Bức tranh kinh tế quý 3/2026 qua các con số

0:00 / 0:00
0:00
kte-thang-9-nam-2026.jpg

Trong 9 tháng đầu năm 2026, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường cũng như thiên tai, biến đổi khí hậu, cùng những thách thức về an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh mạng... ngày càng gia tăng khiến tăng trưởng kinh tế toàn cầu có xu hướng suy giảm.

Trong bối cảnh đó, các tổ chức quốc tế có những điều chỉnh khác nhau về triển vọng tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2026. Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), Liên hợp quốc (UN) điều chỉnh dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới cao hơn so với dự báo đưa ra trước đó với mức tăng 0,1 điểm phần trăm nhưng đều thấp hơn nhiều so với năm 2025.

Đối với khu vực Đông Nam Á, các tổ chức quốc tế đưa ra những đánh giá khác nhau về tăng trưởng kinh tế năm 2026 của từng nền kinh tế, trong đó Việt Nam được dự báo có tốc độ tăng trưởng cao nhất. Theo đó, tăng trưởng năm 2026 của Việt Nam được dự báo trong khoảng từ 7,5 - 8,2%; Indonesia từ 5 - 5,2%; Malaysia từ 4,7 - 4,9%; Philippines từ 3,3 - 4,1%; Singapore từ 4,8 - 5% và Thái Lan từ 1,9 - 2,4%.

gdp.jpg
gdp-cua-viet-nam-quy-3-nam-2026.jpg

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý 3/2026 ước tính tăng 9,95% so với cùng kỳ năm 2025, cao hơn mức tăng 8,15% của quý 1 và 8,81% của quý 2. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,21%, đóng góp 5,14% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 12,5%, đóng góp 51,57%; Khu vực dịch vụ tăng 9,54%, đóng góp 43,29%.

Về sử dụng GDP quý 3/2026, tiêu dùng cuối cùng tăng 8,96% so với cùng kỳ năm ngoái; tích lũy tài sản tăng 21,39%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 23,27%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 28,75%.

GDP 9 tháng năm 2026 ước tăng 9,01% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,02%, đóng góp 5,35% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%, đóng góp 49,62%; khu vực dịch vụ tăng 8,69%, đóng góp 45,03%.

Về sử dụng GDP 9 tháng năm 2026, tiêu dùng cuối cùng tăng 8,51% so với cùng kỳ năm 2025; tích lũy tài sản tăng 17,88%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 21,29%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 27,19%.

Về tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố (GRDP) 9 tháng năm 2026, có 12/34 địa phương đạt mức tăng trưởng từ 10% trở lên, trong đó Quảng Ninh dẫn đầu với mức tăng 12,54%; tiếp theo là Hà Tĩnh 12,36%; Hải Phòng 12,08%; Bắc Ninh 11,81%; Ninh Bình 11,31%. Một số địa phương có tốc độ tăng GRDP thấp: Sơn La 5,59%; Vĩnh Long 7,32%; Cà Mau 7,37%; Đồng Tháp 7,44% do sự sụt giảm của sản xuất điện và ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng khá cao trong cơ cấu kinh tế tại các địa phương này. Nhìn chung, tăng trưởng cao tập trung chủ yếu ở các địa phương có nền tảng công nghiệp, quy mô sản xuất chế biến, chế tạo lớn, đồng thời được thúc đẩy bởi đầu tư, xuất khẩu và sự phát triển của khu vực dịch vụ, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế chung của cả nước.

chi-so-gia-tieu-dung.jpg
chi-so-cpi-cua-viet-nam-thang-9-nam-2026.jpg

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9/2026 tăng 0,62% so với tháng 8/2026, chủ yếu do giá xăng dầu trong nước điều chỉnh tăng theo giá nhiên liệu thế giới.

CPI bình quân quý 3/2026 tăng 4,8% so với quý 3/2025. Bình quân
9 tháng năm 2026, CPI tăng 4,52% so với cùng kỳ năm ngoái; lạm phát cơ bản tăng 4,26%.

CPI bình quân quý 3/2026 tăng 4,8% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó: Chỉ số giá thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,32%; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,24%; Giáo dục tăng 3,44%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 3,55%; Đồ uống và thuốc lá tăng 4,18%; Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,58%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,9%; Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,59%; Giao thông tăng 7,73%.

