Văn phòng Chính phủ vừa ban hành Thông báo số 68/TB-VPCP, kết luận của Thường trực Chính phủ tại Phiên họp thứ 6 với Ban Chỉ đạo các công trình trọng điểm, dự án quan trọng quốc gia lĩnh vực đường sắt. Thông báo này đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong tiến trình triển khai các dự án đường sắt chiến lược, đặc biệt là Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam, công trình hạ tầng được xem là “xương sống” của mạng lưới giao thông quốc gia trong nhiều thập kỷ tới.
TĂNG TỐC CHUẨN BỊ CHO CÁC DỰ ÁN TRỌNG ĐIỂM
Theo kết luận của Thường trực Chính phủ, dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam đang bước vào giai đoạn chuẩn bị mang tính quyết định. Bộ Xây dựng được giao tiếp thu đầy đủ ý kiến của Thường trực Chính phủ và các cơ quan liên quan, khẩn trương hoàn thiện Báo cáo lựa chọn công nghệ và đối tác, bao gồm Báo cáo chính, Tờ trình tóm tắt và dự thảo kết luận, để báo cáo Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ trước ngày 20/2/2026, làm cơ sở xin ý kiến cấp có thẩm quyền.
Một mốc tiến độ quan trọng khác là phấn đấu hoàn thành việc lựa chọn tư vấn lập Báo cáo nghiên cứu khả thi (NCKT) trong Quý 2/2026. Song song với đó, Bộ Xây dựng tiếp tục nghiên cứu, đánh giá các hình thức đầu tư nhằm lựa chọn phương án tối ưu, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước - người dân - doanh nghiệp, đồng thời tạo dư địa thu hút sự tham gia của các tập đoàn lớn trong nước vào dự án hạ tầng có quy mô và tính chất lịch sử này.
Trong quá trình lập dự án, công tác giải phóng mặt bằng, di dời hạ tầng kỹ thuật tiếp tục được các địa phương và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) triển khai theo cơ chế đặc thù đã được Quốc hội cho phép tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, yếu tố then chốt nhằm rút ngắn thời gian chuẩn bị và giảm thiểu rủi ro chậm tiến độ.
Bên cạnh tuyến Bắc - Nam, dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng được xác định là trục kết nối chiến lược, gắn kết hành lang kinh tế phía Bắc với mạng lưới logistics, cảng biển và cửa khẩu quốc tế.
Theo chỉ đạo, đối với Dự án thành phần 1, Bộ Xây dựng tiếp tục yêu cầu Ban Quản lý dự án và các nhà thầu tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công, bảo đảm hoàn thành đúng kế hoạch. Với Dự án thành phần 2, Báo cáo NCKT phải được hoàn thành chậm nhất trong tháng 3/2026, phê duyệt dự án vào tháng 7/2026 và triển khai thi công một số hạng mục chính ngay trong Quý 3/2026.
Về nguồn lực tài chính, Bộ Tài chính được giao chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao và Bộ Xây dựng, khởi động đàm phán Hiệp định vay vốn trong tháng 3/2026. Đồng thời, Chính phủ yêu cầu chủ động tính toán huy động từ nhiều kênh: vốn ngân sách nhà nước (kế hoạch đầu tư công trung hạn, phát hành trái phiếu Chính phủ, nguồn tiết kiệm 5% chi đầu tư công năm 2026, tương đương khoảng 50.000 tỷ đồng) và vốn vay ưu đãi nếu điều kiện đàm phán thuận lợi.
Đáng chú ý, việc đàm phán Hiệp định xây dựng cầu đường sắt qua biên giới Việt – Trung cũng được thúc đẩy hoàn thành trong Quý I/2026, tạo tiền đề quan trọng cho kết nối liên vận quốc tế.
