Ngày 25/8, giá các mặt hàng nông sản chủ lực có xu hướng biến động không đáng kể tại thị trường trong nước.
GIÁ GẠO ÍT BIẾN ĐỘNG
Giá lúa gạo hôm nay (25/8) tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ít biến động. Trong khi đó, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam chưa thay đổi, giao dịch quanh ngưỡng 370 - 542 USD/tấn.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 hôm nay dao động ở mức 9.450 - 9.550 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động ở mức 9.500 - 9.550 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 5451 dao động ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Với phụ phẩm, giá các mặt hàng phụ phẩm dao động khoảng từ 7.450 - 8.750 đồng/kg. Hiện tấm thơm dao động ở mức 8.600 - 8.750 đồng/kg; giá cám dao động ở mức 7.450 - 7.550 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, giá gạo thơm Jasmine hôm nay tăng 1.000 đồng/kg, dao động ở mức 16.500 - 18.00 đồng/kg. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo Đài thơm dao động 15.500 - 17.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo thường dao động ở mốc 13.500 - 15.500 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 14.000 - 15.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg; gạo OM 18 dao động ở mốc 15.500 - 16.500 đồng/kg.
Phân khúc nếp không đổi so với hôm qua. Cụ thể, giá nếp 3 tháng khô 9.600 - 9.700 đồng/kg; giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg.
Với mặt hàng lúa, giá lúa tươi IR 50404 hôm nay dao động ở mức 6.300 - 6.400 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 6.000 - 6.200 đồng/kg; lúa tươi Đài Thơm 8 dao động ở mốc 6.800 - 7.000 đồng/kg; lúa tươi OM 18 dao động ở mốc 6.900 - 7.100 đồng/kg; lúa OM 5451 (tươi) dao động mốc 6.600 - 6.700 đồng/kg.
Tại các địa phương hôm nay, giao dịch mua bán chậm, giá lúa vững. Tại An Giang, thương lái hỏi mua mới ít, giá lúa tươi ít biến động. Tại Đồng Tháp, giao dịch lúa mới ngưng trễ, bạn hàng ngừng mua nhiều. Tại Tây Ninh, Đồng Tháp, Cần Thơ, Cà Mau, Vĩnh Long, Tây Ninh, giá lúa vững.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu Việt Nam đứng giá. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, giá gạo thơm 5% tấm dao động trong khoảng 500 - 505 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm dao động từ 370 - 374 USD/tấn; gạo Jasmine được chào bán ở mức 538 - 542 USD/tấn.
Trên thị trường thế giới, giá gạo 5% tấm tại Thái Lan dao động 450 - 454 USD/tấn, gạo 100% tấm dao động từ 374 - 378 USD/tấn.
Tại Ấn Độ, giá gạo 5% tấm dao động ở mức 360 - 364 USD/tấn, gạo 100% tấm dao động 292 - 296 USD/tấn.
GIÁ CÀ PHÊ TIẾP TỤC TĂNG
Hôm nay, giá cà phê hôm nay tại các tỉnh Tây Nguyên đồng loạt tăng 300 đồng/kg so với hôm qua, đưa mặt bằng thu mua lên khoảng 96.000 - 96.800 đồng/kg. Cụ thể, tại Đắk Nông cũ (Lâm Đồng), giá cà phê tăng lên 96.800 đồng/kg, tiếp tục là mức cao nhất trong các địa phương được khảo sát.
Tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cà phê cùng tăng 300 đồng/kg, đạt 96.500 đồng/kg. Trong khi đó, Lâm Đồng cũng tăng tương ứng, lên 96.000 đồng/kg, thấp nhất khu vực.
Trên thị trường thế giới, hai dòng cà phê chủ chốt cũng cho thấy xu hướng khác biệt. Cụ thể, trên sàn London, giá cà phê Robusta hợp đồng giao tháng 9/2026 ở mức 3.598 USD/tấn, giảm 0,6%, tương đương 23 USD/tấn. Ngược lại, hợp đồng giao tháng 11/2026 tăng 0,7%, tương đương 24 USD/tấn, lên 3.618 USD/tấn.
