Quản trị doanh nghiệp: Từ việc phải làm đến lợi thế cạnh tranh

Trong một thế giới đầy biến động, quản trị doanh nghiệp đóng vai trò như hệ điều hành giúp chuyển hóa những cam kết ESG thành tăng trưởng đáng tin cậy, bền vững, thu hút đầu tư ở Việt Nam...

Chúng ta đang trải qua một thời kỳ mà sự gián đoạn đã trở nên quen thuộc: dịch bệnh, những cú sốc chuỗi cung ứng, xung đột địa chính trị, biến động chính sách và lòng tin đối với thị trường thay đổi khôn lường. Trong bối cảnh đó, sự bền bỉ của doanh nghiệp không tự nhiên mà có mà cần phải chủ động bồi đắp nên.

Yếu tố giúp các công ty phục hồi nhanh hơn trong nghịch cảnh không phải may mắn. Đó là năng lực quản trị doanh nghiệp: ai có khả năng phát hiện vấn đề nhanh chóng, ai nắm trong tay thông tin đáng tin cậy, ai có quyền đưa ra quyết định, ai có thể hành động quyết đoán và ai hợp tác ăn ý.

Đó là lý do khi nhắc đến ESG (Môi trường – Xã hội – Quản trị) ngày nay, yếu tố quản trị (governance) không chỉ đơn giản là một chữ cái viết tắt. Đó là hệ điều hành giúp doanh nghiệp vượt qua những bất định và duy trì tăng trưởng bền vững. Trong bối cảnh kinh tế phát triển nhanh chóng của Việt Nam, năng lực quản trị đang ngày càng trở thành một lợi thế cạnh tranh rõ rệt.

TỪ CHUỖI CUNG ỨNG ĐẾN THỊ TRƯỜNG VỐN

Có ba yếu tố chính khiến quản trị doanh nghiệp trở thành ưu tiên hàng đầu tại Việt Nam.

Thứ nhất, các chuỗi cung ứng toàn cầu đang nâng cao tiêu chuẩn. Ngày càng nhiều doanh nghiệp Việt tham gia vào chuỗi cung ứng của các khách hàng là doanh nghiệp đa quốc gia. Những khách hàng này đang thắt chặt yêu cầu trong những vấn đề liên quan đến quản trị: giám sát tiêu chuẩn lao động, kiểm soát cung ứng và bên thứ ba, cơ chế khiếu nại và dữ liệu ESG đáng tin cậy. Quản trị yếu kém có thể dẫn đến mất đơn hàng, điều khoản hợp đồng bất lợi hơn hoặc kiểm toán nhiều lần gây tốn thời gian của ban điều hành.

Quy định của châu Âu cũng đang ra kỳ vọng cho các doanh nghiệp bên ngoài khu vực này. Chỉ thị Báo cáo Phát triển bền vững của Doanh nghiệp (Corporate Sustainability Reporting Directive, viết tắt là CSRD) do EU ban hành sẽ có tác động lớn lên các công ty trong chuỗi cung ứng của đối tác châu Âu vì họ sẽ yêu cầu bên cung ứng phải cung cấp thông tin bền vững nhất quán và hữu ích hơn. Tóm lại, nếu khách hàng phải báo cáo thì họ sẽ cần dữ liệu từ doanh nghiệp và dữ liệu cần phải đáng tin.

Phil Wright, Giám đốc cấp cao, Khối Nghiệp vụ ngân hàng, HSBC Việt Nam

Thứ hai, phía nhà đầu tư và bên cho vay đang tăng cường lồng ghép chất lượng quản trị vào đánh giá rủi ro. Các nhà cung cấp vốn ngày càng quan tâm đến sự giám sát của ban điều hành, khả năng quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ và công bố thông tin minh bạch.

Doanh nghiệp quản trị vững vàng thường được đánh giá “đáng cho vay” và hấp dẫn với nhà đầu tư, qua đó hỗ trợ khả năng tiếp cận nguồn vốn, có thể được hưởng mức giá vốn tốt hơn và xây dựng các mối quan hệ tài trợ dài hạn. Các tổ chức xếp hạng tín nhiệm như Moody’s và S&P cũng đưa yếu tố quản trị doanh nghiệp vào phân tích tín dụng một cách rõ ràng, vì nó ảnh hưởng đến việc ra quyết định, mức độ chấp nhận rủi ro và khả năng xảy ra các sự kiện tín dụng.

