Tiến sĩ Phạm S và hành trình cống hiến cho ngành chè Việt

Tiến sĩ Phạm S là nhà khoa học ghi dấu ấn đậm nét trong ngành chè Việt Nam với những nghiên cứu mang tính đột phá, đồng thời bền bỉ cống hiến cho sự phát triển của nền nông nghiệp hiện đại và đời sống người nông dân...

Trong dòng chảy không ngừng của tri thức và sự phát triển xã hội, những con người tận tâm với học thuật luôn để lại dấu ấn sâu sắc. Tiến sĩ Phạm S là một trong những gương mặt tiêu biểu như thế, ông không chỉ sở hữu nền tảng tri thức vững vàng mà còn có nhiều đóng góp thiết thực cho cộng đồng và lĩnh vực chuyên môn. Hành trình của ông là minh chứng rõ nét cho tinh thần học hỏi bền bỉ, ý chí vươn lên và khát vọng cống hiến không ngừng nghỉ.

TÂM HUYẾT VỚI NÔNG NGHIỆP

Tiến sĩ Phạm S, nguyên là Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng, Phó Chủ tịch Hội Khoa học và Công nghệ chè Việt Nam. Ông vừa là nhà quản lý, vừa là nhà khoa học, với niềm say mê nghiên cứu khoa học và tư duy hội nhập quốc tế.

Vốn sinh ra và lớn lên từ nông thôn, Tiến sĩ Phạm S luôn hiểu rõ sự khó khăn, vất vả của những người làm nông nghiệp. Dấu ấn đầu tiên trong cuộc đời làm khoa học của ông là vào năm 1997, khi ông cùng các cộng sự “khai sinh” hai giống chè là LĐ-97 và TB14. Đây là hai sản phẩm đã làm thay đổi toàn bộ cục diện ngành chè Lâm Đồng nói riêng và cả ngành chè Việt Nam nói chung.

Năm 1996, ông giữ cương vị Giám đốc Trung nghiên cứu thực nghiệm chè Lâm Đồng. Lúc bấy giờ, năng suất bình quân của chè trong nước chỉ khoảng 5 tấn/ha, thì các giống chè cao sản của Tiến sĩ Phạm S nghiên cứu đạt năng suất hơn 20 tấn/ha, trở thành bước đột phá đối với ngành chè Việt Nam.

Năm 2003, ông được bổ nhiệm Giám đốc Trung tâm nghiên cứu cây công nghiệp và cây ăn quả Lâm Đồng. Qua chuỗi thời gian nghiên cứu khoa học, xác định LĐ 97 là giống chè nghiên cứu được chọn lọc cá thể có năng suất từ 20 đến 22 tấn/ha, chất lượng tốt. “Đây là giống chè có nhiều mao trên tôm và lá non nhất trong tất các giống chè hiện nay ở Việt Nam và trên thế giới. Do đó, giá chè nguyên liệu LĐ 97 luôn cao hơn các giống chè cao sản khác từ 20 đến 25%”, Tiến sĩ Phạm S chia sẻ.

Theo Tiến sĩ Phạm S, Việt Nam có điều kiện khí hậu, đất đai rất phù hợp cho ngành chè phát triển và hiện đứng thứ 5 về diện tích trồng chè, thứ 6 trong bảng xếp hạng về sản lượng chè trên toàn thế giới. Cả nước có 34 tỉnh, thành phố trồng chè, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía bắc và Tây Nguyên, với tổng diện tích khoảng 130 nghìn ha, sản lượng đạt 1,02 triệu tấn chè búp tươi/năm, quy ra sản lượng chè khô đạt 196 nghìn tấn (năm 2022). Sản phẩm trà Việt Nam đã xuất khẩu đến 74 quốc gia và vùng lãnh thổ, chủ yếu là các thị trường, như Pakistan, Trung Quốc, Nga, Indonesia, Hoa Kỳ và các quốc gia Trung Đông...

LĐ 97 là giống chè có nhiều mao trên tôm và lá non nhất trong tất cả các giống chè hiện nay ở Việt Nam và trên thế giới. Do đó, giá chè nguyên liệu LĐ 97 luôn cao hơn các giống chè cao sản khác từ 20 đến 25%", Tiến sĩ Phạm S cho biết.

Đối với ngành chè Lâm Đồng, phát triển bền vững nhờ đột phá từ khoa học-công nghệ. Cây chè phôi thai tại Lâm Đồng từ năm 1927, do các doanh nhân người Pháp trồng, khai thác và diện tích luôn được mở rộng nhanh so với các cây trồng khác.

Trước năm 1975, diện tích chè Lâm Đồng đạt khoảng 5.000ha, được xem là tỉnh sản xuất chè thương mại sớm và có quy lớn nhất Việt Nam. Đến năm 2022, Lâm Đồng có diện tích chè hơn 11 nghìn ha, năng suất bình quân gần 15 tấn/ha, sản lượng hơn 164 nghìn tấn. Hiện, Lâm Đồng là địa phương có năng suất và sản lượng chè cao nhất nước, chiếm 25% về diện tích và 27% về sản lượng.

