Giá nông sản hôm nay (2/2): Giá cà phê neo cao, hồ tiêu tăng mạnh

Bản tin cập nhật những thông tin đáng chú ý trên thị trường nông sản; giá cả các mặt hàng chủ lực như thịt lợn, lúa gạo, cà phê, hồ tiêu…

Ngày 2/2, giá các mặt hàng nông sản chủ lực có xu hướng biến động không đáng kể tại thị trường trong nước.

GIÁ GẠO

Hôm nay (2/2), giá lúa tươi OM 5451 hôm nay tăng 200 đồng/kg dao động mốc 5.800 - 6.200 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) giảm 200 đồng/kg dao động mốc 5.200 - 5.400 đồng/kg; lúa OM 18 (tươi) dao động ở mốc 6.300 - 6.500 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 (tươi) dao động ở mốc 6.300 - 6.500 đồng/kg; lúa IR 50404 (tươi) dao động ở mức 5.500 - 5.600 đồng/kg; lúa OM 4218 dao động 6.000 - 6.200 đồng/kg.

Tại các địa phương hôm nay, giao dịch mua bán tiếp tục chậm, giá lúa tươi biến động. Tại An Giang, nông dân chào bán rải rác lúa cắt trước tết, giao dịch chậm, đa số thương lái hỏi dò giá, một số giá lúa tươi biến động trái chiều. Tại Cà Mau, Cần Thơ, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Tây Ninh, giao dịch mua bán lúa Đông Xuân chậm, giá ít biến động.

Với mặt hàng gạo, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 hôm nay dao động ở mức 8.100 - 8.200 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.800 - 9.000 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.600 - 7.770 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 5451 dao động ở mức 8.800 - 8.900 đồng/kg; gạo Đài Thơm 8 dao động 8.650 - 8.800 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 7.650 - 7.750 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600; gạo thành phẩm IR 504 dao động ở 9.500 - 9.700 đồng/kg.

Tại các chợ lẻ, gạo các loại đứng giá. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 14.000 - 15.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo thường dao động ở mốc 12.000 - 13.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, hiện gạo thơm 5% tấm giá dao động ở mức 420 - 440 USD/tấn; gạo 100% tấm dao động ở mức 319 - 323 USD/tấn; gạo Jasmine giá dao động 446 - 450 USD/tấn.

GIÁ CÀ PHÊ

Kết thúc tuần qua, giá cà phê tại khu vực Tây Nguyên dao động chủ yếu trong khoảng 100.000 - 100.900 đồng/kg, giảm nhẹ 100 - 500 đồng/kg so với tuần trước nhưng vẫn duy trì ở vùng cao hiếm thấy trong nhiều năm.

Đắk Nông tiếp tục là địa phương có mức giá cao nhất khu vực khi giao dịch quanh 100.900 đồng/kg, chỉ giảm rất nhẹ so với tuần trước. Đắk Lắk bám sát phía sau với khoảng 100.800 đồng/kg, trong khi Gia Lai phổ biến ở vùng 100.700 đồng/kg.

Riêng Lâm Đồng ghi nhận mức điều chỉnh mạnh hơn, giảm khoảng 500 đồng/kg, đưa giá về mốc 100.000 đồng/kg nhưng vẫn cao hơn đáng kể so với cùng kỳ năm ngoái.

Nhiều thương lái cho biết lượng hàng đưa ra thị trường vẫn khá nhỏ giọt. Phần lớn nông dân lựa chọn bán cầm chừng để thăm dò xu hướng, thay vì xả hàng ồ ạt khi giá có nhịp điều chỉnh ngắn hạn.

Trên thị trường quốc tế, tuần qua chứng kiến cú rơi mạnh của Arabica, trở thành yếu tố dẫn dắt xu hướng điều chỉnh chung.

Trên sàn London giảm mạnh, Cụ thể, giá cà phê Arabica hợp đồng giao kỳ hạn tháng 3/2026 mất hơn 5%, rơi xuống vùng thấp nhất trong khoảng 5 - 6 tháng. Các hợp đồng kỳ hạn xa hơn cũng đồng loạt lao dốc với biên độ tương tự, phản ánh áp lực bán mạnh từ giới đầu cơ.

Trong khi đó, trên sàn London, robusta giảm nhẹ khoảng dưới 1%, lùi về quanh vùng 4.100 USD/tấn, thấp hơn đỉnh gần đây nhưng vẫn ở mặt bằng rất cao so với trung bình nhiều năm.