Song hành với các tuyến trục quốc gia, Chính phủ yêu cầu đẩy nhanh ký kết Thỏa thuận hỗ trợ kỹ thuật với phía Trung Quốc để hoàn thiện quy hoạch các tuyến Hà Nội - Lạng Sơn và Hải Phòng - Móng Cái trong năm 2026. Riêng dự án Móng Cái - Quảng Ninh - Hải Phòng, Thường trực Chính phủ thống nhất chủ trương giao UBND tỉnh Quảng Ninh làm cơ quan chủ quản, với yêu cầu Bộ Xây dựng sớm hướng dẫn triển khai đúng quy trình, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 10/02/2026.
Ở cấp đô thị, Hà Nội và TP.HCM được giao chủ động triển khai các tuyến đường sắt đô thị theo thẩm quyền, đặc biệt là các tuyến kết nối Cảng hàng không quốc tế Long Thành, tuyến Nhổn - Ga Hà Nội (đoạn ngầm), Văn Cao - Hòa Lạc, Nam Thăng Long - Trần Hưng Đạo. Định hướng phát triển tàu điện ngầm theo hướng “tiến sâu vào lòng đất” được nhấn mạnh, gắn với chương trình hành động của Đại hội XIV của Đảng.
Cùng với đó, Bộ Xây dựng, Bộ Khoa học và Công nghệ và các địa phương được yêu cầu khẩn trương nghiên cứu, xem xét ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về đường sắt đô thị, tạo nền tảng pháp lý và kỹ thuật thống nhất cho phát triển dài hạn.
Theo Vụ Kế hoạch - Tài chính, Bộ Xây dựng, tổng nhu cầu vốn ngân sách Trung ương để đầu tư 132 dự án do Bộ Xây dựng làm cơ quan chủ quản trong giai đoạn 2026 - 2030 ước tính hơn 1,5 triệu tỷ đồng. Trong đó, lĩnh vực đường sắt chiếm tỷ trọng lớn nhất với hơn 1,1 triệu tỷ đồng cho 20 dự án, phản ánh rõ ưu tiên chiến lược dành cho loại hình vận tải có năng lực chuyên chở lớn, hiệu quả dài hạn và thân thiện môi trường.
Riêng năm 2026, Bộ Xây dựng được giao tổng kế hoạch vốn 133.842 tỷ đồng, trong đó 101.737 tỷ đồng được bố trí cho hai dự án trọng điểm là đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam và đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng. Đây được xem là bước “đặt nền móng” về nguồn lực cho các dự án hạ tầng mang tính đột phá quốc gia.
Với tiến độ chuẩn bị đang được đẩy nhanh, khung pháp lý, tài chính dần hoàn thiện và quyết tâm chính trị rõ ràng, dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam không chỉ là một công trình giao thông đơn thuần, mà còn là trục xương sống chiến lược, tái cấu trúc không gian phát triển, thúc đẩy liên kết vùng và nâng tầm năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong nhiều thập kỷ tới.
“CHỐT CỬA” NHÀ ĐẦU TƯ KÉM THỰC LỰC
Trước đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 04/2026/NĐ-CP quy định về việc giao nhiệm vụ, đặt hàng cũng như hệ thống tiêu chí lựa chọn tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam tham gia cung cấp dịch vụ, hàng hóa công nghiệp đường sắt. Nghị định thiết lập một bộ tiêu chí mang tính toàn diện, bao phủ từ năng lực tài chính, cơ sở vật chất - kỹ thuật, nguồn nhân lực đến kinh nghiệm triển khai, khả năng tiếp nhận công nghệ, kiểm soát chất lượng và yếu tố giá thành.
Một điểm đáng chú ý của Nghị định là nhóm tiêu chí liên quan đến năng lực tài chính của nhà cung cấp. Theo đó, doanh nghiệp được xem xét giao nhiệm vụ hoặc đặt hàng phải có giá trị tài sản ròng trong năm tài chính gần nhất không âm, đồng thời chứng minh được khả năng bố trí vốn chủ sở hữu, huy động vốn vay và các nguồn vốn hợp pháp khác để triển khai nhiệm vụ được giao. Quy định này phản ánh đúng đặc thù của các dự án công nghiệp đường sắt, lĩnh vực đòi hỏi vốn đầu tư lớn, thời gian thực hiện kéo dài và mức độ rủi ro tài chính cao.
