Ngày 16/3, giá các mặt hàng nông sản chủ lực có xu hướng biến động không đáng kể tại thị trường trong nước.
GIÁ GẠO
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang và Lúa gạo Việt, giá gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 hôm nay tăng 100 đồng/kg dao động 9.200 - 9.300 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 giảm 100 đồng/kg dao động ở mức 7.900 - 8.000 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 8.000 - 8.100 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.900 - 9.100 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.600 - 7.770 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 5451 dao động ở mức 8.800 - 8.900 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600; gạo thành phẩm IR 504 dao động ở 9.500 - 9.700 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, gạo các loại bình giá so với hôm qua. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo thường dao động ở mốc 12.000 - 13.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.
Tương tự với mặt hàng lúa, giá lúa tươi IR 50404 hôm nay dao động ở mức 5.400 - 5.500 đồng/kg; giá lúa OM 5451 (tươi) dao động mốc 5.800 - 6.000 đồng/kg; giá lúa OM 4218 dao động 6.200 - 6.400 đồng/kg; giá lúa OM 18 (tươi) dao động ở mốc 6.500 - 6.700 đồng/kg; giá lúa Đài Thơm 8 (tươi) dao động ở mốc 6.500 - 6.700 đồng/kg; giá lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.200 - 5.400 đồng/kg.
Tại các địa phương hôm nay, giao dịch mua bán trở lại nhưng thương lái ít mua, lúa tươi vững giá. Tại An Giang, giao dịch mua bán yếu, thương lái hỏi mua trở lại, giao dịch chốt ít, giá tương đối ổn định. Tại Đồng Tháp, nhiều bạn hàng hỏi mua trở lại, giá ít biến động. Tại Cần Thơ, Cà Mau, Vĩnh Long, Tây Ninh, giao dịch lúa đầu năm ít, thương lái hỏi mua trở lại, giá ít biến động.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam biến động trái chiều so với đầu tuần. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, hiện gạo thơm 5% tấm giá dao động ở mức 400 - 415 USD/tấn; gạo 100% tấm dao động ở mức 316 - 320 USD/tấn (giảm 2 USD/tấn); gạo Jasmine giá dao động 433 - 437 USD/tấn (tăng 2 USD/tấn).
GIÁ CÀ PHÊ
Kết thúc tuần giao dịch vừa qua, thị trường cà phê trong nước ghi nhận đợt giảm mạnh tại các tỉnh Tây Nguyên, khu vực sản xuất cà phê lớn nhất cả nước.
Theo khảo sát, giá cà phê hiện dao động trong khoảng 89.700 - 90.700 đồng/kg, giảm khoảng 6.000 - 6.600 đồng/kg so với tuần trước, tương đương mức giảm 6,2 - 6,9%. Đây cũng là mức giá thấp nhất được ghi nhận kể từ cuối tháng 12/2025.
Trong đó, Lâm Đồng là địa phương ghi nhận mức giảm mạnh nhất khi giá cà phê giảm 6.600 đồng/kg, xuống còn 89.700 đồng/kg. Tại Đắk Nông, giá cà phê giảm khoảng 6.000 đồng/kg, hiện được thu mua ở mức 90.700 đồng/kg. Tương tự, giá cà phê tại Đắk Lắk và Gia Lai cũng giảm 6.000 đồng/kg, hiện dao động quanh mức 90.500 đồng/kg.
Theo các thương nhân, việc nông dân bắt đầu bán ra nhiều hơn trong bối cảnh lo ngại giá có thể tiếp tục giảm đã góp phần khiến thị trường điều chỉnh mạnh trong tuần qua.
Trên thị trường quốc tế, giá cà phê cũng giảm đáng kể trong tuần qua, đặc biệt là dòng Robusta. Trên sàn London, giá cà phê Robusta giao kỳ hạn tháng 5/2026 đóng cửa tuần ở mức 3.455 USD/tấn, giảm 8,4% (317 USD/tấn) so với tuần trước. Hợp đồng giao tháng 7/2026 cũng giảm 8,3% (307 USD/tấn), xuống còn 3.372 USD/tấn.
Trên sàn New York, giá cà phê Arabica giao kỳ hạn tháng 5/2026 giảm 2,8% (8,2 US cent/pound), còn 285,15 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 7/2026 giảm 3,1% (9,1 US cent/pound), xuống mức 279,4 US cent/pound.
