Ngày 11/9, giá các mặt hàng nông sản chủ lực có xu hướng biến động không đáng kể tại thị trường trong nước.
GIÁ GẠO ỔN ĐỊNH
Giá lúa gạo hôm nay (11/9) tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ít biến động, giao dịch mua bán vẫn chậm. Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam giữ ổn định, còn nhu cầu nhập khẩu lớn của Philippines tiếp tục tạo triển vọng cho xuất khẩu gạo Việt.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi OM 18 hôm nay dao động ở mốc 6.400 - 6.600 đồng/kg; lúa tươi Đài Thơm 8 dao động ở mốc 6.300 - 6.400 đồng/kg; lúa tươi OM 5451 dao động ở mốc 6.100 - 6.300 đồng/kg; lúa tươi IR 50404 dao động ở mức 6.000 - 6.200 đồng/kg; lúa tươi OM 34 dao động ở mốc 5.800 - 5.900 đồng/kg.
Tại các địa phương hôm nay, giao dịch mới chậm, nguồn cung đã giảm nhiều, giá lúa vững. Tại An Giang, giao dịch mua bán chậm, giá lúa chững. Tại Cà Mau, nguồn cung lúa về khá, sức mua được duy trì với lúa Đài Thơm 8, giá vững Tại Đồng Tháp, Tây Ninh, Cần Thơ, Vĩnh Long, giao dịch mua bán mới ít, giá lúa chững.
Tương tự với mặt hàng gạo, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 hôm nay dao động ở mức 8.650 - 8.750 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động ở mức 8.650 - 8.750 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 5451 dao động ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Với phụ phẩm, giá các mặt hàng phụ phẩm dao động khoảng từ 7.450 - 8.750 đồng/kg. Hiện tấm thơm dao động ở mức 8.650 - 8.750 đồng/kg; giá cám dao động ở mức 7.450 - 7.600 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, giá gạo đứng giá. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 17.000 - 18.000 đồng/kg; gạo Đài thơm dao động 15.500 - 16.500 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; giá gạo thường dao động ở mốc 13.500 - 15.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg; gạo OM 18 dao động ở mốc 15.500 - 16.500 đồng/kg.
Phân khúc nếp bình ổn. Cụ thể, giá nếp 3 tháng khô 9.600 - 9.700 đồng/kg; giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu Việt Nam đứng giá. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm dao động trong khoảng 470 - 480 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm dao động từ 373 - 377 USD/tấn; gạo Jasmine được chào bán ở mức 534 - 538 USD/tấn.
Tại Thái Lan, giá gạo trắng 5% tấm đang được chào giá cao nhất, khoảng 453 - 457 USD/tấn. Trong khi đó, sản phẩm cùng loại của Pakistan có giá 406 - 410 USD/tấn.
Ấn Độ vẫn giữ lợi thế cạnh tranh về giá khi gạo trắng 5% tấm chỉ ở mức 364 - 368 USD/tấn, gạo đồ 5% tấm hiện khoảng 370 - 374 USD/tấn.
Thị trường gạo Philippines đang xuất hiện tín hiệu đáng chú ý khi tồn kho giảm nhanh trong lúc rủi ro thời tiết ngày càng rõ nét. Theo PSA, lượng gạo dự trữ đến ngày 1/8 chỉ còn 2,18 triệu tấn, giảm 6% so với cùng kỳ và giảm tới 13,3% so với tháng 7. Đáng lo hơn, lượng gạo tại NFA giảm hơn 32%, xuống 306.820 tấn, khiến dư địa can thiệp thị trường của Chính phủ bị thu hẹp trước nguy cơ El Niño.
Áp lực này diễn ra trong bối cảnh sản xuất nội địa chưa cho thấy khả năng bù đắp thiếu hụt. Bộ trưởng Nông nghiệp Francisco Tiu Laurel ước tính Philippines có thể thiếu khoảng 900.000 tấn gạo cho tiêu dùng trong năm nay và đang tính phương án nhập tới 5 triệu tấn, mức cao kỷ lục.
Đáng chú ý, nhu cầu nhập khẩu lớn đang tiếp tục củng cố vị thế của Việt Nam. BPI ghi nhận Philippines đã nhập 3,46 triệu tấn gạo tính đến 13/8, trong đó Việt Nam cung cấp 2,56 triệu tấn, tương đương 74%. Đây vừa là cơ hội mở rộng xuất khẩu, vừa cho thấy mức độ phụ thuộc ngày càng lớn của Manila vào nguồn cung bên ngoài.
GIÁ CÀ PHÊ KHÔNG GHI NHẬN BIẾN ĐỘNG
Giá cà phê hôm nay tại khu vực Tây Nguyên không ghi nhận biến động mới sau phiên tăng mạnh trước đó. Mặt bằng thu mua tiếp tục duy trì trong khoảng 95.000 - 95.800 đồng/kg.
Cụ thể, Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) tiếp tục là địa phương có giá cà phê cao nhất trong số các khu vực được khảo sát, đạt 95.800 đồng/kg. Tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cà phê cùng duy trì ở mức 95.500 đồng/kg.