Đáng lưu ý, Nghị định đưa ra các ngưỡng về doanh thu và vốn điều lệ ở mức tương đối cao. Cụ thể, với doanh nghiệp đã hoạt động từ ba năm trở lên, doanh thu bình quân hằng năm của ba năm tài chính gần nhất phải đạt tối thiểu 8.000 tỷ đồng. Trường hợp doanh nghiệp thành lập dưới ba năm, tiêu chí được chuyển sang yêu cầu về vốn điều lệ, với mức tối thiểu 3.000 tỷ đồng.
Đối với các nhà cung cấp có vốn đầu tư nước ngoài, Nghị định quy định phải có ít nhất một nhà đầu tư trong nước nắm giữ trên 35% vốn điều lệ. Yêu cầu này nhằm bảo đảm vai trò tham gia thực chất của khu vực doanh nghiệp trong nước, tránh tình trạng doanh nghiệp Việt chỉ đóng vai trò “vệ tinh” trong các dự án công nghiệp đường sắt.
Song song với năng lực tài chính, Nghị định 04/2026/NĐ-CP đặt ra yêu cầu cụ thể về cơ sở vật chất - kỹ thuật. Doanh nghiệp tham gia phải sở hữu hoặc kiểm soát hệ thống nhà xưởng, kho bãi, máy móc, thiết bị và dây chuyền công nghệ phục vụ sản xuất, thử nghiệm, đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ hoặc đơn hàng được giao. Đặc biệt, Nghị định dành sự ưu tiên cho các nhà cung cấp có cơ sở đào tạo và trung tâm nghiên cứu - phát triển (R&D) trong lĩnh vực dịch vụ, hàng hóa công nghiệp đường sắt, với hệ thống công nghệ hiện đại, phù hợp với tính chất nhiệm vụ.
Nguồn nhân lực được xác định là một trong những trụ cột quan trọng của bộ tiêu chí. Doanh nghiệp phải chứng minh có đội ngũ chuyên gia, cán bộ kỹ thuật và người lao động đáp ứng yêu cầu về quản lý, nghiên cứu, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và tay nghề. Trong bối cảnh công nghiệp đường sắt là lĩnh vực có yêu cầu kỹ thuật cao, tiêu chuẩn nghiêm ngặt và đòi hỏi mức độ an toàn đặc biệt, bảo đảm chất lượng nhân lực được xem là điều kiện then chốt để các nhiệm vụ được triển khai đúng tiến độ và đạt yêu cầu kỹ thuật.
Về năng lực và kinh nghiệm thực hiện, Nghị định yêu cầu nhà cung cấp phải có giải pháp kỹ thuật, quy trình sản xuất và công nghệ tiên tiến, có khả năng điều chỉnh linh hoạt theo yêu cầu của từng dự án. Đồng thời, doanh nghiệp phải xây dựng lộ trình và cam kết cụ thể về nội địa hóa sản phẩm, bảo đảm tỷ lệ nội địa hóa tăng dần theo thời gian, phù hợp với lộ trình do Bộ Công Thương công bố. Đây được xem là điểm nhấn quan trọng, thể hiện mục tiêu phát triển công nghiệp hỗ trợ và gia tăng giá trị nội địa cho ngành đường sắt.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải chứng minh đã từng thực hiện ít nhất một nhiệm vụ hoặc dự án trong lĩnh vực tương tự, hoặc có kinh nghiệm hoạt động trong ngành nghề cung cấp dịch vụ, hàng hóa tương đương. Trường hợp chưa có kinh nghiệm trực tiếp, doanh nghiệp được phép tham gia thông qua hình thức hợp tác với đối tác có kinh nghiệm trong lĩnh vực công nghiệp đường sắt. Đối với đối tác nước ngoài, Nghị định yêu cầu phải có cam kết chuyển giao công nghệ toàn bộ hoặc một phần cho phía Việt Nam, phù hợp với quy định của pháp luật về chuyển giao công nghệ.
