Giá nông sản hôm nay (16/9): Giá thịt lợn khởi sắc, cà phê tăng nhẹ 200 đồng/kg

Bản tin cập nhật những thông tin đáng chú ý trên thị trường nông sản; giá cả các mặt hàng chủ lực như thịt lợn, lúa gạo, cà phê, hồ tiêu…

Ngày 16/9, giá các mặt hàng nông sản chủ lực có xu hướng biến động không đáng kể tại thị trường trong nước.

GIÁ GẠO ỔN ĐỊNH

Giá lúa gạo hôm nay (16/9) tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ít biến động, giao dịch mua bán vẫn chậm. Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam giữ ổn định, còn nhu cầu nhập khẩu lớn của Philippines tiếp tục tạo triển vọng cho xuất khẩu gạo Việt.

Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi OM 18 hôm nay dao động ở mốc 6.400 - 6.600 đồng/kg; lúa tươi Đài Thơm 8 dao động ở mốc 6.300 - 6.400 đồng/kg; lúa tươi OM 5451 dao động ở mốc 6.100 - 6.300 đồng/kg; lúa tươi IR 50404 dao động ở mức 6.000 - 6.200 đồng/kg; lúa tươi OM 34 dao động ở mốc 5.800 - 5.900 đồng/kg.

Giá lúa gạo hôm nay tại Đồng bằng sông Cửu Long ổn định

Tại các địa phương hôm nay, giao dịch mới chậm, nguồn cung đã giảm nhiều, giá lúa vững. Tại An Giang, giao dịch mua bán chậm, giá lúa chững. Tại Cà Mau, nguồn cung lúa về khá, sức mua được duy trì với lúa Đài Thơm 8, giá vững Tại Đồng Tháp, Tây Ninh, Cần Thơ, Vĩnh Long, giao dịch mua bán mới ít, giá lúa chững.

Tương tự với mặt hàng gạo, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 hôm nay dao động ở mức 8.650 - 8.750 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động ở mức 8.650 - 8.750 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 5451 dao động ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.

Với phụ phẩm, giá các mặt hàng phụ phẩm dao động khoảng từ 7.450 - 8.750 đồng/kg. Hiện tấm thơm dao động ở mức 8.650 - 8.750 đồng/kg; giá cám dao động ở mức 7.450 - 7.600 đồng/kg.

Tại các chợ lẻ, giá gạo đứng giá. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 17.000 - 18.000 đồng/kg; gạo Đài thơm dao động 15.500 - 16.500 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; giá gạo thường dao động ở mốc 13.500 - 15.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg; gạo OM 18 dao động ở mốc 15.500 - 16.500 đồng/kg.

Phân khúc nếp bình ổn. Cụ thể, giá nếp 3 tháng khô 9.600 - 9.700 đồng/kg; giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg.

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu Việt Nam đứng giá. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm dao động trong khoảng 470 - 480 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm dao động từ 373 - 377 USD/tấn; gạo Jasmine được chào bán ở mức 534 - 538 USD/tấn.

Tại Thái Lan, giá gạo trắng 5% tấm đang được chào giá cao nhất, khoảng 453 - 457 USD/tấn. Trong khi đó, sản phẩm cùng loại của Pakistan có giá 406 - 410 USD/tấn.

Ấn Độ vẫn giữ lợi thế cạnh tranh về giá khi gạo trắng 5% tấm chỉ ở mức 364 - 368 USD/tấn, gạo đồ 5% tấm hiện khoảng 370 - 374 USD/tấn.

Thị trường gạo Philippines đang xuất hiện tín hiệu đáng chú ý khi tồn kho giảm nhanh trong lúc rủi ro thời tiết ngày càng rõ nét. Theo PSA, lượng gạo dự trữ đến ngày 1/8 chỉ còn 2,18 triệu tấn, giảm 6% so với cùng kỳ và giảm tới 13,3% so với tháng 7. Đáng lo hơn, lượng gạo tại NFA giảm hơn 32%, xuống 306.820 tấn, khiến dư địa can thiệp thị trường của Chính phủ bị thu hẹp trước nguy cơ El Niño.

Áp lực này diễn ra trong bối cảnh sản xuất nội địa chưa cho thấy khả năng bù đắp thiếu hụt. Bộ trưởng Nông nghiệp Francisco Tiu Laurel ước tính Philippines có thể thiếu khoảng 900.000 tấn gạo cho tiêu dùng trong năm nay và đang tính phương án nhập tới 5 triệu tấn, mức cao kỷ lục.

Đáng chú ý, nhu cầu nhập khẩu lớn đang tiếp tục củng cố vị thế của Việt Nam. BPI ghi nhận Philippines đã nhập 3,46 triệu tấn gạo tính đến 13/8, trong đó Việt Nam cung cấp 2,56 triệu tấn, tương đương 74%. Đây vừa là cơ hội mở rộng xuất khẩu, vừa cho thấy mức độ phụ thuộc ngày càng lớn của Manila vào nguồn cung bên ngoài.