GIÁ TIÊU
Khảo sát thị trường sáng 16/3 cho thấy, giá hồ tiêu tại các vùng sản xuất trọng điểm trong nước đã quay đầu giảm trở lại sau giai đoạn tăng trước đó.
Hiện giá tiêu tại các địa phương dao động trong khoảng 142.500 - 144.500 đồng/kg, giảm từ 1.000 - 2.000 đồng/kg so với ngày hôm trước. Nếu tính chung cả tuần qua, giá tiêu trong nước đã giảm khoảng 1.500 - 2.000 đồng/kg so với tuần trước.
Cụ thể, Đắk Lắk và Đắk Nông đều ghi nhận mức giảm khoảng 2.000 đồng/kg trong tuần qua, hiện giao dịch quanh mức 144.500 đồng/kg. Gia Lai cũng giảm 2.000 đồng/kg, đưa giá tiêu tại địa phương này xuống còn 142.500 đồng/kg.
Trong khi đó, Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. HCM) giảm khoảng 1.500 đồng/kg, hiện được thu mua ở mức 143.500 đồng/kg. Một số địa phương khác duy trì mức giá quanh 143.000 - 144.000 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, giá tiêu xuất khẩu trong tuần qua có sự phân hóa giữa các quốc gia sản xuất lớn. Theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, giá tiêu đen xuất khẩu của Indonesia tăng 61 USD/tấn so với tuần trước, lên mức 7.014 USD/tấn.
Giá tiêu đen Brazil loại ASTA 570 cũng tăng khoảng 50 USD/tấn, hiện được chào bán ở mức 6.100 USD/tấn. Ngược lại, giá tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam giảm khoảng 100 USD/tấn trong tuần qua, xuống còn khoảng 6.300 - 6.400 USD/tấn đối với các loại 500 g/l và 550 g/l. Trong khi đó, giá tiêu đen Malaysia tiếp tục giữ ổn định ở mức 9.100 USD/tấn.
Ở phân khúc tiêu trắng, giá tiêu trắng Muntok Indonesia tăng nhẹ khoảng 25 USD/tấn trong tuần qua, lên mức 9.287 USD/tấn.
Trái lại, giá tiêu trắng xuất khẩu của Việt Nam giảm 100 USD/tấn, còn khoảng 9.050 USD/tấn, trong khi Malaysia vẫn giữ ổn định ở mức 12.100 USD/tấn.
GIÁ CAO SU
Trong nước, các doanh nghiệp bình ổn giá cao su. Cụ thể, tại Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước ở mức 458 - 463 đồng/TSC (loại 2 - loại 1), mủ đông tạp khoảng 404 - 459 đồng/DRC (loại 2 - loại 1).
Công ty Phú Riềng, chào giá thu mua mủ tạp bình ổn ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.
Công ty Bình Long, giá cao su thu mua bình ổn tại Nhà máy ở mức 432 đồng/độ TSC/kg; giá thu mua tại đội sản xuất 422 đồng/TSC/kg; giá mủ tạp bình ổn (DRC 60%) 14.000 đồng/kg.
Công ty Cao su Bà Rịa cũng báo giá thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 14.600 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.
Kết thúc phiên giao dịch trực tuyến sáng nay, giá cao su RSS3 trên sàn Tocom (Tokyo) đồng loạt tăng nhẹ tại các kỳ hạn. Cụ thể, hợp đồng kỳ hạn tháng 4/2026 tăng 5 Yên/kg (+ 1,37%), lên mức 370 Yên/kg; hợp đồng tháng 5/2026 tăng 4 Yên/kg (+ 1,08%), lên mức 373 Yên/kg.
Trên sàn Giao dịch Hàng hóa Thượng Hải (SHFE), giá cao su tự nhiên biến động trái chiều tại các kỳ hạn. Theo đó, hợp đồng kỳ hạn tháng 4/2026 đảo chiều tăng 145 NDT/tấn (+ 0,84%), lên mức 17.305 NDT/tấn; hợp đồng tháng 5/2026 giảm 110 NDT/tấn (- 0,64%), xuống 17.085 NDT/tấn.
Thị trường cao su thế giới đang chịu tác động đồng thời từ yếu tố địa chính trị, năng lượng và nhu cầu công nghiệp, khiến triển vọng giá trong ngắn hạn trở nên khó đoán định.