CPI bình quân 9 tháng năm 2026 tăng 4,52% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó: Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,72%, tác động làm CPI chung tăng 1,69 điểm phần trăm; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,68%, tác động tăng 1,52 điểm phần trăm; nhóm giao thông tăng 6,06%, tác động tăng 0,6 điểm phần trăm; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,61%, tác động tăng 0,17 điểm phần trăm; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 3,74%, tác động tăng 0,07 điểm phần trăm; nhóm giáo dục tăng 3,35%, tác động tăng 0,20 điểm phần trăm; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,84%, tác động tăng 0,15 điểm phần trăm; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,78%, tác động tăng 0,09 điểm phần trăm; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,05%, tác động tăng 0,07 điểm phần trăm; nhóm thuốc, dịch vụ y tế tăng 1,12%; nhóm thông tin, truyền thông tăng 0,12%.

Lạm phát cơ bản tháng 9/2026 tăng 0,11% so với tháng 8/2026 và tăng 4,45% so với cùng kỳ năm 2025. Bình quân 9 tháng năm 2026, lạm phát cơ bản tăng 4,26% so với cùng kỳ năm ngoái, thấp hơn mức tăng 4,52% của CPI bình quân chung, chủ yếu do giá xăng dầu, gas, lương thực, thực phẩm tươi sống, dịch vụ y tế biến động làm CPI chung tăng, trong khi các nhóm này được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.

Bình quân giá vàng thế giới trong tháng (tính đến ngày 25/9) ở mức 4.434,45 USD/ounce, tăng 1,31% so với tháng 8/2026, chủ yếu do đồng USD suy yếu, lợi suất trái phiếu Mỹ giảm và dòng vốn đầu tư vào các quỹ vàng tăng. Trong nước, chỉ số giá vàng tháng 9/2026 tăng 2,38% so với tháng trước; tăng 12,42% so với cùng kỳ năm 2025. Bình quân 9 tháng năm 2026 tăng 42,67% so với cùng kỳ năm ngoái.

Chỉ số USD bình quân trên thị trường quốc tế trong tháng (tính đến ngày 25/9) đạt mức 99,5 điểm, giảm 0,16 điểm so với tháng 8/2026, trong bối cảnh kỳ vọng về chính sách tiền tệ của Mỹ thay đổi và lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ giảm. Trong nước, chỉ số giá đô la Mỹ tháng 9/2026 giảm 0,69% so với tháng trước; giảm 1,34% so với cùng kỳ năm 2025. Bình quân 9 tháng năm 2026 tăng 1,01% so với cùng kỳ năm ngoái.

hoat-dong-dich-vu.jpg
tong-muc-ban-le-hang-hoa-va-doanh-thu-dich-vu-tieu-dung-trong-thang-9-nam-2026.jpg

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành tháng 9 năm 2026 ước đạt 690,6 nghìn tỷ đồng, tăng 1,7% so với tháng 8/2026 và tăng 14,1% so với cùng kỳ năm 2025.

Trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa của hầu hết các nhóm hàng đều có xu hướng cùng tăng so với tháng trước và cùng kỳ năm ngoái như: Đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 2,9% so với tháng trước và tăng 9,7% so với cùng kỳ năm 2025; Sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy và xe có động cơ tăng 2,4% và tăng 15,2%; Các nhóm hàng hóa: Gỗ và vật liệu xây dựng, hàng hóa khác, xăng, dầu các loại cùng tăng 1,9% so với tháng trước và lần lượt tăng 24,2%, 17,6%, 14,9% so với cùng kỳ năm 2025.

Ngoài ra, một số nhóm hàng có diễn biến trái chiều khi so với tháng trước và cùng kỳ năm trước như: Ô tô các loại tăng 5% so với tháng trước nhưng giảm 1% so với cùng kỳ năm trước; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 2,9% nhưng giảm 3,2%; vật phẩm văn hóa giáo dục giảm 0,1% nhưng tăng 21,2%; nhiên liệu khác (trừ xăng, dầu) giảm 0,6% nhưng tăng 75,5%. Diễn biến của nhóm ô tô có thể là do tác động của yếu tố mùa vụ, trong đó có tâm lý hạn chế mua sắm trong tháng 7 âm lịch.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 9/2026 ước giảm 1% so với tháng 8/2026 nhưng tăng 19,7% so với cùng kỳ năm 2025. Doanh thu du lịch lữ hành giảm 4,4% nhưng tăng 19,2%; doanh thu hàng hóa, dịch vụ khác tăng 3,4% và tăng 14,5%.

