Ngày 26/3, giá các mặt hàng nông sản chủ lực có xu hướng biến động không đáng kể tại thị trường trong nước.
GIÁ GẠO
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang và Lúa gạo Việt, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 5451 hôm nay dao động ở mức 8.300 - 8.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động ở mức 7.800 - 7.900 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.150 - 9.350 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 8.000 - 8.100 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.900 - 9.100 đồng/kg; đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600; gạo thành phẩm IR 504 dao động ở 9.500 - 9.700 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, gạo các loại đứng giá. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo thường dao động ở mốc 12.000 - 13.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.
Với mặt hàng lúa, theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi OM 18 hôm nay giảm 100 đồng/kg dao động ở mốc 5.600 - 5.700 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 (tươi) giảm 100 đồng/kg dao động ở mốc 5.600 - 5.700 đồng/kg; lúa IR 50404 (tươi) dao động ở mức 5.200 - 5.300 đồng/kg; lúa OM 5451 (tươi) dao động mốc 5.400 - 5.500 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.100 - 5.200 đồng/kg.
Tại các địa phương hôm nay, giao dịch mua bán yếu, một số lúa tươi giảm nhẹ. Tại An Giang, nguồn lúa Đông Xuân chào bán đều, giá biến động nhẹ. Tại Đồng Tháp, giao dịch mua bán lúa mới gần ngày cắt khá hơn, giá ít biến động. Tại Cần Thơ, nông dân chào bán lúa Đông Xuân khá nhiều, giá neo cao, thương lái chốt mua ít. Tại Cà Mau, Vĩnh Long, Tây Ninh, giao dịch mua bán ít, giá ít biến động.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu Việt Nam hiện duy trì ở nhiều mức khác nhau. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm đang được chào bán trong khoảng 400 - 415 USD/tấn; gạo 100% tấm dao động từ 316 - 320 USD/tấn; còn gạo Jasmine dao động ở mức 430 - 434 USD/tấn.
Trên thị trường thế giới, tại Thái Lan, giá gạo 5% tấm xuất khẩu dao động 381 - 385 USD/tấn, gạo 100% tấm ở mức 363 - 367 USD/tấn. Trong khi đó, tại Ấn Độ, gạo 5% tấm được chào bán dao động 351 - 355 USD/tấn và gạo 100% tấm ở mức 304 - 308 USD/tấn.
GIÁ CÀ PHÊ
Khảo sát thị trường sáng 26/3 cho thấy, giá cà phê tại khu vực Tây Nguyên đã đảo chiều tăng sau phiên giảm trước đó. Hiện giá cà phê nhân xô dao động trong khoảng 93.200 - 94.200 đồng/kg, tăng từ 500 - 600 đồng/kg so với ngày hôm qua.
Cụ thể, tại Đắk Nông, giá cà phê được các đại lý điều chỉnh tăng 500 đồng/kg, lên mức 94.200 đồng/kg, cao nhất trong các vùng trồng cà phê trọng điểm. Tại Đắk Lắk và Gia Lai, cà phê cũng tăng 500 đồng/kg, hiện được giao dịch ở mức 94.000 đồng/kg. Trong khi đó, Lâm Đồng ghi nhận mức tăng mạnh hơn, khoảng 600 đồng/kg, đưa giá thu mua lên 93.200 đồng/kg.
Theo các thương nhân, đà tăng của thị trường nội địa chủ yếu được hỗ trợ bởi diễn biến tích cực trên các sàn giao dịch quốc tế, đặc biệt là sự phục hồi mạnh của giá cà phê Arabica.
Trên thị trường thế giới, giá cà phê đảo chiều tăng. Tại sàn London, giá cà phê Robusta hợp đồng giao tháng 5/2026 tăng 0,69% (tương đương 25 USD/tấn), lên mức 3.662 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 7/2026 cũng tăng 0,65% (23 USD/tấn), đạt 3.581 USD/tấn.
Trên sàn New York, giá cà phê Arabica tăng mạnh hơn. Hợp đồng giao tháng 5/2026 tăng tới 3,53% (10,85 US cent/pound), lên mức 317,85 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 7/2026 cũng tăng 3,5% (10,5 US cent/pound), đạt 310,35 US cent/pound.
GIÁ TIÊU
Giá tiêu tại các địa phương sản xuất trọng điểm sáng 26/3 đã tăng mạnh so với ngày hôm trước, với mức tăng phổ biến từ 2.000 - 3.000 đồng/kg. Theo đó, giá tiêu trong nước hiện dao động trong khoảng 137.000 – 139.000 đồng/kg.