Lâm Đồng có mức thu mua thấp nhất khu vực với 95.000 đồng/kg.
Như vậy, thị trường trong nước tạm thời chững lại sau khi đồng loạt tăng 1.300 đồng/kg trong phiên trước. Mốc 95.000 đồng/kg hiện đã được thiết lập trở lại tại toàn bộ các địa phương khảo sát, trong khi Đắk Nông chỉ còn cách ngưỡng 96.000 đồng/kg khoảng 200 đồng.
Trên thị trường thế giới, giá hai chủng loại cà phê chính chịu áp lực điều chỉnh. Cụ thể, trên sàn London, giá cà phê Robusta giao tháng 9/2026 được giao dịch ở 3.347 USD/tấn, giảm 28 USD/tấn so với phiên trước.
Trên sàn New York, giá cà phê Arabica giao tháng 9/2026 giảm 5,8 US cent/pound, tương đương 1,79%, xuống 318,45 US cent/pound.
GIÁ TIÊU ĐI NGANG
Giá tiêu hôm nay tại các vùng sản xuất trọng điểm tiếp tục đi ngang so với ngày hôm qua, duy trì trong khoảng 137.000 - 141.000 đồng/kg. Thị trường chưa ghi nhận điều chỉnh mới sau những biến động trước đó, trong khi khoảng cách giữa địa phương có mức thu mua cao nhất và thấp nhất hiện ở mức 4.000 đồng/kg.
Cụ thể, Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) tiếp tục dẫn đầu thị trường với giá thu mua 141.000 đồng/kg. Đây cũng là địa phương duy nhất trong nhóm khảo sát giữ mức trên 140.000 đồng/kg.
Theo sau là Đắk Lắk, nơi giá tiêu đang được thu mua ở mức 140.000 đồng/kg. Tại Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh), thương lái duy trì giá mua khoảng 137.500 đồng/kg. Trong khi đó, Gia Lai và Đồng Nai cùng đứng ở mức 137.000 đồng/kg, thấp nhất trong các địa phương được khảo sát.
Như vậy, thị trường hồ tiêu trong nước chưa xuất hiện xu hướng tăng hoặc giảm rõ rệt trong phiên sáng hôm nay. Mặt bằng giá tiếp tục phân hóa theo từng vùng nhưng biên độ chênh lệch không lớn.
Đáng chú ý, mức giá cao nhất 141.000 đồng/kg hiện cao hơn mức thấp nhất 4.000 đồng/kg, tương đương chênh lệch khoảng 2,9%.
Trên thị trường quốc tế, giá hồ tiêu trong phiên giao dịch gần nhất diễn biến tương đối ổn định tại phần lớn quốc gia sản xuất lớn. Indonesia là thị trường đáng chú ý khi giá xuất khẩu được điều chỉnh tăng nhẹ.
Theo dữ liệu của Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, giá tiêu đen Indonesia hiện được niêm yết ở mức 6.936 USD/tấn, tăng 0,20% so với phiên trước.
Ở các thị trường sản xuất lớn khác, giá hầu như không thay đổi. Tiêu đen ASTA 570 của Brazil tiếp tục được giao dịch ở mức 5.750 USD/tấn. Trong khi đó, giá tiêu đen của Malaysia duy trì ở mức 9.300 USD/tấn, cao hơn đáng kể so với Indonesia, Brazil và Việt Nam.
Đối với nguồn cung từ Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l và 550 g/l tiếp tục được niêm yết lần lượt ở mức 5.990 USD/tấn và 6.050 USD/tấn, không thay đổi so với phiên trước. Như vậy, xét trong nhóm trên, giá tiêu đen Việt Nam hiện cao hơn Brazil nhưng thấp hơn Indonesia và Malaysia.
Thị trường tiêu trắng cũng ghi nhận diễn biến tương tự khi Indonesia là điểm sáng hiếm hoi có sự điều chỉnh.
Giá tiêu trắng Muntok của Indonesia tăng 0,19%, tương đương 9 USD/tấn, lên 9.496 USD/tấn. Trong khi đó, tiêu trắng của Việt Nam tiếp tục đứng ở mức 8.400 USD/tấn, còn Malaysia duy trì mức 12.200 USD/tấn.
GIÁ CAO SU BÌNH ỔN
Tại thị trường nội địa, giá cao su tại các doanh nghiệp lớn bình ổn. Cụ thể, tại Công ty Cao su Bà Rịa cũng báo giá thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 14.600 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.
Công ty Bình Long, giá cao su thu mua tại Nhà máy ở mức 540 đồng/độ TSC/kg và giá thu mua tại đội sản xuất 530 đồng/TSC/kg; giá mủ tạp (DRC 60%) bình ổn 18.000 đồng/kg.
Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước ghi nhận khoảng 458 - 463 đồng/TSC (loại 2-loại 1), mủ đông tạp khoảng 404 - 459 đồng/DRC (loại 2-loại 1).
Công ty Phú Riềng, chào giá thu mua mủ tạp bình ổn ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.