tong-muc-ban-le-hang-hoa-va-doanh-thu-dich-vu-tieu-dung-trong-quy-3-nam-2026.jpg

Trong quý 3/2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 2.039 nghìn tỷ đồng, tăng 3,3% so với quý 2/2026 và tăng 14,5% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 1.522,7 nghìn tỷ đồng, tăng 2,5% so với quý trước và tăng 13,4% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 266,8 nghìn tỷ đồng, tăng 4,7% và tăng 19,4%; doanh thu dịch vụ lữ hành ước đạt 28,4 nghìn tỷ đồng, tăng 7,3% và tăng 23,7%; doanh thu dịch vụ khác ước đạt 221,1 nghìn tỷ đồng, tăng 6,2% và tăng 15,5%.

Lũy kế 9 tháng năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 5.925,7 nghìn tỷ đồng, tăng 13,4% so với cùng kỳ năm ngoái, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7,8% (năm 2025 tăng 7,2%).

hoat-dong-doanh-nghiep.jpg
tinh-hinh-thanh-lap-doanh-nghiep-trong-9-thang-dau-nam-2026.jpg

Trong tháng, cả nước có gần 11,6 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký gần 175,8 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký gần 75,5 nghìn lao động, giảm 4,9% về số doanh nghiệp, giảm 7,2% về vốn đăng ký nhưng tăng 25% về số lao động so với tháng 8/2026. So với cùng kỳ năm 2025, giảm 31,1% về số doanh nghiệp, tăng 6% về số vốn đăng ký và giảm 22,2% về số lao động.

Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng đạt 15,2 tỷ đồng, giảm 2,4% so với tháng trước nhưng tăng 53,9% so với cùng kỳ năm ngoái. Bên cạnh đó, cả nước còn có 8,7 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 8,1% so với tháng trước và giảm 18,9% so với cùng kỳ năm 2025.

Cũng trong tháng 9/2026, có 3.671 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giảm 31% so với tháng 8/2026 và giảm 19,6% so với cùng kỳ năm 2025; có 9.371 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 23,9% và tăng 52,1%; có 7.918 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 17,8% nhưng tăng 89,3% so với cùng kỳ năm ngoái.

Lũy kế 9 tháng năm 2026, cả nước có gần 149,7 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký 1.884 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký hơn 733,1 nghìn lao động, tăng 3,2% về số doanh nghiệp, tăng 32,7% về vốn đăng ký nhưng giảm 16,1% về số lao động so với cùng kỳ năm 2025. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong 9 tháng năm 2026 đạt 12,6 tỷ đồng, tăng 28,5% so với cùng kỳ năm ngoái.

Lũy kế 9 tháng năm 2026, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là gần 89,8 nghìn doanh nghiệp, giảm 9,7% so với cùng kỳ năm 2025; 33,5 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 37%; hơn 48,7 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 118,8%. Bình quân một tháng có 19,1 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.

xuat-nhap-khau.jpg
cac-thi-truong-xuat-khau-nhap-khau-lon-nhat-cua-viet-nam-trong-9-thang-dau-nam-2026.jpg

Trong tháng 9/2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 117,69 tỷ USD, tăng 7,3% so với tháng 8/2026 và tăng 42,4% so với cùng kỳ năm 2025. Đặc biệt, cán cân thương mại hàng hóa tháng 9/2026 đã xuất siêu trở lại sau 9 tháng liên tiếp nhập siêu, với mức xuất siêu 1,27 tỷ USD.

Lũy kế 9 tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 888,02 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó xuất khẩu tăng 24,5%; nhập khẩu tăng 36,7%. Cán cân thương mại hàng hóa 9 tháng nhập siêu 19,42 tỷ USD.

Xuất khẩu hàng hóa:

kinh-ngach-xuat-khau-mot-so-mat-hang-quy-3-nam-2026.jpg

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng đạt 59,48 tỷ USD, tăng 8,5% so với tháng 8/2026. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 9,54 tỷ USD, giảm 9,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 49,94 tỷ USD, tăng 12,7%. So với cùng kỳ năm 2025, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 9/2026 tăng 39,1%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 9,9%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 46,5%.

Trong quý 3/2026, kim ngạch xuất khẩu đạt 167,85 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm 2025 và tăng 17% so với quý 2/2026. Lũy kế 9 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 434,3 tỷ USD, tăng 24,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 83,89 tỷ USD, tăng 7,5%, chiếm 19,3% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 350,41 tỷ USD, tăng 29,4%, chiếm 80,7%.

