEAN, trong đó có đặc điểm quản lý dựa nhiều vào trách nhiệm của tổ chức, cá nhân đưa sản phẩm ra thị trường và hậu kiểm, thay vì kiểm duyệt trước từng sản phẩm theo cách giống thuốc. Chính vì vậy, khi hậu kiểm không đủ mạnh, khoảng cách giữa "hồ sơ đúng” và “sản phẩm thực tế” có thể xuất hiện.
Dù các cơ quan chức năng liên tục phát hiện và xử phạt, nhưng hiện nay tình trạng sản phẩm không đạt chất lượng vẫn tiếp tục xuất hiện. Tháng 7/2026, Công ty Cổ phần Đầu tư Thương mại Trường Dương bị xử phạt 70 triệu đồng do sản xuất mỹ phẩm không đạt tiêu chuẩn chất lượng. Sản phẩm là COOP SELECT Dung dịch vệ sinh phụ nữ, mẫu kiểm nghiệm không đạt chỉ tiêu giới hạn vi sinh vật, khiến doanh nghiệp bị cơ quan quản lý yêu cầu buộc phải thu hồi và tiêu hủy toàn bộ lô vi phạm.
Trước đó, cơ quan quản lý đã đình chỉ lưu hành, thu hồi sản phẩm này trên toàn tỉnh Lạng Sơn theo chỉ đạo của Cục Quản lý Dược. Hồ sơ cho thấy lô sản phẩm S2510087, sản xuất ngày 21/10/2025, hạn sử dụng đến 21/10/2027, không đạt yêu cầu về giới hạn vi sinh vật.
Đáng chú ý, trong cùng đợt xử lý năm 2026, cơ quan quản lý còn phát hiện các sản phẩm có công thức không đúng như hồ sơ đã công bố. Chẳng hạn, hai sản phẩm Botanika và Xmen for boss Intense do Công ty cổ phần Marico South East Asia sản xuất và chịu trách nhiệm đưa ra thị trường bị đình chỉ lưu hành, thu hồi do công thức thực tế không phù hợp với hồ sơ công bố.
Nếu nhìn toàn bộ các vụ việc nêu trên, chúng ta có thể dễ dàng thấy ít nhất bốn nhóm rủi ro đang tồn tại, gồm: Sản xuất khi chưa đủ điều kiện; sản xuất không đạt tiêu chuẩn chất lượng; sản xuất sai công thức hồ sơ công bố; và sử dụng nguyên liệu hoặc quy trình không đáp ứng yêu cầu. Đây là những mắt xích khác nhau nhưng lại cùng dẫn tới một điểm cuối là sản phẩm không còn bảo đảm đúng những gì người tiêu dùng được cam kết.
LỖ HỔNG KIỂM NGHIỆM, HẬU KIỂM
Một trong những điểm dễ gây nhầm lẫn trên thị trường mỹ phẩm là khái niệm sản phẩm “đã công bố”. Bởi việc một sản phẩm có số tiếp nhận Phiếu công bố sản phẩm mỹ phẩm không đồng nghĩa với việc cơ sở sản xuất được phép hoạt động mà không cần Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất.
Theo quy định hiện hành, trước khi tiến hành sản xuất, cơ sở sản xuất mỹ phẩm phải nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất mỹ phẩm tới Sở Y tế. Điều kiện sản xuất bao gồm yêu cầu về nhân sự, địa điểm, diện tích, nhà xưởng, trang thiết bị, kho bảo quản và các điều kiện phù hợp với dây chuyền, loại sản phẩm dự kiến sản xuất.
Và Nghị định 93/2016/NĐ-CP của Chính phủ đã đặt ra khung pháp lý về điều kiện sản xuất mỹ phẩm từ năm 2016. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ, một bộ hồ sơ công bố sản phẩm và một giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất là hai lớp quản lý khác nhau.
Nếu người tiêu dùng chỉ nhìn vào nhãn sản phẩm và thấy có số công bố, họ gần như không thể biết sản phẩm được sản xuất ở đâu, nhà máy có đủ điều kiện hay không, quy trình kiểm nghiệm có được thực hiện đầy đủ hay không. Đó chính là khoảng tối mà hậu kiểm cần phải lấp đầy.
Năm 2025, Cục Quản lý Dược đã phải ban hành văn bản yêu cầu tăng cường quản lý mỹ phẩm sau khi công tác hậu kiểm phát hiện nhiều sai phạm.
Trong khi đó, theo Bộ Y tế, cơ quan chức năng phát hiện tình trạng sản xuất mỹ phẩm tại cơ sở chưa được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện; sản phẩm có công thức không đúng hồ sơ công bố; doanh nghiệp thay đổi thông tin đã công bố nhưng chưa được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận; đồng thời có tổ chức, cá nhân không lưu giữ đầy đủ Hồ sơ thông tin sản phẩm (PIF).
Những phát hiện này cho thấy một nghịch lý rằng quy định có thể đầy đủ trên giấy, nhưng việc kiểm soát sự tuân thủ trong thực tế lại là câu chuyện khác. Một sản phẩm có thể được công bố với công thức A nhưng khi sản xuất thực tế lại xuất hiện khác biệt. Một cơ sở có thể đáp ứng điều kiện tại thời điểm được cấp giấy nhưng sau đó thay đổi dây chuyền, nhân sự, mặt bằng hoặc quy trình. Một doanh nghiệp có thể ký hợp đồng gia công với một nhà máy, nhưng việc kiểm soát thực tế tại cơ sở gia công không phải lúc nào cũng tương xứng với trách nhiệm của thương hiệu.
