Giá nông sản hôm nay (16/7): Giá cà phê và hồ tiêu đồng loạt bật tăng

Bản tin cập nhật những thông tin đáng chú ý trên thị trường nông sản; giá cả các mặt hàng chủ lực như thịt lợn, lúa gạo, cà phê, hồ tiêu…

0:00 / 0:00
0:00
Giá nông sản hôm nay (16/7): Giá cà phê và hồ tiêu đồng loạt bật tăng

Ngày 16/7, giá các mặt hàng nông sản chủ lực có xu hướng biến động không đáng kể tại thị trường trong nước.

GIÁ GẠO

Giá lúa hôm nay (16/7) tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long điều chỉnh giảm nhẹ. Cụ thể, giá lúa tươi IR 50404 giảm 100 đồng/kg dao động ở mức 5.400 - 5.500 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 (tươi) giảm 100 đồng/kg dao động ở mốc 6.100 - 6.200 đồng/kg. Trong khi đó, giá gạo đi ngang.

120-1767186752-120-1765700102-120-1764821105-banner012.jpg
Giá gạo trong nước ít biến động

Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi IR 50404 hôm nay giảm 100 đồng/kg dao động ở mức 5.400 - 5.500 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 (tươi) giảm 100 đồng/kg dao động ở mốc 6.100 - 6.200 đồng/kg; lúa tươi OM 18 dao động ở mốc 6.200 - 6.300 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.400 - 5.600 đồng/kg; lúa OM 5451 (tươi) dao động mốc 5.700 - 5.800 đồng/kg.

Tại các địa phương hôm nay, giao dịch mua bán chậm, giá lúa biến động nhẹ. Tại An Giang, giao dịch mua bán chậm, một số loại giá lúa tươi giảm nhẹ. Tại Cần Thơ, Đồng Tháp, Cà Mau, Vĩnh Long, Tây Ninh giá lúa tươi các loại ít biến động.

Với mặt hàng gạo, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 hôm nay dao động ở mức 9.200 - 9.300 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 8.700 - 8.800 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 5451 dao động ở mức 9.500 - 9.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo thành phẩm IR 504 dao động ở 10.750 - 10.900 đồng/kg.

Với phụ phẩm, giá các mặt hàng phụ phẩm dao động khoảng từ 7.800 - 8.050 đồng/kg. Hiện tấm thơm dao động ở mức 8.000 - 8.100 đồng/kg; giá cám dao động ở mức 7.950 - 8.100 đồng/kg.

Tại các chợ lẻ, giá gạo bình giá. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo Đài thơm dao động 14.500 - 15.500 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; giá gạo thường dao động ở mốc 14.000 - 15.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 16.000 - 17.000 đồng/kg, gạo Sóc thường dao động ở mốc 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.

Phân khúc nếp không đổi so với hôm qua. Cụ thể, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg; giá nếp 3 tháng khô 9.600 - 9.700 đồng/kg.

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu Việt Nam đi ngang. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo Jasmine được chào bán ở mức 508 - 512 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm dao động trong khoảng 495-450 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm dao động từ 347 - 351 USD/tấn.

Trên thị trường thế giới, giá gạo 5% tấm tại Thái Lan dao động 480 - 484 USD/tấn, gạo 100% tấm dao động từ 412 - 416 USD/tấn.

Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm dao động ở mức 350 - 354 USD/tấn, gạo 100% tấm chào bán 280 - 284 USD/tấn.

GIÁ CÀ PHÊ

Khảo sát sáng 16/7 cho thấy giá cà phê tại khu vực Tây Nguyên đồng loạt tăng 1.200 đồng/kg sau phiên điều chỉnh trước đó, đưa mặt bằng giá lên 96.700 - 97.300 đồng/kg. Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) tiếp tục là địa phương có mức thu mua cao nhất với 97.300 đồng/kg.

image-18.jpg
Giá cà phê trong nước bật tăng mạnh

Đắk Lắk và Gia Lai cùng đạt 97.200 đồng/kg, trong khi Lâm Đồng được giao dịch ở 96.700 đồng/kg, thấp nhất khu vực.

Đợt phục hồi này giúp giá cà phê trong nước tiến gần mốc 100.000 đồng/kg sau nhiều phiên biến động mạnh theo xu hướng của thị trường thế giới.

Trên thị trường thế giới, giá cà phê diễn biến trái chiều. Cụ thể, trên sàn London, giá cà phê Robusta giao tháng 9/2026 tăng 15 USD/tấn (0,39%) lên 3.849 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 11 cũng nhích thêm 4 USD/tấn (0,11%), đạt 3.800 USD/tấn.

Trong khi đó, trên sàn New York, giá cà phê Arabica tiếp tục điều chỉnh giảm. Hợp đồng giao tháng 9/2026 mất 3,9 US cent/pound (1,18%), xuống 326,1 US cent/pound, còn hợp đồng giao tháng 12 giảm 3,05 US cent/pound (0,98%), xuống 308 US cent/pound.