Trong 9 tháng năm 2026 có 35 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 94,3% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 7 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 70,7%).

Nhập khẩu hàng hóa:

kim-ngach-nhap-khau-mot-so-mat-hang-quy-3-nam-2026.jpg

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng đạt 58,21 tỷ USD, tăng 6% so với tháng 8/2026. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 13,14 tỷ USD, tăng 2,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 45,07 tỷ USD, tăng 7,1%. So với cùng kỳ năm 2025, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 9/2026 tăng 45,8%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 22,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 54,6%.

Trong quý 3/2026, kim ngạch nhập khẩu đạt 170,33 tỷ USD, tăng 42,2% so với cùng kỳ năm 2025 và tăng 8,8% so với quý 2/2026. Lũy kế 9 tháng năm 2026, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 453,72 tỷ USD, tăng 36,7% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 118,17 tỷ USD, tăng 23,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 335,55 tỷ USD, tăng 42%.

Trong 9 tháng năm 2026 có 45 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 94,5% tổng kim ngạch nhập khẩu (có 6 mặt hàng nhập khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 63,1%).

chi-so-sx-cong-nghiep.jpg
chi-so-san-xuat-cong-nghiep-cua-viet-nam-trong-quy-3-nam-2026.jpg

Chỉ số sản xuất công nghiệp quý 3/2026 ước tăng 14,8% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,3%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 12,8%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,5% và ngành khai khoáng tăng 12,2%.

Lũy kế 9 tháng năm 2026, IIP ước tăng 12,3% so với cùng kỳ năm ngoái (cùng kỳ tăng 9%). Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 12,9% (cùng kỳ tăng 10,3%), đóng góp 10 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 10,6% (cùng kỳ tăng 6,3%), đóng góp 0,9 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,3% (cùng kỳ tăng 8,6%), đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 8,0% (cùng kỳ giảm 0,4%), đóng góp 1,3 điểm phần trăm.

mot-so-san-pham-cong-nghiep-tang-cao-trong-quy-3-nam-2026.jpg

Chỉ số sản xuất 9 tháng năm 2026 của một số ngành công nghiệp trọng điểm cấp 2 tăng khá so với cùng kỳ năm 2025: Sản xuất kim loại tăng 25,5%; sản xuất đồ uống tăng 17,4%; sản xuất xe có động cơ tăng 15,3%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 15,2%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 12,8%; sản xuất phương tiện vận tải khác và sản xuất chế biến thực phẩm cùng tăng 12,5%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 12,4%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện tăng 12,3%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên tăng 10,7%; dệt tăng 10,2%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 10,1%. Ở chiều ngược lại, chỉ số IIP của một số ngành có mức tăng thấp: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 3,4%; khai thác than cứng và than non tăng 0,1%.

mot-so-san-pham-cong-nghiep-giam-trong-quy-3-nam-2026.jpg

Chỉ số sản xuất công nghiệp 9 tháng năm 2026 so với cùng kỳ năm 2025 tăng ở cả 34 địa phương. Một số địa phương có chỉ số IIP tăng khá cao do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao. Ở chiều ngược lại, một số địa phương có chỉ số IIP tăng thấp do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành khai khoáng và ngành sản xuất, phân phối điện tăng thấp hoặc giảm.

thu-chi-ngan-sach.jpg

Thu ngân sách Nhà nước 9 tháng năm 2026 tăng 12,1% so với cùng kỳ năm 2025. Chi ngân sách Nhà nước tăng 14,5%, đảm bảo các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước, thanh toán các khoản nợ đến hạn cũng như chi trả kịp thời cho các đối tượng theo quy định.

Thu ngân sách Nhà nước:

thu-ngan-sach-nha-nuoc-9-thang-dau-nam-2026.jpg

Tổng thu ngân sách Nhà nước trong tháng ước đạt 162,7 nghìn tỷ đồng. Lũy kế tổng thu ngân sách Nhà nước 9 tháng năm 2026 ước đạt 2.187,3 nghìn tỷ đồng, bằng 86,5% dự toán năm và tăng 12,1% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, một số khoản thu chính như sau:

- Thu nội địa trong tháng ước đạt 126,4 nghìn tỷ đồng. Lũy kế 9 tháng năm 2026 ước đạt 1.880,3 nghìn tỷ đồng, bằng 85,5% dự toán năm, chiếm 86% tổng thu ngân sách Nhà nước và tăng 12,2% so với cùng kỳ năm ngoái.