Dữ liệu giao dịch cũng cho thấy, thị trường đang phản ứng khá thận trọng. Trên Sàn giao dịch Singapore (SICOM), hợp đồng cao su giao tháng 4 được giao dịch quanh mức 198,8 US cent/kg, giảm nhẹ 0,2% trong phiên gần nhất. Theo các nhà giao dịch, sự suy yếu này phản ánh tâm lý phòng thủ của nhà đầu tư trước những rủi ro địa chính trị đang gia tăng tại khu vực Trung Đông.
Ở góc độ vĩ mô, theo phân tích của Nanhua Futures, thị trường còn chịu sức ép từ nhiều yếu tố khác như thanh khoản suy giảm, gián đoạn một số tuyến xuất khẩu, áp lực lạm phát và tâm lý né tránh rủi ro trên thị trường tài chính toàn cầu.
GIÁ THỊT LỢN
Khảo sát tại miền Bắc, giá lợn hơi hôm nay duy trì ổn định so với cuối tuần trước, dù một số địa phương có xu hướng giảm nhẹ. Hiện giá lợn hơi tại khu vực này dao động trong khoảng 60.000 - 63.000 đồng/kg.
Cụ thể, Cao Bằng, Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Phòng, Điện Biên và Hưng Yên đang giao dịch ở mức 63.000 đồng/kg, thuộc nhóm cao nhất khu vực.
Tuyên Quang, Ninh Bình và Sơn La duy trì mức 62.000 đồng/kg. Trong khi đó, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Lào Cai và Phú Thọ cùng giao dịch ở mức 61.000 đồng/kg. Lai Châu tiếp tục là địa phương có mức giá thấp nhất khu vực khi duy trì ở 60.000 đồng/kg.
Tại Miền Trung - Tây Nguyên, giá lợn hơi trong tuần qua ghi nhận những biến động trái chiều. Tuy nhiên, từ giữa tuần, giá lợn hơi tại một số địa phương khu vực Bắc Trung Bộ đã bắt đầu nhích lên.
Khảo sát mới nhất cho thấy, giá lợn hơi tại khu vực này hiện dao động phổ biến từ 61.000 - 65.000 đồng/kg. Trong đó, Lâm Đồng tiếp tục là địa phương có mức giao dịch cao nhất khu vực với giá 65.000 đồng/kg.
Các tỉnh Quảng Trị, Huế, Đắk Lắk và Khánh Hoà đang giao dịch ở mức 63.000 đồng/kg. Đà Nẵng, Quảng Ngãi và Gia Lai duy trì mức 62.000 đồng/kg. Trong khi đó, Thanh Hoá và Nghệ An cũng giữ mức 62.000 đồng/kg, còn Hà Tĩnh tiếp tục là địa phương có giá thấp nhất khu vực với 61.000 đồng/kg.
Tại miền Nam, giá lợn hơi tiếp tục có xu hướng giảm trong tuần qua. Hiện giá lợn hơi tại khu vực này dao động trong khoảng 64.000 - 66.000 đồng/kg.
Trong đó, TP Hồ Chí Minh vẫn duy trì mức giá cao nhất khu vực là 66.000 đồng/kg. Các tỉnh Đồng Nai, Tây Ninh, An Giang, Cà Mau và Cần Thơ đang giao dịch ở mức 65.000 đồng/kg. Trong khi đó, Đồng Tháp và Vĩnh Long ghi nhận mức giá thấp hơn là 64.000 đồng/kg.
Nhìn chung, giá lợn hơi trên cả nước hôm nay tiếp tục ghi nhận biến động giữa các khu vực. Miền Bắc và miền Trung bắt đầu xuất hiện xu hướng tăng nhẹ từ giữa tuần, trong khi miền Nam vẫn duy trì đà giảm. Hiện, giá lợn hơi trên cả nước đang dao động trong khoảng 60.000 - 66.000 đồng/kg.
Theo khảo sát từ trang winmart.vn giá thịt lợn ghi nhận giữ giá ổn định, niêm yết trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg. Cụ thể, thịt lợn xay là sản phẩm có giá bán thấp nhất, duy trì mức 102.322 đồng/kg. Tiếp đó là các sản phẩm thịt nạc đùi, nạc vai lợn và chân giò rút xương, với giá bán lần lượt là 122.320 đồng/kg, 126.320 đồng/kg và 127.922 đồng/kg.
Như vậy, giá thịt lợn tại WinMart hiện dao động trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg và được giảm giá 20% theo chương trình ưu đãi dành cho hội viên của WinMart.