GIÁ TIÊU

Tuần qua, giá tiêu tại các địa phương sản xuất trọng điểm đã tăng tổng cộng từ 500 - 2.000 đồng/kg, đưa mặt bằng giao dịch lên vùng 149.000 - 152.000 đồng/kg.

Đắk Lắk tiếp tục là khu vực ghi nhận mức giá cao nhất cả nước khi hồ tiêu được thu mua quanh mốc 152.000 đồng/kg, tăng mạnh 2.000 đồng/kg so với tuần trước. Đắk Nông (thuộc tỉnh Lâm Đồng) cũng chứng kiến mức tăng tương tự, hiện giao dịch ở khoảng 151.000 đồng/kg.

Tại Đồng Nai, giá tiêu tăng thêm 2.000 đồng/kg, lên 150.000 đồng/kg, trong khi Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh) điều chỉnh tăng nhẹ hơn khoảng 1.000 đồng/kg, cũng đạt 150.000 đồng/kg. Riêng Gia Lai tăng chậm nhất với 500 đồng/kg, đứng ở mức 149.000 đồng/kg nhưng vẫn cao hơn đáng kể so với đầu tháng.

Trên thị trường quốc tế, dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế cho thấy, giá tiêu đen Indonesia trong tuần qua đã tăng khoảng 1,3%, đạt quanh mốc 6.732 USD/tấn.

Ngược lại, tại nhiều quốc gia sản xuất lớn khác, giá gần như đi ngang. Tiêu đen Brazil ASTA 570 duy trì quanh mức 6.150 USD/tấn, trong khi tiêu đen Malaysia tiếp tục đứng ở vùng cao 9.000 USD/tấn.

Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu vẫn phổ biến trong khoảng 6.400 - 6.600 USD/tấn tùy chủng loại 500 g/l và 550 g/l. Giá tiêu trắng Muntok Indonesia cũng tăng mạnh hơn 1% trong tuần, vượt 9.260 USD/tấn, còn tại Việt Nam và Malaysia tiếp tục ổn định quanh 9.150 USD/tấn và 12.000 USD/tấn.

GIÁ CAO SU

Trong nước, giá thu mua cao su nguyên liệu ổn định. Cụ thể, tại Công ty Phú Riềng chào giá thu mua mủ tạp bình ổn ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.

Công ty Bình Long, giá cao su thu mua bình ổn tại Nhà máy ở mức 432 đồng/độ TSC/kg; giá thu mua tại đội sản xuất 422 đồng/TSC/kg; giá mủ tạp bình ổn (DRC 60%) 14.000 đồng/kg.

Công ty Cao su Bà Rịa báo giá thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 14.600 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.

Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước ghi nhận khoảng 379 - 384 đồng/TSC (loại 2 - loại 1), mủ đông tạp khoảng 345 - 393 đồng/DRC (loại 2 - loại 1).

Kết thúc phiên giao dịch ngày 1/2, giá cao su kỳ hạn thế giới tiếp tục diễn biến kém tích cực. Cụ thể, giá cao su kỳ hạn tháng 3/2026 tại Trung Quốc giảm 0,21%, xuống còn 16.550 NDT/tấn; tại Nhật Bản, hợp đồng tháng 2/2026 giảm nhẹ 0,1%, về 337 Yên/kg; trong khi giá cao su Thái Lan đi ngang ở mức 63,4 Baht/kg.

Thị trường trầm lắng của cao su kỳ hạn trong bối cảnh tâm lý thận trọng của nhà đầu tư trước triển vọng nhu cầu toàn cầu chưa thực sự bứt phá, kinh tế thế giới còn nhiều bất định.

Ở chiều ngược lại, Campuchia đang nổi lên như một điểm sáng mới của ngành cao su khu vực. Theo Tổng cục Hải quan và Thuế tiêu thụ đặc biệt Campuchia, kim ngạch xuất khẩu cao su và các sản phẩm từ cao su năm 2025 đã vượt 8 tỷ RM (khoảng 2 tỷ USD), tăng gần 37% so với năm 2024.