GIÁ TIÊU

Khảo sát sáng 16/7 cho thấy, thị trường hồ tiêu trong nước đã lấy lại đà tăng sau phiên điều chỉnh trước đó. Giá thu mua tại các vùng nguyên liệu trọng điểm đồng loạt tăng từ 2.000 - 3.000 đồng/kg, dao động trong khoảng 136.500 - 140.000 đồng/kg.

Cụ thể, Đắk Lắk và Đắk Nông cũ (tỉnh Lâm Đồng) cùng tăng mạnh 3.000 đồng/kg, đưa giá thu mua trở lại mốc 140.000 đồng/kg, cao nhất cả nước.

Tại Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh), giá tiêu tăng 2.500 đồng/kg, lên 137.500 đồng/kg. Trong khi đó, Đồng Nai và Gia Lai cùng tăng 2.000 đồng/kg, lần lượt đạt 137.000 đồng/kg và 136.500 đồng/kg.

Theo cập nhật từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, giá hồ tiêu trên thị trường thế giới chưa ghi nhận biến động mới.

Giá tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục ổn định, với loại 500 g/l được chào bán ở mức 5.850 USD/tấn, còn loại 550 g/l ở mức 5.950 USD/tấn.

Tại các nước sản xuất lớn, tiêu đen Indonesia vẫn được niêm yết ở 7.079 USD/tấn, tiêu đen Brazil loại ASTA 570 giữ mức 5.900 USD/tấn, trong khi Malaysia tiếp tục có giá cao nhất với 9.350 USD/tấn.

Đối với tiêu trắng, tiêu trắng Muntok của Indonesia duy trì ở 9.198 USD/tấn. Giá tiêu trắng xuất khẩu của Việt Nam giữ ở 8.200 USD/tấn, còn Malaysia tiếp tục dẫn đầu với 12.250 USD/tấn.

GIÁ CAO SU

Trong nước, các công ty chế biến cao su trong nước tiếp tục duy trì trạng thái bình ổn.

Cụ thể, tại Công ty Phú Riềng, chào giá thu mua mủ tạp ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.

Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước ghi nhận khoảng 458 - 463 đồng/TSC (loại 2 - loại 1), mủ đông tạp khoảng 404 - 459 đồng/DRC (loại 2 - loại 1).

Công ty Bình Long, giá cao su thu mua tại Nhà máy ở mức 540 đồng/độ TSC/kg; thu mua tại đội sản xuất 530 đồng/TSC/kg; giá mủ tạp (DRC 60%) 18.000 đồng/kg.

image-19.jpg
Trong nước, các công ty chế biến cao su trong nước tiếp tục duy trì trạng thái bình ổn

Công ty Cao su Bà Rịa thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 14.600 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.

Theo giới phân tích, việc giá thu mua trong nước đi ngang cho thấy doanh nghiệp vẫn thận trọng trước biến động của thị trường quốc tế. Trong thời gian tới, diễn biến giá cao su sẽ tiếp tục chịu tác động từ nhu cầu của ngành sản xuất lốp xe, nguồn cung tại các nước sản xuất lớn và xu hướng giá dầu trên thị trường thế giới.

Kết thúc phiên giao dịch, giá cao su kỳ hạn tháng 8 trên Sàn Giao dịch Osaka (OSE) - Nhật Bản tăng 8 Yên (1,91%) lên 426,5 Yên/kg. Hợp đồng cao su giao tháng 12 tăng 6,6 Yên, tương đương 1,57%, lên 427,6 Yên (2,63 USD)/kg.

Tại Thái Lan, giá cao su nội địa (RSS3) giao tháng 8 tăng 0,20 Baht lên 91,50 baht/kg.

Trên Sàn Giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải (SHFE) - Trung Quốc, giá cao su kỳ hạn tháng 8 tăng 45 Nhân dân tệ (0,27%) lên 16.965 Nhân dân tệ/tấn. Hợp đồng cao su giao tháng 9 tăng 150 Nhân dân tệ, tương đương 0,89%, lên 17.065 Nhân dân tệ (2.516,92 USD)/tấn.

Hợp đồng cao su butadiene giao tháng 9 giao dịch sôi động nhất tăng 510 Nhân dân tệ, tương đương 3,96%, lên 13.390 Nhân dân tệ/tấn.

Trên nền tảng SICOM của Sàn Giao dịch SGX - Singapore,hợp đồng cao su kỳ hạn tháng 8 giao dịch lần cuối ở mức 217,3 US cent/kg, tăng 1,3%.