Kết thúc phiên giao dịch, giá cao su RSS3 trên sàn TOCOM (Tokyo) - Nhật Bản hợp đồng giao tháng 9 và tháng 10 đồng loạt đi ngang lần lượt ở mức 468,10 và 443 Yên/kg.
Tại Thái Lan, giá chào xuất khẩu cao su RSS3 (FOB Laem Chabang) tăng 0,93 Baht (1%) lên mức 91,06 Baht/kg.
Trên Sàn Giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải (SHFE) - Trung Quốc, giá cao su tự nhiên hợp đồng giao tháng 9 ở mức 18.565 Nhân dân tệ/tấn, giảm 1,28%. Hợp đồng giao tháng 10 ở mức 18.810 Nhân dân tệ/tấn, tăng 0,45%.
Hợp đồng cao su butadien giao tháng 10 được giao dịch nhiều nhất trên SHFE tăng 170 Nhân dân tệ, tương đương 1,09%, lên 15.810 Nhân dân tệ/tấn.
Trên Sàn Giao dịch SGX - Singapore, hợp đồng TSR20 kỳ hạn tháng 10 ở mức 247,00 Cent/kg, giảm 0,80%. Hợp đồng kỳ hạn tháng 11 ở mức 245,80 Cent/kg, giảm 0,77%.
Giá cao su hôm nay biến động trái chiều giữa các kỳ hạn cho thấy dòng tiền chưa rút khỏi thị trường nhưng đang thận trọng hơn với triển vọng ngắn hạn. Áp lực giảm bao phủ trên sàn SGX, lan sang hợp đồng tháng 9 tại sàn SHFE, ngược lại, hợp đồng tháng 10 tại Thượng Hải và thị trường Thái Lan duy trì mức tăng nhẹ.
Thị trường chưa hình thành xu hướng rõ ràng, song đà suy yếu của các hợp đồng giao gần đang phát đi tín hiệu thận trọng cho những phiên tiếp theo.
GIÁ THỊT LỢN TIẾP TỤC ỔN ĐỊNH
Tại miền Bắc, giá lợn hơi hôm nay giảm 1.000 đồng/kg ở Thái Nguyên, Hà Nội và Phú Thọ. Sau điều chỉnh, thị trường khu vực này giao dịch trong khoảng 58.000 - 60.000 đồng/kg.
Hưng Yên tiếp tục là địa phương duy nhất giữ mức 60.000 đồng/kg, đồng thời đây cũng là mức cao nhất được ghi nhận trên cả nước.
Ở chiều ngược lại, Lào Cai và Điện Biên đang có giá thấp nhất miền Bắc, cùng đạt 58.000 đồng/kg. Các địa phương còn lại duy trì mức 59.000 đồng/kg.
Như vậy, dù xuất hiện thêm một số địa phương giảm giá, miền Bắc vẫn là khu vực có mặt bằng thu mua cao nhất cả nước. Tuy nhiên, khoảng cách giữa mức cao nhất và thấp nhất trong khu vực hiện chỉ còn 2.000 đồng/kg, cho thấy giá đang có xu hướng hội tụ trong biên độ khá hẹp.
Tại Miền Trung - Tây Nguyên, giá lợn hơi hôm nay không biến động. Giá lợn hơi tiếp tục được thu mua trong khoảng 57.000 - 58.000 đồng/kg.
Trong đó, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Gia Lai và Lâm Đồng cùng duy trì mức 58.000 đồng/kg, cao nhất khu vực. Các địa phương còn lại giao dịch quanh 57.000 đồng/kg.
Diễn biến tương tự xuất hiện tại miền Nam khi giá lợn hơi tiếp tục đi ngang, dao động từ 57.000 - 58.000 đồng/kg.
Mức 58.000 đồng/kg được ghi nhận tại Đồng Nai, Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang, TP.HCM, Vĩnh Long và Cần Thơ. Trong khi đó, Cà Mau duy trì mức 57.000 đồng/kg, thấp nhất khu vực.
Nhìn chung, giá lợn hơi hôm nay chưa xuất hiện biến động lớn. Việc một số địa phương miền Bắc giảm 1.000 đồng/kg chưa tạo ra xu hướng giảm trên diện rộng, trong khi miền Trung - Tây Nguyên và miền Nam vẫn duy trì trạng thái ổn định.
Hiện 57.000 đồng/kg là vùng giá thấp nhất cả nước, còn 60.000 đồng/kg là mức cao nhất và chỉ được ghi nhận tại Hưng Yên.
Theo khảo sát từ trang winmart.vn giá thịt lợn ghi nhận giữ giá ổn định, niêm yết trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg. Cụ thể, thịt lợn xay là sản phẩm có giá bán thấp nhất, duy trì mức 102.322 đồng/kg. Tiếp đó là các sản phẩm thịt nạc đùi, nạc vai lợn và chân giò rút xương, với giá bán lần lượt là 122.320 đồng/kg, 126.320 đồng/kg và 127.922 đồng/kg.
Như vậy, giá thịt lợn tại WinMart hiện dao động trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg và được giảm giá 20% theo chương trình ưu đãi dành cho hội viên của WinMart.