Trên sàn New York, giá cà phê Arabica tăng khá mạnh. Hợp đồng giao tháng 9/2026 tăng 6,1%, tương đương 20,7 US cent/pound, lên 358,75 US cent/pound. Hợp đồng tháng 12/2026 tăng 2,7%, đạt 322,65 US cent/pound.
GIÁ TIÊU ĐI NGANG
Giá tiêu hôm nay tại các vùng trồng trọng điểm chưa ghi nhận biến động mới, tiếp tục duy trì trong khoảng 136.000 - 139.000 đồng/kg.
Cụ thể, Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) tiếp tục là khu vực có giá thu mua cao nhất, đạt 139.000 đồng/kg. Đứng tiếp theo là Đắk Lắk với mức 138.000 đồng/kg.
Tại Gia Lai, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh), giá tiêu cùng được thu mua quanh mức 136.000 đồng/kg.
Như vậy, thị trường hồ tiêu trong nước tiếp tục nối dài chuỗi phiên đi ngang. Mặt bằng giá vẫn được giữ tương đối ổn định trong bối cảnh nguồn cung và nhu cầu chưa xuất hiện yếu tố đủ mạnh để tạo ra biến động đáng kể.
Trên thị trường thế giới, diễn biến tương tự cũng được ghi nhận. Theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, giá tiêu tại các nguồn cung chủ chốt tiếp tục ổn định.
Tiêu đen Indonesia hiện được niêm yết ở mức 6.851 USD/tấn, trong khi tiêu đen ASTA 570 của Brazil đạt 5.900 USD/tấn và tiêu đen Malaysia ở mức 9.300 USD/tấn.
Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu duy trì trong khoảng 5.990 - 6.050 USD/tấn, tương ứng với các chủng loại 500 g/l và 550 g/l.
Ở phân khúc tiêu trắng, tiêu trắng Muntok của Indonesia giữ mức 9.380 USD/tấn. Giá tiêu trắng Việt Nam đạt 8.400 USD/tấn, trong khi Malaysia tiếp tục đứng ở mức cao 12.200 USD/tấn.
GIÁ CAO SU ỔN ĐỊNH
Trong nước, giá thu mua mủ cao su nguyên liệu tại các doanh nghiệp lớn vẫn duy trì ổn định. Cụ thể, tại Công ty Phú Riềng, chào giá thu mua mủ tạp ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.
Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước ghi nhận khoảng 458 - 463 đồng/TSC (loại 2 - loại 1), mủ đông tạp khoảng 404 - 459 đồng/DRC (loại 2 - loại 1).
Công ty Bình Long, giá cao su thu mua tại Nhà máy ở mức 540 đồng/độ TSC/kg; thu mua tại đội sản xuất 530 đồng/TSC/kg; giá mủ tạp (DRC 60%) 18.000 đồng/kg.
Công ty Cao su Bà Rịa thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 14.600 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.
Kết thúc phiên giao dịch, giá cao su trên Sàn giao dịch Osaka (OSE) - Nhật Bản hợp đồng giao tháng 9 tăng 3,5 Yên (0,78%) lên 454,8 Yên/kg.
Tại Thái Lan, giá cao su nội địa (RSS3) tăng 0,55 Baht (0,63%) lên mức 88,15 Baht/kg.
Trên Sàn Giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải (SHFE) - Trung Quốc, giá cao su tự nhiên hợp đồng giao tháng 9 tăng 125 Nhân dân tệ (0,71%) lên 17.640 Nhân dân tệ/tấn.
Trên nền tảng SICOM thuộc Sàn Giao dịch SGX - Singapore, hợp đồng cao su kỳ hạn gần nhất giao tháng 11 được giao dịch ở mức 229,3 US cent/kg, tăng 0,7%.
Theo dự báo mới nhất của Hiệp hội các nước sản xuất cao su thiên nhiên (ANRPC), sản lượng cao su thiên nhiên toàn cầu năm 2026 dự kiến đạt 15,31 triệu tấn, trong khi tiêu thụ ở mức 15,41 triệu tấn, tương ứng mức thâm hụt khoảng 101.000 tấn.