Tại khu vực Tây Nguyên, Đắk Lắk và Đắk Nông ghi nhận mức tăng mạnh nhất, cùng tăng 3.000 đồng/kg, đưa giá thu mua lên mức cao nhất là 139.000 đồng/kg. Trong khi đó, tại khu vực Đông Nam Bộ, giá tiêu tại Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. HCM) tăng 2.000 đồng/kg lên mức 137.500 đồng/kg. Gia Lai và Đồng Nai cũng ghi nhận mức tăng tương tự, hiện phổ biến quanh mốc 137.000 đồng/kg.
Theo các thương nhân, đà tăng trở lại của giá tiêu trong nước chủ yếu xuất phát từ hoạt động thu mua mạnh hơn khi thị trường bước vào cao điểm thu hoạch. Bên cạnh đó, nguồn cung thực tế từ nông dân không quá dồi dào như kỳ vọng cũng góp phần hỗ trợ giá.
Trên thị trường quốc tế, giá tiêu tại các quốc gia sản xuất lớn nhìn chung vẫn giữ xu hướng ổn định trong phiên giao dịch gần nhất.
Theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, giá tiêu đen Indonesia hiện được giao dịch ở mức 6.994 USD/tấn. Trong khi đó, giá tiêu đen Brazil loại ASTA 570 đứng ở mức 6.050 USD/tấn; tiêu đen Malaysia đạt khoảng 9.100 USD/tấn. Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu tiếp tục duy trì trong khoảng 6.300 - 6.400 USD/tấn đối với các loại 500 g/l và 550 g/l.
Giá tiêu trắng Muntok của Indonesia đạt 9.260 USD/tấn. Tại Việt Nam và Malaysia, giá tiêu trắng lần lượt được ghi nhận ở mức 9.050 USD/tấn và 12.100 USD/tấn, không thay đổi so với ngày hôm trước.
Diễn biến đi ngang trên thị trường thế giới cho thấy nguồn cung và nhu cầu toàn cầu đang tạm thời cân bằng, trong khi hoạt động giao dịch tại nhiều thị trường vẫn khá thận trọng.
GIÁ CAO SU
Trong nước, giá thu mua mủ cao su tại nhiều doanh nghiệp vẫn duy trì ổn định. Cụ thể, tại Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước ở mức 458 - 463 đồng/TSC (loại 2 - loại 1), mủ đông tạp khoảng 404 - 459 đồng/DRC (loại 2 - loại 1).
Công ty Phú Riềng, chào giá thu mua mủ tạp bình ổn ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.
Công ty Bình Long, giá cao su thu mua bình ổn tại Nhà máy ở mức 432 đồng/độ TSC/kg; giá thu mua tại đội sản xuất 422 đồng/TSC/kg; giá mủ tạp bình ổn (DRC 60%) 14.000 đồng/kg.
Công ty Cao su Bà Rịa cũng báo giá thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 14.600 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.
Việc giá cao su trong nước duy trì ổn định cho thấy nguồn cung nguyên liệu hiện vẫn tương đối cân bằng, trong khi nhu cầu thu mua từ doanh nghiệp chưa có sự đột biến. Đồng thời, thị trường nội địa cũng ít chịu tác động tức thời từ biến động ngắn hạn trên các sàn quốc tế.
Trên thị trường thế giới, kết thúc phiên giao dịch, giá cao su kỳ hạn tháng 4/2026 tại Thái Lan tăng 0,09% (1 Baht/kg).
Tại Nhật Bản, giá cao su kỳ hạn tháng 4/2026 đi ngang mức 350 Yên/kg.
Tại Trung Quốc, giá cao su kỳ hạn tháng 4 tăng 0,09% (15 Nhân dân tệ) lên mức 16.210 Nhân dân tệ/tấn.
Trên Sàn giao dịch Singapore (SICOM), hợp đồng cao su kỳ hạn tháng 4 giao dịch gần nhất ở mức 360,7 cent Mỹ/kg, tăng 1,2%.
Trong khi đó, giá cao su kỳ hạn xa tại Nhật Bản bật tăng khi giá cao su butadiene tăng mạnh gần đây, khiến cao su tự nhiên có xu hướng dao động ở mức cao trong ngắn hạn.