Nếu cơ quan quản lý chỉ kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm hoặc khi sản phẩm đã lưu thông trên thị trường, thì người tiêu dùng vô hình trung trở thành khâu kiểm nghiệm cuối cùng.
Vì thế, câu hỏi đặt ra là khi hậu kiểm phát hiện, hàng đã đi đâu?. Đây là câu hỏi cần được đặt ra nghiêm túc.
Với một lô mỹ phẩm không đạt chất lượng, cơ quan quản lý có thể yêu cầu đình chỉ lưu hành, thu hồi và tiêu hủy. Nhưng trước thời điểm lấy mẫu, sản phẩm có thể đã được phân phối qua nhiều đại lý, siêu thị, cửa hàng, spa, phòng khám, sàn thương mại điện tử và mạng xã hội.
Do đó, một lô sản phẩm không đạt chỉ tiêu vi sinh không chỉ nằm trong kho của nhà máy, mà nó có thể đã nằm trên kệ bán lẻ. Một sản phẩm sai công thức không chỉ là một sai lệch trên giấy tờ, mà nó có thể đồng nghĩa với việc người tiêu dùng đang sử dụng sản phẩm khác với sản phẩm mà hồ sơ công bố thể hiện.
Đây là lý do việc thu hồi không thể chỉ dừng ở một văn bản gửi tới doanh nghiệp mà cần có cơ chế truy xuất theo lô, xác định số lượng sản xuất, số lượng đã phân phối, các nhà phân phối, điểm bán và lượng hàng còn tồn.
Trước tình trạng "hỗn loạn" của thị trường mỹ phẩm, Cục Quản lý Dược cũng đã có yêu cầu các địa phương tăng cường kiểm tra tính pháp lý của cơ sở sản xuất, kinh doanh; tính hợp pháp của sản phẩm; nguồn gốc, chất lượng, ghi nhãn và hồ sơ thông tin sản phẩm. Đặc biệt, hoạt động kinh doanh mỹ phẩm trên sàn thương mại điện tử cũng được đưa vào diện kiểm tra trọng tâm.
Từ yêu cầu của Cục Quản lý Dược có thể thấy quản lý mỹ phẩm không thể chỉ đứng ở cổng nhà máy mà còn phải kéo dài đến tận kệ hàng và màn hình điện thoại của người tiêu dùng.
MỨC PHẠT CHƯA TƯƠNG XỨNG VỚI LỢI ÍCH
Từ ngày 15/5/2026, Nghị định 90/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế đã dành riêng Điều 69 cho vi phạm trong sản xuất mỹ phẩm.
Theo đó, hành vi sản xuất mỹ phẩm không đạt tiêu chuẩn chất lượng bị phạt từ 30-40 triệu đồng; sản xuất mỹ phẩm khi chưa được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất mỹ phẩm bị phạt từ 40-50 triệu đồng. Nghị định còn quy định đình chỉ hoạt động sản xuất trong thời hạn 12-18 tháng đối với hành vi sản xuất khi chưa được cấp giấy chứng nhận, đồng thời buộc thu hồi và tiêu hủy toàn bộ sản phẩm đối với các hành vi thuộc diện xử lý.
Có thể thấy, đây là bước tiến về chế tài, nhưng nhìn từ thực tế cần đặt thêm câu hỏi: mức phạt có thực sự tương xứng với lợi ích kinh tế mà hành vi vi phạm có thể mang lại hay không?
Một doanh nghiệp sản xuất hàng nghìn, thậm chí hàng chục nghìn sản phẩm, nếu chỉ bị xử phạt hành chính vài chục triệu đồng, trong khi lợi nhuận từ việc đưa sản phẩm ra thị trường lớn hơn nhiều, thì nguy cơ coi tiền phạt như chi phí kinh doanh vẫn tồn tại.
Đặc biệt, nếu doanh nghiệp vi phạm nhưng chỉ bị xử lý trên một lô hàng được lấy mẫu, còn các lô khác không được truy xuất, hiệu quả răn đe sẽ bị hạn chế.
Vì vậy, phạt tiền không thể là điểm kết thúc, mà phải truy đến tận số lượng sản phẩm đã sản xuất, đã bán, lợi ích thu được, trách nhiệm của người phụ trách chất lượng và trách nhiệm của đơn vị đứng tên sản phẩm.
Theo bà Lê Châu Giang - chuyên gia Hiệp hội Mỹ phẩm Singapore, về mặt pháp lý, các nước ASEAN trong đó có Việt Nam không thiếu quy định quản lý mỹ phẩm. Việc thực hiện Hiệp định Mỹ phẩm ASEAN (ASEAN Cosmetic Directive) cho thấy Việt Nam đã đi theo xu hướng chung của thế giới, tạo hành lang pháp lý khá mở, khuyến khích sáng tạo và phát triển sản phẩm. Tuy nhiên, điểm còn hạn chế nằm ở chế tài xử phạt, bởi mức xử phạt hiện nay ở một số nước, trong đó có Việt Nam còn nhẹ chưa đủ tính răn đe