Thứ ba, độ tin cậy của dữ liệu ESG đã trở thành một yêu cầu thiết yếu đối với doanh nghiệp. Báo cáo ESG đang chuyển từ hoạt động mang tính chất tiếp thị sang đo lường thực chất. Doanh nghiệp ngày càng phải cung cấp dữ liệu nhất quán, có thể xác minh được như mức tiêu thụ năng lượng, phát thải, an toàn lao động, các chỉ số về lực lượng lao động và mức độ tuân thủ của nhà cung cấp. Chính quản trị doanh nghiệp là yếu tố khiến những dữ liệu đó đáng tin cậy: phân công trách nhiệm rõ ràng, định nghĩa thống nhất, hệ thống thu thập dữ liệu đáng tin cậy và các bước rà soát, kiểm soát giúp giảm rủi ro “tẩy xanh” (greenwashing).

Tại Việt Nam, nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu thu thập dữ liệu ESG nhưng số doanh nghiệp áp dụng các chuẩn mực báo cáo được công nhận hoặc có bên thứ ba đảm bảo xác minh độc lập vẫn còn ít. Thách thức cốt lõi nằm ở việc đo lường và báo cáo một cách hiệu quả, vốn thường bị cản trở bởi tình trạng dữ liệu rời rạc, phân tán.

QUẢN TRỊ TỐT CHO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Quản trị tốt cho phát triển bền vững không đòi hỏi sự hoàn hảo. Điều cần thiết là sự rõ ràng và kỷ luật trong một vài mảng mang tính thực tế.

Bắt đầu từ phân công giám sát và trách nhiệm rõ ràng. Hội đồng quản trị cần định hướng thông qua một uỷ ban chuyên trách hoặc một thành viên được chỉ định phụ trách và ban điều hành nên bổ nhiệm một lãnh đạo chuyên trách có thể điều phối giữa các bộ phận. Điều quan trọng nhất là sự minh bạch: ai ra quyết định, ai triển khai, và ai chịu trách nhiệm nếu tiến độ bị chậm.

Lồng ghép ESG vào hoạt động kinh doanh, thay vì coi như một hoạt động tách rời. Hãy chọn một vài ưu tiên thực sự quan trọng đối với mô hình kinh doanh như năng lượng và phát thải, an toàn nơi làm việc, trách nhiệm sản phẩm, tiêu chuẩn chuỗi cung ứng. Sau đó chuyển hóa các ưu tiên này thành một lộ trình đơn giản bao gồm hành động cụ thể, người phụ trách và mốc thời gian. Quan trọng nhất, gắn lộ trình đó với ngân sách, quyết định đầu tư, hoạt động mua sắm và các mục tiêu vận hành để bền vững trở thành một phần của kế hoạch thường nhật chứ không phải “việc làm thêm”.

Xây nền tảng vững: chính sách, kiểm soát và văn hoá doanh nghiệp. Phát triển bền vững sẽ không đứng vững nếu các yếu tố nền tảng còn yếu. Điều đó bao gồm quy tắc ứng xử rõ ràng, kiểm soát chống hối lộ và tham nhũng, quy định về xung đột lợi ích, kênh phản ánh an toàn, và quy trình thẩm định phù hợp đối với nhà cung cấp và các bên thứ ba khác. Trên thực tế, đây là việc đào tạo định kỳ, điều tra sự việc một cách nghiêm túc và xử lý tận gốc nguyên nhân thay vì “lặng lẽ cho qua”. Điều này càng quan trọng khi doanh nghiệp tăng trưởng nhanh, vì mở rộng nhanh như thêm địa điểm sản xuất kinh doanh, thêm nhà cung cấp, thêm thị trường thường diễn ra nhanh hơn tốc độ hoàn thiện chính sách và kiểm soát. Các lỗ hổng kiểm soát thường xuất hiện nhất chính ở “hệ sinh thái mở rộng” của doanh nghiệp: nhà cung cấp, nhà thầu, đại lý. Ở Đông Nam Á, nhiều vụ án kinh tế do chính bên thứ ba của doanh nghiệp gây ra. Quản trị bên thứ ba chặt chẽ không phải chuyện “có thì tốt, không có thì thôi”, đó là cách doanh nghiệp tự bảo vệ mình trong quá trình mở rộng.