Tình trạng mất cân đối cung cầu này được phản ánh qua mặt bằng giá neo cao mà giới phân tích ghi nhận, dù tăng trưởng nhu cầu cao su vẫn ở mức vừa phải trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều bất định. ANRPC nhấn mạnh, mức tiêu thụ cao su thiên nhiên dự kiến tăng trong năm 2026 đi kèm biến động giá lớn hơn, khi thị trường vẫn chịu tác động từ những khó khăn vĩ mô, căng thẳng địa chính trị và các gián đoạn do thời tiết ảnh hưởng tới mùa vụ tại Đông Nam Á.
ANRPC dự báo, sản lượng cao su thiên nhiên tăng trong năm 2026 sẽ đến từ Thái Lan, Trung Quốc, Ấn Độ và Malaysia, trong khi Indonesia và Việt Nam được dự báo sụt giảm. Sự dịch chuyển này phản ánh những ràng buộc về cấu trúc và nông học, cùng điều kiện thời tiết bất lợi, đáng chú ý là nền nhiệt cao và các đợt mưa thất thường tại Đông Nam Á và Nam Á gắn với hiện tượng El Nino. Nỗ lực cải tạo và tái canh vườn cây vẫn là yếu tố then chốt để củng cố tiềm năng sản xuất trong trung hạn.
GIÁ THỊT LỢN TIẾP TỤC TĂNG
Tại miền Bắc, giá lợn hơi hôm nay tiếp tục nối dài xu hướng phục hồi khi tất cả địa phương được khảo sát đồng loạt tăng 1.000 đồng/kg. Sau điều chỉnh, giá lợn hơi tại khu vực này dao động trong khoảng 58.000 - 59.000 đồng/kg, cao nhất cả nước.
Cụ thể, Tuyên Quang, Cao Bằng, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Phòng, Ninh Bình, Phú Thọ và Hưng Yên cùng nâng giá thu mua lên 59.000 đồng/kg.
Các địa phương còn lại gồm Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên và Sơn La cũng tăng 1.000 đồng/kg, lên mức 58.000 đồng/kg.
Với diễn biến này, miền Bắc tiếp tục là khu vực dẫn dắt đà phục hồi của thị trường lợn hơi cả nước, đồng thời thiết lập mặt bằng giá mới cao hơn so với cuối tuần trước.
Tại Miền Trung - Tây Nguyên, giá lợn hơi hôm nay tương đối ổn định khi chỉ ghi nhận Lâm Đồng tăng 1.000 đồng/kg. Các địa phương còn lại giữ nguyên mức giao dịch so với phiên trước.
Sau điều chỉnh, giá lợn hơi tại khu vực dao động từ 56.000 - 58.000 đồng/kg.
Trong đó, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị và Lâm Đồng cùng đứng ở mức cao nhất khu vực là 58.000 đồng/kg. Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai và Đắk Lắk duy trì mức 57.000 đồng/kg.
Khánh Hòa tiếp tục là địa phương có giá lợn hơi thấp nhất khu vực và cũng là mức thấp nhất cả nước, với 56.000 đồng/kg.
Tại miền Nam, giá lợn hơi hôm nay xu hướng tăng cũng xuất hiện tại một số địa phương. Đồng Tháp và Cà Mau cùng tăng 1.000 đồng/kg, lên mức 57.000 đồng/kg. Những tỉnh, thành còn lại không ghi nhận biến động mới.
Hiện thương lái tại miền Nam thu mua lợn hơi trong khoảng 57.000 - 58.000 đồng/kg. Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh và Vĩnh Long tiếp tục dẫn đầu khu vực với mức 58.000 đồng/kg. Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang, Cà Mau và Cần Thơ cùng giao dịch ở mức 57.000 đồng/kg.
Theo khảo sát từ trang winmart.vn giá thịt lợn ghi nhận giữ giá ổn định, niêm yết trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg. Cụ thể, thịt lợn xay là sản phẩm có giá bán thấp nhất, duy trì mức 102.322 đồng/kg. Tiếp đó là các sản phẩm thịt nạc đùi, nạc vai lợn và chân giò rút xương, với giá bán lần lượt là 122.320 đồng/kg, 126.320 đồng/kg và 127.922 đồng/kg.
Như vậy, giá thịt lợn tại WinMart hiện dao động trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg và được giảm giá 20% theo chương trình ưu đãi dành cho hội viên của WinMart.