Nghị định cũng đặt ra yêu cầu về năng lực tiếp nhận công nghệ, kế hoạch triển khai và cam kết hoàn thành nhiệm vụ đúng tiến độ. Các chính sách bảo hành, bảo trì và hỗ trợ khách hàng phải được xây dựng rõ ràng, bảo đảm tính lâu dài, phù hợp với đặc thù khai thác, vận hành của ngành đường sắt.
Liên quan đến chất lượng sản phẩm, Nghị định quy định các dịch vụ, hàng hóa công nghiệp đường sắt phải đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật theo yêu cầu của cơ quan giao nhiệm vụ hoặc đặt hàng. Doanh nghiệp phải có hệ thống kiểm soát chất lượng và chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy đối với sản phẩm đã sản xuất, hoặc cam kết cung cấp đầy đủ các chứng nhận này khi bàn giao đối với sản phẩm sản xuất lần đầu. Toàn bộ chi phí thử nghiệm, chứng nhận và các chi phí liên quan do nhà cung cấp tự chi trả theo quy định của pháp luật.
Yếu tố chi phí và giá cả cũng được xác định là tiêu chí quan trọng trong quá trình lựa chọn nhà cung cấp. Theo đó, giá dịch vụ, hàng hóa công nghiệp đường sắt phải bảo đảm tính cạnh tranh, công khai, minh bạch và không vượt dự toán được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Quy định này nhằm hài hòa giữa yêu cầu kiểm soát ngân sách nhà nước và việc khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, mở rộng năng lực sản xuất trong lĩnh vực mang tính chiến lược.
Với hệ thống tiêu chí được thiết kế tương đối chặt chẽ, Nghị định 04/2026/NĐ-CP đang hình thành một “khung chuẩn năng lực” rõ ràng đối với các doanh nghiệp, nhà đầu tư mong muốn tham gia sâu vào chuỗi cung ứng công nghiệp đường sắt. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh đầu tư kết cấu hạ tầng, hiện đại hóa ngành đường sắt và phát triển công nghiệp hỗ trợ, các quy định này được kỳ vọng sẽ giúp sàng lọc, lựa chọn những chủ thể đủ tiềm lực, kinh nghiệm và cam kết dài hạn, qua đó tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp đường sắt trong thời gian tới.
Trong bối cảnh Nghị định 04/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực, vấn đề lựa chọn nhà đầu tư cho Dự án đường sắt tốc độ cao trục Bắc - Nam đang được đặt trong một khung pháp lý chặt chẽ hơn, với mức độ sàng lọc cao hơn so với trước đây.
Theo thông tin hiện có, đã có 13 đơn vị đăng ký tham gia nghiên cứu, đề xuất đầu tư dự án, bao gồm Tập đoàn Trường Hải (THACO), liên danh Mekolor – Great USA, Công ty Cổ phần Xây dựng Thăng Long Quốc gia, Công ty Cổ phần Vận tải đường sắt Việt Nam, Tập đoàn Vinaconey, Công ty TNHH Việt Nam 3000, Tập đoàn Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Công ty Cổ phần Quản lý quỹ đầu tư FARM13, Công ty Cổ phần Phần mềm - Tự động hóa - Điều khiển, Tập đoàn Công nghiệp Quang Trung, Công ty TNHH HSC-VN, Tập đoàn Đầu tư Trương Gia, Công ty Cổ phần Discovery và Công ty Cổ phần Reign.
Trong giai đoạn then chốt của quá trình chuẩn bị dự án, việc Chính phủ ban hành Nghị định 04/2026/NĐ-CP được xem là bước đi nhằm hạn chế tình trạng “đề xuất mang tính hình thức”, đồng thời thiết lập một mặt bằng tiêu chí đủ cao để định hướng dòng vốn, công nghệ và nguồn lực vào những doanh nghiệp có khả năng triển khai dự án một cách bài bản và dài hạn.