GIÁ CÀ PHÊ TĂNG NHẸ

Giá cà phê hôm nay tại khu vực Tây Nguyên đồng loạt tăng nhẹ 200 đồng/kg, đưa mặt bằng thu mua lên khoảng 94.900 - 95.500 đồng/kg.

Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) tiếp tục là địa phương có mức giá cao nhất. Sau khi tăng 200 đồng/kg, cà phê tại đây được thu mua ở mức 95.500 đồng/kg.

Tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cũng tăng cùng mức 200 đồng/kg, lên 95.400 đồng/kg. Lâm Đồng điều chỉnh lên 94.900 đồng/kg nhưng vẫn là địa phương có giá thấp nhất trong số các vùng được khảo sát.

Trên thị trường thế giới, hai chủng loại cà phê chính cũng khởi sắc trở lại. Cụ thể, trên sàn London, giá cà phê Robusta hợp đồng tháng 11/2026 tăng 0,28%, tương đương 10 USD/tấn, lên 3.535 USD/tấn. Hợp đồng tháng 1/2027 tăng 7 USD/tấn, đạt 3.515 USD/tấn.

Trên sàn New York, giá cà phê Arabica tháng 12/2026 tăng mạnh 1,68%, tương đương 4,8 US cent/pound, lên 290,5 US cent/pound. Hợp đồng tháng 3/2027 tăng 1,48%, đạt 281,3 US cent/pound.

GIÁ TIÊU ỔN ĐỊNH

Giá tiêu hôm nay tại các vùng sản xuất trọng điểm tiếp tục ổn định, kéo dài chuỗi đi ngang sang ngày thứ 6 liên tiếp. Mặt bằng thu mua hiện duy trì trong khoảng 137.000 - 141.000 đồng/kg.

Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) tiếp tục có mức giá cao nhất, đạt 141.000 đồng/kg. Đắk Lắk đứng ngay sau với 140.000 đồng/kg.

Giá tiêu hôm nay tại các vùng sản xuất trọng điểm ổn định

Tại Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh), giá tiêu được thu mua ở mức 137.500 đồng/kg. Gia Lai và Đồng Nai cùng giao dịch tại 137.000 đồng/kg, thấp nhất trong số các địa phương khảo sát.

Mặc dù đã đi ngang gần một tuần, mặt bằng giá hiện tại vẫn cao hơn đáng kể so với đầu tháng. Trước đó, thị trường đã trải qua một phiên tăng mạnh từ 2.000 - 4.000 đồng/kg, đưa giá tại một số vùng trọng điểm trở lại trên 140.000 đồng/kg.

Trên thị trường thế giới, giá hồ tiêu tại các quốc gia sản xuất lớn cũng chưa xuất hiện biến động mới. Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, tiêu đen Indonesia hiện được niêm yết ở mức 6.939 USD/tấn, tiêu đen ASTA 570 của Brazil đạt 5.750 USD/tấn và Malaysia đứng ở 9.300 USD/tấn.

Tại Việt Nam, tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l và 550 g/l được giao dịch trong khoảng 6.070 - 6.130 USD/tấn.

Đối với tiêu trắng, tiêu Muntok của Indonesia giữ mức 9.500 USD/tấn. Giá tiêu trắng Việt Nam và Malaysia lần lượt đạt 8.450 USD/tấn và 12.200 USD/tấn.

GIÁ CAO SU ỔN ĐỊNH

Trong nước, giá cao su thu mua tiếp tục được các doanh nghiệp duy trì ổn định.

Cụ thể, tại Công ty Phú Riềng, chào giá thu mua mủ tạp bình ổn ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.

Giá cao su tại các doanh nghiệp lớn tại thị trường trong nước bình ổn

Công ty Cao su Bà Rịa cũng báo giá thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 14.600 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.

Công ty Bình Long, giá cao su thu mua tại Nhà máy ở mức 540 đồng/độ TSC/kg và giá thu mua tại đội sản xuất 530 đồng/TSC/kg; giá mủ tạp (DRC 60%) bình ổn 18.000 đồng/kg.

Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước ghi nhận khoảng 458 - 463 đồng/TSC (loại 2 - loại 1), mủ đông tạp khoảng 404 - 459 đồng/DRC (loại 2 - loại 1)

Kết thúc phiên giao dịch, giá cao su kỳ hạn tháng 10 trên sàn Giao dịch Osaka (OSE) - Nhật Bản giảm 0,3 Yên về mức 458 Yên/kg. Hợp đồng cao su giao tháng 2/2027 giảm 4,5 Yên, tương đương 1,04%, còn 426,5 Yên/kg.

Tại Thái Lan, giá chào xuất khẩu cao su RSS3 (FOB Laem Chabang) tăng 0,37 Baht lên mức 92.74 Baht/kg.