Trong những năm qua, tỉnh Lâm Đồng luôn đầu tư công tác chuyển đổi giống, tỷ lệ chè giống mới hàng năm chiếm 100% diện tích chè chuyển đổi toàn tỉnh. Cơ cấu giống chè đa dạng, với các tỷ lệ chè cành cao sản TB14, LĐ 97 (gần 60%); chè chất lượng cao kim tuyên, tứ quý, ô long, Ngọc Thúy (gần 13%); chè hạt (hơn 27%). Hàng năm, hơn 90% sản lượng giống chè cao sản và chè chất lượng cao của tỉnh đều phục vụ chế biến các sản phẩm trà đen, trà xanh, trà ô long và nhiều loại trà khác.

Có thể khẳng định, LĐ 97 là giống chè được chọn tạo từ nguồn gen tại tỉnh Lâm Đồng. Giống do tác giả bản quyền là nhà khoa học, Tiến sĩ Phạm S nghiên cứu.

Hiện chè LĐ 97 đã phát triển mở rộng sản xuất hàng nghìn ha tại tỉnh Lâm Đồng và các tỉnh, như Gia Lai, Quảng Nam, Nghệ An, Tuyên Quang và Phú Thọ. Sản phẩm trà LĐ 97 đạt Huy chương Vàng tại Hội thi chất lượng sản phẩm chè Việt Nam năm 2003; sản phẩm chè hương LĐ 97 của doanh nghiệp chè Làn Hương (thành phố Bảo Lộc, Lâm Đồng) đạt Huy chương Vàng tại Triễn lãm chè Việt Nam năm 2008.

Tiến sĩ Phạm S cho biết, nguyên liệu chè LĐ 97 có thể làm ra nhiều sản phẩm nhất trong các giống chè ở Việt Nam và trên thế giới, như: trà xanh, trà trắng, trà đen, trà vàng, hồng trà, trà hương, trà phổ nhĩ (Pu erh tea) và nước giải khát trà (trà ẩm liệu-tea beverage). Thời gian qua, LĐ 97 là giống chè được nhiều doanh nghiệp ở Lâm Đồng đầu tư sản xuất, kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao hơn một số giống chè khác và được người tiêu dùng ưa chuộng.

HÀNH TRÌNH KHÔNG NGỪNG CỐNG HIẾN

Trong suốt quá trình công tác, Tiến sĩ Phạm S luôn dành nhiều thời gian nghiên cứu cây chè. Ông đã công bố hàng chục bài báo khoa học, tham gia nhiều hội thảo khoa học quốc gia và quốc tế về chè; là tác giả 5 cuốn sách về chè; trực tiếp hướng dẫn và tham gia hướng dẫn đề tài, luận án cho hàng chục sinh viên và học viên cao học.

Tiến sĩ Phạm S còn chủ nhiệm đề tài và thành viên thực hiện nhiều đề tài khoa học cấp tỉnh và cấp quốc gia về chè trong nhiều năm liên tục; thực hiện dự án quốc tế do Ngân hàng Thế giới tài trợ ngành chè Việt Nam năm 2002-2004. Kết quả nghiên cứu của ông được chuyển giao, ứng dụng thực tiễn sản xuất đạt hiệu quả cao. Trong quá trình công tác, ông luôn định hướng phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao nói chung, ngành chè nói riêng.

Là người trải nghiệm về nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp thông minh 4.0 và nông nghiệp hữu cơ, theo Tiến sĩ Phạm S, Việt Nam nói chung và Lâm Đồng nói riêng có nhiều lợi thế để phát triển nông nghiệp, song tỷ lệ người dân nông thôn còn chiếm tỷ trọng cao, năng suất lao động quá thấp.

Do đó, sau khi nghỉ hưu, ông đã dành nhiều thời gian hơn để tiếp tục nghiên cứu các công trình mang tính đột phá mà quỹ thời gian quá ít trong thời gian công tác khiến tôi chưa có điều kiện nghiên cứu sâu.

"Về hưu rồi, tôi có nhiều thời gian để xuống đồng ruộng nhiều hơn, được đến giúp đỡ nhiều người nông dân hơn, sẽ có nhiều thời gian chia sẻ những kết quả nghiên cứu ở các trường Đại học, Viện nghiên cứu, các tập đoàn nông nghiệp ở Việt Nam và quốc tế", ông Phạm S chia sẻ.

Chia sẻ về những đóng góp của bản thân, Tiến sĩ Phạm S thẳng thắn cho rằng những kết quả đạt được đến nay vẫn còn khiêm tốn so với yêu cầu của thực tiễn. “Đó mới chỉ là một phần nhỏ, tôi cần cố gắng nhiều hơn nữa so với yêu cầu của thực tế. Đặc biệt sản xuất nông nghiệp trong điều kiện biến đổi khí hậu và hội nhập quốc tế", ông nói.

Xuất thân từ một vùng quê nghèo khó, ông thấu hiểu sâu sắc những nhọc nhằn của người nông dân - những con người “một nắng hai sương” từ thuở niên thiếu. Đặc biệt tại các vùng sinh thái miền Trung, nơi người dân quanh năm gắn bó với ruộng đồng nhưng cuộc sống vẫn còn nhiều thiếu thốn, những trải nghiệm ấy càng thôi thúc ông theo đuổi con đường nghiên cứu và cống hiến.

Với tất cả tâm huyết, ông Phạm S bày tỏ mong muốn tiếp tục đóng góp trí tuệ và công sức của mình nhằm hỗ trợ người nông dân thoát nghèo, vươn lên phát triển kinh tế, hướng tới cuộc sống ổn định, khá giả và thanh bình ở các vùng nông thôn mới; đồng thời góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn theo hướng bền vững.

Có thể bạn quan tâm