- Thu từ dầu thô trong tháng ước đạt 6,8 nghìn tỷ đồng. Lũy kế 9 tháng năm 2026 ước đạt 50 nghìn tỷ đồng, bằng 116,4% dự toán năm, chiếm 2,3% tổng thu ngân sách Nhà nước và tăng 33,8% so với cùng kỳ năm 2025;

- Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu trong tháng ước đạt 29,4 nghìn tỷ đồng. Lũy kế 9 tháng năm 2026 ước đạt 253,5 nghìn tỷ đồng, bằng 91,2% dự toán năm, chiếm 11,6% tổng thu ngân sách Nhà nước và tăng 7,1% so với cùng kỳ năm ngoái.

Chi ngân sách Nhà nước:

chi-ngan-sach-nha-nuoc-9-thang-dau-nam-2026.jpg

Tổng chi ngân sách Nhà nước trong tháng 9/2026 ước đạt 256,8 nghìn tỷ đồng. Lũy kế 9 tháng năm 2026, chi ngân sách Nhà nước ước đạt 1.873,7 nghìn tỷ đồng, bằng 59,3% dự toán năm và tăng 14,5% so với cùng kỳ năm 2025, đáp ứng các nhu cầu chi phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước và thanh toán các khoản chi trả nợ đến hạn, đảm bảo chi trả kịp thời các khoản lương và các khoản có tính chất lương đến các đối tượng thụ hưởng ngân sách Nhà nước, góp phần thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội. Trong đó: Chi thường xuyên đạt 1.130 nghìn tỷ đồng, bằng 62,5% dự toán năm, chiếm 60,3% tổng chi ngân sách Nhà nước và tăng 1,5% so với cùng kỳ năm ngoái; Chi đầu tư phát triển đạt 657,5 nghìn tỷ đồng, bằng 58,7%, chiếm 35,1% và tăng 49,3%; Chi trả nợ lãi 83,5 nghìn tỷ đồng, bằng 68,9%, chiếm 4,5% và tăng 7,8%.

van-tai-hanh-khach.jpg
tinh-hinh-van-tai-hang-hoa-trong-quy-3-nam-2026.jpg

Hoạt động vận tải tháng 9/2026 tiếp tục sôi động, đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân và khách quốc tế, đồng thời phục vụ hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, lưu thông hàng hóa. So với cùng kỳ năm 2025, vận tải hành khách trong tháng tăng 18% về vận chuyển và tăng 14% về luân chuyển; vận tải hàng hóa tăng 19,3% về vận chuyển và tăng 17,9% về luân chuyển.

Trong quý 3/2026, vận chuyển hành khách tăng 15,9% và luân chuyển tăng 11,5% so với cùng kỳ năm ngoái; vận chuyển hàng hóa tăng 18,1% và luân chuyển tăng 15,1%. Lũy kế 9 tháng năm 2026, vận chuyển hành khách tăng 17,4% và luân chuyển tăng 11,9% so với cùng kỳ năm 2025; vận chuyển hàng hóa tăng 15,8% và luân chuyển tăng 12,8%.

Vận tải hành khách trong tháng ước đạt 663,4 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 9% so với tháng 8/2026, tăng 18% so với cùng kỳ năm 2025; luân chuyển đạt 30,8 tỷ lượt khách/km, tăng 6,4% và 14%; quý 3/2026 ước đạt 1.914,4 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 15,9% so với cùng kỳ năm ngoái và luân chuyển đạt 91,3 tỷ lượt khách/km, tăng 11,5%.

Lũy kế 9 tháng năm 2026, vận tải hành khách ước đạt 5.300,8 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 17,4% so với cùng kỳ năm 2025 và luân chuyển đạt 262 tỷ lượt khách/km, tăng 11,9%. Trong đó, vận tải trong nước ước đạt 5.285,8 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 17,4% so với cùng kỳ năm ngoái và 214,8 tỷ lượt khách/km luân chuyển, tăng 14,3%; vận tải ngoài nước ước đạt 15 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 4,1% và 47,2 tỷ lượt khách/km luân chuyển, tăng 2,2%.