Coi dữ liệu ESG như dữ liệu tài chính. Doanh nghiệp cần biết dữ liệu ESG đến từ đâu, ai xác thực và được rà soát như thế nào trước khi chia sẻ với khách hàng, nhà đầu tư hoặc cơ quan quản lý. Cách làm này góp phần giảm rủi ro “tẩy xanh” và giúp doanh nghiệp dễ dàng phản hồi các câu hỏi liên quan đến chuỗi cung ứng, yêu cầu tài trợ vốn và các chuẩn mực báo cáo đang thay đổi. Tại Việt Nam, 82% doanh nghiệp có tiến hành thu thập dữ liệu ESG, 43% áp dụng các chuẩn mực được công nhận và 32% có xác minh độc lập, những con số này cho thấy bước tiến đáng khích lệ nhưng vẫn còn dư địa để làm tốt hơn.

Đưa ESG vào quản trị hiệu quả công việc. Con người thường tập trung vào những gì được đo lường và được ghi nhận. Một bộ KPI nhỏ nhưng có ý nghĩa như mức độ sử dụng năng lượng trên sản lượng đầu ra, hoạt động an toàn, tỷ lệ hoàn thành đào tạo, mức độ tuân thủ của nhà cung cấp, các sự cố về quản trị có thể gắn với chỉ số đánh giá hoạt động của lãnh đạo. Mục tiêu không phải là tạo thêm thủ tục rườm rà mà là biến kết quả bền vững trở nên hữu hình, có người chịu trách nhiệm và quản lý nghiêm túc như đối với kết quả kinh doanh.

TOÀN HỆ THỐNG NÂNG TIÊU CHUẨN

Cơ quan quản lý đóng vai trò then chốt trong việc đưa tăng trưởng bền vững trở nên khả thi và đáng tin cậy. Những kỳ vọng rõ ràng, nhất quán về quản trị doanh nghiệp, công bố thông tin và chuẩn mực hành xử trên thị trường giúp doanh nghiệp lập kế hoạch, đầu tư và cạnh tranh trên một sân chơi bình đẳng. Nhiều doanh nghiệp tại Việt Nam cũng mong muốn có thêm các tiêu chuẩn xanh và cơ chế chứng nhận chính thức được triển khai. Một lộ trình triển khai theo giai đoạn ghi nhận những điểm khởi đầu khác nhau tại các tập đoàn lớn và nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể thúc đẩy việc áp dụng ESG mà không tạo ra những vướng mắc không cần thiết.

Tuy nhiên, chỉ tự doanh nghiệp cải thiện quản trị thì chưa đủ. Chúng ta cần huy động toàn bộ hệ thống: cơ quan quản lý, hiệp hội ngành nghề, ngân hàng, đơn vị kiểm toán, tổ chức xếp hạng tín nhiệm và các doanh nghiệp cùng phối hợp để thống nhất về khái niệm, chất lượng dữ liệu và hoạt động xác minh. Cần có các mẫu biểu chung, hướng dẫn theo ngành và chương trình nâng cao năng lực nhằm giúp giảm chi phí tuân thủ và nâng chuẩn trên toàn chuỗi cung ứng, đặc biệt với các nhà cung cấp nhỏ, vốn rất quan trọng đối với nền kinh tế xuất khẩu của Việt Nam.

Từ góc nhìn của chúng tôi trong lĩnh vực ngân hàng, cơ hội nằm ở việc kết nối các bên liên quan, chia sẻ thông lệ quốc tế và hỗ trợ khách hàng củng cố quản trị và báo cáo, không phải như một hoạt động “đánh bóng thương hiệu” mà như một lộ trình thực tế để tăng sức bền và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Việt Nam có tham vọng không nhỏ, chẳng hạn như mục tiêu trở thành nền kinh tế phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Để tham vọng này trở thành kết quả hữu hình, chúng ta cần năng lực thực thi và năng lực thực thi thì phụ thuộc vào quản trị. Nếu chúng ta làm tốt quản trị, niềm tin sẽ trở thành lợi thế cạnh tranh ở tầm quốc gia và tăng trưởng bền vững sẽ trở thành yếu tố đương nhiên.

Phil Wright, Giám đốc cấp cao, Khối Nghiệp vụ ngân hàng, HSBC Việt Nam

Có thể bạn quan tâm