Trên Sàn Giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải (SHFE) - Trung Quốc, giá cao su tự nhiên hợp đồng giao tháng 9 ở mức 17.970 Nhân dân tệ/tấn, giảm 1,16%. Hợp đồng giao tháng 10 ở mức 18.030 Nhân dân tệ/tấn, giảm 0,74%.

Hợp đồng cao su butadien giao tháng 10 được giao dịch nhiều nhất trên SHFE giảm 510 Nhân dân tệ, tương đương 3,25%, còn 15.195 Nhân dân tệ/tấn.

Trên Sàn Giao dịch SGX - Singapore, hợp đồng TSR20 kỳ hạn tháng 10 ở mức 237 Cent/kg, giảm 2,55%. Hợp đồng kỳ hạn tháng 11 ở mức 235,10 Cent/kg, giảm 2,77%.

Sắc đỏ bao phủ toàn bộ các kỳ hạn tại sàn SHFE, OSE và SGX cho thấy lực bán đang chiếm ưu thế, đặc biệt khi giá TSR20 tại Singapore giảm hơn 2%. Tại Thượng Hải, nhiều kỳ hạn lùi về quanh mốc Nhân dân tệ/tấn, cho thấy sức mua chưa đủ mạnh để giữ nhịp phục hồi.

Theo các nhà phân tích tại Chaos Ternary Futures Research Institute, lượng cao su thiên nhiên thu mua bình quân của các nhà sản xuất lốp xe giảm trong tuần qua giữa lúc chi phí nguyên liệu tăng, với phần lớn doanh nghiệp duy trì trạng thái kiểm soát sản xuất.

GIÁ THỊT LỢN KHỞI SẮC

Tại miền Bắc, giá lợn hơi hôm nay ở 2 tỉnh Hưng Yên và Lạng Sơn cùng tăng 1.000 đồng/kg, lần lượt lên mức 60.000 đồng/kg và 59.000 đồng/kg. Sau điều chỉnh, giá lợn hơi tại khu vực phía Bắc dao động trong khoảng 58.000 - 60.000 đồng/kg.

Trong đó, Hưng Yên trở thành địa phương duy nhất trên cả nước đạt 60.000 đồng/kg. Đây cũng là lần đầu tiên mốc giá này xuất hiện trở lại sau khi biến mất khỏi thị trường trong tuần trước.

Tuyên Quang, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Phòng, Ninh Bình, Lai Châu, Phú Thọ, Sơn La và Lạng Sơn cùng giao dịch ở mức 59.000 đồng/kg.

Cao Bằng, Lào Cai và Điện Biên tiếp tục đứng ở mức thấp nhất khu vực với 58.000 đồng/kg.

Như vậy, sau một số phiên đi ngang, thị trường miền Bắc bắt đầu xuất hiện những điều chỉnh tăng cục bộ. Tuy nhiên, mức tăng mới chỉ ghi nhận tại hai địa phương và chưa tạo thành xu hướng trên diện rộng.

Giá thịt lợn hơi ghi nhận tín hiệu khởi sắc tại miền Bắc khi 2 địa phương điều chỉnh tăng 1.000 đồng/kg

Tại Miền Trung - Tây Nguyên, giá lợn hơi hôm nay chưa thay đổi. Thương lái tại khu vực tiếp tục thu mua trong khoảng 57.000 - 58.000 đồng/kg.

Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị và Lâm Đồng cùng duy trì mức 58.000 đồng/kg. Các địa phương còn lại giao dịch ở 57.000 đồng/kg.

Tại miền Nam, giá lợn hơi hôm nay cũng tiếp tục đi ngang. Mức 58.000 đồng/kg được ghi nhận tại Đồng Nai, Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang, TP Hồ Chí Minh, Vĩnh Long và Cần Thơ. Riêng Cà Mau duy trì 57.000 đồng/kg, thấp nhất khu vực.

Như vậy, giá lợn hơi trên toàn quốc hiện dao động từ 57.000 - 60.000 đồng/kg, biên độ giữa mức cao nhất và thấp nhất được nới lên 3.000 đồng/kg.

Điểm đáng chú ý là mốc 60.000 đồng/kg đã nhanh chóng trở lại thị trường sau thời gian ngắn vắng bóng.

Theo khảo sát từ trang winmart.vn giá thịt lợn ghi nhận giữ giá ổn định, niêm yết trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg. Cụ thể, thịt lợn xay là sản phẩm có giá bán thấp nhất, duy trì mức 102.322 đồng/kg. Tiếp đó là các sản phẩm thịt nạc đùi, nạc vai lợn và chân giò rút xương, với giá bán lần lượt là 122.320 đồng/kg, 126.320 đồng/kg và 127.922 đồng/kg.

Như vậy, giá thịt lợn tại WinMart hiện dao động trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg và được giảm giá 20% theo chương trình ưu đãi dành cho hội viên của WinMart.

Có thể bạn quan tâm