Vận tải hàng hóa trong tháng ước đạt 321,9 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 8,3% so với tháng 8/2026, tăng 19,3% so với cùng kỳ năm 2025; luân chuyển 62,7 tỷ tấn/km, tăng 4,6% và tăng 17,9%; quý 3/2026 ước đạt 941,3 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 18,1% so với cùng kỳ năm ngoái và luân chuyển 184,3 tỷ tấn/km, tăng 15,1%.

Lũy kế 9 tháng năm 2026, vận tải hàng hóa ước đạt 2.580,2 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 15,8% so với cùng kỳ năm 2025 và luân chuyển 510,1 tỷ tấn/km, tăng 12,8%. Trong đó, vận tải trong nước ước đạt 2.535,7 triệu tấn vận chuyển, tăng 15,8% và 291,5 tỷ tấn/km luân chuyển, tăng 13,3%; vận tải ngoài nước ước đạt 44,5 triệu tấn vận chuyển, tăng 13,4% và 218,7 tỷ tấn/km luân chuyển, tăng 12,3%.

khach-quoc-te-den-vn.jpg
khach-quoc-te-den-viet-nam-trong-thang-9-nam-2026-phan-theo-phuong-tien-den.jpg
khach-quoc-te-den-viet-nam-thang-9-nam-2026-phan-theo-vi-tri-dia-ly.jpg

Hoạt động du lịch tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khi lượng khách quốc tế đến Việt Nam 9 tháng năm 2026 đạt 17,7 triệu lượt người, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm 2025. Kết quả trên là nhờ tình hình an ninh, an toàn, trật tự xã hội được đảm bảo; chính sách thị thực thuận lợi, công tác xúc tiến, quảng bá được đẩy mạnh, sản phẩm du lịch đa dạng cùng với lợi thế về cảnh quan thiên nhiên, văn hóa, ẩm thực và chi phí du lịch hợp lý.

Trong tháng, khách quốc tế đến nước ta ước đạt 1,77 triệu lượt người, giảm 11,3% so với tháng 8/2026 nhưng tăng 16,1% so với cùng kỳ năm 2025; đây cũng là số lượng khách quốc tế đến Việt Nam của tháng 9 lớn nhất trong 5 năm trở lại đây.

khach-quoc-te-den-viet-nam-trong-quy-3-nam-2026-phan-theo-phuong-tien-den.jpg
khach-quoc-te-den-viet-nam-quy-3-nam-2026-phan-theo-vi-tri-dia-ly.jpg

Trong quý 3/2026, khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt 5,4 triệu lượt người, giảm 1,1% so với quý 2/2026 nhưng tăng 13,8% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, khách đến bằng đường hàng không đạt 4,6 triệu lượt người, tăng 0,7% so với quý trước và tăng 13% so với cùng kỳ năm 2025; bằng đường bộ đạt 806,6 nghìn lượt người, giảm 7,6% và tăng 14,8%; bằng đường biển đạt 34,5 nghìn lượt người, giảm 43,2% và tăng 271,7%.

Lũy kế 9 tháng năm 2026, khách quốc tế đến Việt Nam đạt 17,7 triệu lượt người, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, khách đến bằng đường hàng không đạt 14,7 triệu lượt người, chiếm 83,2% lượng khách quốc tế đến và tăng 11,9% so với cùng kỳ năm ngoái; bằng đường bộ đạt 2,7 triệu lượt người, chiếm 15,4% và tăng 29,9%; bằng đường biển đạt 243,4 nghìn lượt người, chiếm 1,4% và tăng 27,7%.

Số lượt người Việt Nam xuất cảnh trong quý 3/2026 ước đạt 1,6 triệu lượt người, tăng 16,4% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 9 tháng năm 2026, số người Việt Nam xuất cảnh đạt 4,3 triệu lượt người, giảm 21,2% so với cùng kỳ năm ngoái.

von-fdi.jpg
quoc-gia-va-vung-lanh-tho-co-du-an-duoc-cap-phep-moi-tai-viet-nam-trong-9-thjang-nam-2026.jpg

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trong 9 tháng năm 2026 theo giá hiện hành ước đạt 3.109,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm 2025, cao hơn mức tăng 11,6% cùng kỳ 9 tháng năm 2025. Mức tăng này phản ánh hiệu quả từ các chính sách điều hành vĩ mô, sự quyết liệt trong đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đầu tư công và niềm tin vững chắc của khu vực tư nhân cùng các nhà đầu tư nước ngoài, tạo động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế năm 2026.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam 9 tháng năm 2026 ước đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt mức cao nhất 9 tháng của các năm từ 2022 đến nay.