Đà tăng chủ yếu đến từ giá dầu đi lên, vốn đã nâng đỡ cao su butadiene - loại cao su tổng hợp được sản xuất từ dầu thô. Giá dầu tăng gần 3% lên mức cao nhất 4 tuần khi Mỹ tái áp đặt lệnh phong tỏa hải quân đối với Iran, đồng thời hai nước gia tăng các cuộc tấn công tại Eo biển Hormuz, làm dấy lên bất ổn về dòng chảy năng lượng. Cao su tự nhiên thường biến động theo giá dầu do cạnh tranh thị phần với cao su tổng hợp.

Về nguồn cung, sản lượng cao su tự nhiên của Malaysia trong tháng 5 giảm 16,7% so với cùng kỳ năm trước, còn 20.198 tấn, trong khi tồn kho giảm 6,2% so với tháng trước, xuống 122.658 tấn, theo số liệu công bố ngày thứ Hai của Cục Thống kê Malaysia.

Tại Thái Lan - nước sản xuất cao su lớn nhất thế giới - cơ quan khí tượng cảnh báo mưa lớn và lũ quét từ ngày 13 - 15/7, có thể ảnh hưởng đến hoạt động khai thác mủ tại các vùng trọng điểm.

GIÁ THỊT LỢN

Tại miền Bắc, giá lợn hơi hôm nay tăng 1.000 đồng/kg tại Cao Bằng, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Phú Thọ và Sơn La, trong khi các địa phương còn lại giữ nguyên so với hôm trước.

Cụ thể, giá lợn tại Thái Nguyên và Bắc Ninh cùng tăng 1.000 đồng/kg, lên mức 67.000 đồng/kg. Cao Bằng, Lạng Sơn, Phú Thọ và Sơn La cũng tăng 1.000 đồng/kg, lên 66.000 đồng/kg.

Sau điều chỉnh, Hà Nội, Hưng Yên, Thái Nguyên và Bắc Ninh cùng giao dịch ở mức 67.000 đồng/kg, cao nhất cả nước. Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình, Lai Châu, Điện Biên, Phú Thọ và Sơn La cùng giữ mức 66.000 đồng/kg. Lào Cai tiếp tục là địa phương có mức giá thấp nhất khu vực với 65.000 đồng/kg.

Hiện giá lợn hơi miền Bắc dao động từ 65.000 đồng/kg đến 67.000 đồng/kg.

Tại Miền Trung - Tây Nguyên, giá lợn hơi hôm nay tăng 1.000 đồng/kg tại Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai và Đắk Lắk, các địa phương còn lại giữ ổn định.

Cụ thể, giá lợn tại Huế tăng 1.000 đồng/kg, lên mức 64.000 đồng/kg. Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai và Đắk Lắk cùng tăng 1.000 đồng/kg, lên 63.000 đồng/kg.

gia-heo-hoi-hom-nay-10-4-ekqj.jpg
Hiện giá heo hơi trên cả nước dao động từ 62.000 - 67.000 đồng/kg

Sau điều chỉnh, Thanh Hóa và Nghệ An tiếp tục giữ mức 65.000 đồng/kg, cao nhất khu vực. Hà Tĩnh, Quảng Trị, Huế và Lâm Đồng cùng giao dịch ở mức 64.000 đồng/kg. Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai và Đắk Lắk cùng đạt 63.000 đồng/kg, trong khi Khánh Hòa duy trì mức 62.000 đồng/kg.

Hiện giá lợn hơi miền Trung - Tây Nguyên dao động từ 62.000 đồng/kg đến 65.000 đồng/kg.

Tại miền Nam, giá lợn hơi hôm nay tăng 1.000 đồng/kg tại Đồng Tháp và Cà Mau, trong khi các địa phương còn lại giữ ổn định.

Cụ thể, giá lợn tại Đồng Tháp và Cà Mau cùng tăng 1.000 đồng/kg, lên mức 62.000 đồng/kg.

Sau điều chỉnh, Đồng Nai tiếp tục là địa phương có mức giá cao nhất khu vực với 64.000 đồng/kg. TP.Hồ Chí Minh duy trì mức 63.000 đồng/kg.

Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang, Cà Mau, Vĩnh Long và Cần Thơ cùng giao dịch ở mức 62.000 đồng/kg.

Hiện giá lợn hơi miền Nam dao động từ 62.000 đồng/kg đến 64.000 đồng/kg.

Theo khảo sát từ trang winmart.vn giá thịt lợn ghi nhận giữ giá ổn định, niêm yết trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg. Cụ thể, thịt lợn xay là sản phẩm có giá bán thấp nhất, duy trì mức 102.322 đồng/kg. Tiếp đó là các sản phẩm thịt nạc đùi, nạc vai lợn và chân giò rút xương, với giá bán lần lượt là 122.320 đồng/kg, 126.320 đồng/kg và 127.922 đồng/kg.

Như vậy, giá thịt lợn tại WinMart hiện dao động trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg và được giảm giá 20% theo chương trình ưu đãi dành cho hội viên của WinMart.

Xem thêm

Có thể bạn quan tâm