Theo Tổng cục Cao su Campuchia, nước này dành khoảng 448.000 ha cho trồng cao su, với sản lượng ước đạt 300.000 tấn/năm. Dù xuất khẩu cao su thiên nhiên giảm nhẹ 9% trong năm qua, ngành cao su vẫn đóng góp hơn 20% GDP quốc gia. Trong bối cảnh thị trường cao su thiên nhiên do Thái Lan, Indonesia và Việt Nam thống lĩnh, với sản lượng lần lượt khoảng 5 triệu tấn, 2 triệu tấn và 1,3 triệu tấn/năm (theo ANRPC), Campuchia vẫn giữ lợi thế cạnh tranh nhờ chi phí sản xuất thấp, vị trí gần các thị trường tiêu thụ lớn và chất lượng ngày càng cải thiện.

GIÁ THỊT LỢN

Khảo sát tại khu vực miền Bắc, giá lợn hơi hôm nay tiếp tục chịu áp lực điều chỉnh, có nơi giảm đến 2.000 đồng/kg so với hôm trước.

Cụ thể, giá lợn hơi tại Tuyên Quang, Cao Bằng, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Phòng, Ninh Bình, Điện Biên và Hưng Yên cùng giảm 1.000 đồng/kg, hiện giao dịch ở mức 78.000 đồng/kg.

Tại Thái Nguyên, Lạng Sơn, Lào Cai, Phú Thọ và Sơn La, lợn hơi cũng giảm 1.000 đồng/kg, xuống còn 77.000 đồng/kg.

Đáng chú ý, Lai Châu ghi nhận mức giảm mạnh nhất khu vực khi điều chỉnh 2.000 đồng/kg, hiện thu mua ở mức 76.000 đồng/kg.

Hiện giá lợn tại miền Bắc dao động trong khoảng 76.000 - 78.000 đồng/kg.

Tại khu vực miền Trung - Tây Nguyên, giá lợn hơi sáng nay tương đối ổn định, chỉ ghi nhận giảm nhẹ tại một vài địa phương.

Cụ thể, giá lợn tại Thanh Hóa và Nghệ An cùng giảm 1.000 đồng/kg, hiện lần lượt ở mức 77.000 đồng/kg và 76.000 đồng/kg. Trong khi đó, Hà Tĩnh giữ nguyên giá 76.000 đồng/kg so với hôm trước.

Các địa phương còn lại như Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Đắk Lắk, Khánh Hòa và Lâm Đồng tiếp tục đi ngang ở mức 77.000 đồng/kg. Gia Lai duy trì ổn định tại 76.000 đồng/kg.

Hiện giá lợn tại miền Trung - Tây Nguyên dao động trong khoảng 76.000 - 78.000 đồng/kg.

Tại miền Nam, giá lợn hơi sáng nay tăng nhẹ tại một số địa phương. Theo đó, giá lợn hơi tại An Giang và Cần Thơ cùng tăng 1.000 đồng/kg, lần lượt lên mức 76.000 đồng/kg và 77.000 đồng/kg.

Trong khi đó, Đồng Nai giữ giá thu mua ở mức 78.000 đồng/kg; Tây Ninh, Đồng Tháp, TP Hồ Chí Minh và Vĩnh Long tiếp tục giao dịch ở mức 77.000 đồng/kg. Cà Mau không ghi nhận biến động mới, duy trì mức 75.000 đồng/kg.

Hiện giá lợn tại miền Nam dao động trong khoảng 75.000 - 78.000 đồng/kg.

Nhìn chung, giá lợn hơi hôm nay tiếp tục xu hướng giảm tại miền Bắc và một số nơi ở miền Trung - Tây Nguyên. Còn Miền Nam xuất hiện vài điểm tăng nhẹ, cho thấy lực mua có dấu hiệu cải thiện tại một số địa phương.

Theo khảo sát từ trang winmart.vn giá thịt lợn ghi nhận giữ giá ổn định, niêm yết trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg. Cụ thể, thịt lợn xay là sản phẩm có giá bán thấp nhất, duy trì mức 102.322 đồng/kg. Tiếp đó là các sản phẩm thịt nạc đùi, nạc vai lợn và chân giò rút xương, với giá bán lần lượt là 122.320 đồng/kg, 126.320 đồng/kg và 127.922 đồng/kg.

Như vậy, giá thịt lợn tại WinMart hiện dao động trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg và được giảm giá 20% theo chương trình ưu đãi dành cho hội viên của WinMart.

Có thể bạn quan tâm