Trên Sàn Giao dịch Osaka (OSE), hợp đồng cao su giao tháng 8/2026 tăng 3,8 Yên, tương đương 1,06% lên 360,7 Yên (2,27 USD)/kg.
Tại Sàn Giao dịch Tương lai Thượng Hải (SHFE), hợp đồng cao su giao tháng 5 tăng 60 Nhân dân tệ, tương đương 0,37%, lên 16.225 Nhân dân tệ (2.355,14 USD)/tấn.
Ngược lại, hợp đồng cao su butadiene tháng 5 trên SHFE giảm nhẹ 10 Nhân dân tệ, tương đương 0,06% xuống còn 16.800 Nhân dân tệ (2.438,60 USD)/tấn.
Báo cáo từ Tianfeng Futures cho biết, sự tăng giá của hợp đồng cao su tổng hợp xuất phát từ sự kết hợp của các rủi ro địa chính trị, chi phí đầu vào cao và sự thu hẹp nguồn cung. Giá dầu thô liên tục ở mức cao đã tạo kỳ vọng tăng chi phí trên toàn chuỗi ngành năng lượng và hóa chất, khiến cao su tổng hợp có xu hướng dao động ở mức cao trong ngắn hạn.
Nhu cầu cao từ xuất khẩu lốp xe đã hỗ trợ cho thị trường, nhưng chi phí cao su butadiene tăng đang gây áp lực lớn cho các nhà sản xuất lốp, khiến họ tìm kiếm lựa chọn thay thế. Giá cao su butadiene tăng cao cũng đã hỗ trợ giá cao su tự nhiên nhờ hiệu ứng thay thế.
GIÁ THỊT LỢN
Khảo sát tại miền Bắc, giá lợn hơi hôm nay không có biến động, các địa phương đồng loạt giữ giá so với hôm trước.
Cụ thể, giá lợn tại Tuyên Quang, Hải Phòng, Điện Biên, Sơn La và Hưng Yên duy trì mức 65.000 đồng/kg.
Các địa phương như Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hà Nội, Ninh Bình, Lào Cai và Phú Thọ tiếp tục giữ mức 64.000 đồng/kg. Trong khi đó, Thái Nguyên và Lai Châu vẫn là những địa phương có mức giá thấp nhất khu vực, cùng duy trì 63.000 đồng/kg.
Hiện giá lợn hơi tại miền Bắc dao động từ 63.000 đồng/kg đến 65.000 đồng/kg.
Tại Miền Trung - Tây Nguyên, giá lợn hơi hôm nay tiếp tục đi ngang diện rộng. Cụ thể, giá lợn tại Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh giữ mức 64.000 đồng/kg.
lợn hơi tại Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai và Khánh Hòa duy trì mức 65.000 đồng/kg; Quảng Trị giữ mức 66.000 đồng/kg; Đắk Lắk ổn định ở mức 67.000 đồng/kg. Lâm Đồng tiếp tục là địa phương có giá cao nhất khu vực, duy trì mức 68.000 đồng/kg.
Hiện giá lợn hơi tại miền Trung - Tây Nguyên dao động từ 64.000 đồng/kg đến 68.000 đồng/kg.
Tại miền Nam, giá lợn hơi hôm nay tiếp tục duy trì mặt bằng giá cao. Cụ thể, giá lợn tại Đồng Nai, Tây Ninh, Đồng Tháp, TP Hồ Chí Minh và Vĩnh Long cùng giữ mức 69.000 đồng/kg.
Tại Cần Thơ duy trì mức 68.000 đồng/kg; Cà Mau giữ mức 67.000 đồng/kg; An Giang tiếp tục đi ngang ở mức 66.000 đồng/kg.
Hiện giá lợn hơi tại miền Nam dao động từ 66.000 đồng/kg đến 69.000 đồng/kg.
Theo khảo sát từ trang winmart.vn giá thịt lợn ghi nhận giữ giá ổn định, niêm yết trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg. Cụ thể, thịt lợn xay là sản phẩm có giá bán thấp nhất, duy trì mức 102.322 đồng/kg. Tiếp đó là các sản phẩm thịt nạc đùi, nạc vai lợn và chân giò rút xương, với giá bán lần lượt là 122.320 đồng/kg, 126.320 đồng/kg và 127.922 đồng/kg.
Như vậy, giá thịt lợn tại WinMart hiện dao động trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg và được giảm giá 20% theo chương trình ưu đãi dành cho hội viên của WinMart.