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội quý 3/2026 theo giá hiện hành ước đạt 1.291,2 nghìn tỷ đồng, tăng 16,7% so với cùng kỳ năm 2025, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước ước đạt 416,6 nghìn tỷ đồng, tăng 19,9%; khu vực ngoài Nhà nước đạt 671,3 nghìn tỷ đồng, tăng 14,9%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 203,3 nghìn tỷ đồng, tăng 16,2%.

Ước tính 9 tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành ước đạt 3.109,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm 2025, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 931 nghìn tỷ đồng, chiếm 30% tổng vốn và tăng 17,3% so với cùng kỳ năm ngoái; khu vực ngoài Nhà nước đạt 1.649,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 53% và tăng 14%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 529,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 17% và tăng 14,5%.

Trong số 79 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 9 tháng năm 2026, Singapore là nhà đầu tư lớn nhất với 9,26 tỷ USD, chiếm 31,7% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hàn Quốc 5,7 tỷ USD, chiếm 19,5%; Luxembourg 4,99 tỷ USD, chiếm 17,1%; Đặc khu hành chính Hồng Kông (TQ) 3,01 tỷ USD, chiếm 10,3%; Trung Quốc 2,27 tỷ USD, chiếm 7,8%; Nhật Bản 1,56 tỷ USD, chiếm 5,3%; Hà Lan 438,5 triệu USD, chiếm 1,5%.

Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và điều chỉnh) trong 9 tháng năm 2026 đạt 2,77 tỷ USD, gấp 3,3 lần so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó: Vận tải kho bãi đạt đạt 602,4 triệu USD, chiếm 21,7% tổng vốn đầu tư; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 585,8 triệu USD, chiếm 21,1%; nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản đạt 516,6 triệu USD, chiếm 18,6%; công nghiệp chế biến chế tạo đạt 320,1 triệu USD, chiếm 11,5%.

Trong 9 tháng năm 2026, có 36 quốc gia và vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam, trong đó: Lào là nước dẫn đầu với 669 triệu USD, chiếm 24,1% tổng vốn đầu tư; Campuchia 486,5 triệu USD, chiếm 17,5%; Ấn Độ 357,2 triệu USD, chiếm 12,9%; Indonesia 340,2 triệu USD, chiếm 12,3%; Philippines 193,6 triệu USD, chiếm 7%; Kazakhstan 149,9 triệu USD, chiếm 5,4%; Mỹ 99,48 triệu USD, chiếm 3,6%.

dia-phuong-thu-hut-von-fdi-dang-ky-cap-moi-trong-9-thang-nam-2026.jpg

7 địa phương dẫn đầu về thu hút vốn FDI đăng ký cấp mới là TP.HCM, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Phòng, Nghệ An và Tây Ninh.

Xem thêm

Có thể bạn quan tâm

Gỡ nút thắt để chi phí logistics không "ăn mòn" lợi nhuận doanh nghiệp

Gỡ nút thắt để chi phí logistics không "ăn mòn" lợi nhuận doanh nghiệp

Trong một nền kinh tế có độ mở thương mại rất lớn như Việt Nam, logistics không còn là câu chuyện riêng của ngành vận tải hay kho bãi. Đây là một cấu phần trực tiếp quyết định giá thành, thời gian giao hàng, khả năng đáp ứng đơn hàng và sức cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường quốc tế...

VACOD-HBA "mở đường", doanh nghiệp Việt mở rộng thị trường, đón đầu cơ hội

VACOD-HBA "mở đường", doanh nghiệp Việt mở rộng thị trường, đón đầu cơ hội

Chủ trì chương trình “Bữa sáng Doanh nhân” ngày 19/9, Chủ tịch VACOD-HBA TS Nguyễn Hồng Sơn định hướng cộng đồng doanh nghiệp tiếp tục phát huy sức mạnh liên kết, tăng cường kết nối và mở rộng hợp tác, qua đó tạo thêm động lực cho doanh nghiệp thích ứng với những chuyển động mới của thị trường...

Chính phủ "tháo gỡ đến cùng" để doanh nghiệp tự mình đi tới

Chính phủ "tháo gỡ đến cùng" để doanh nghiệp tự mình đi tới

Doanh nghiệp đang phải vượt qua một giai đoạn nhiều sức ép. Trong bối cảnh ấy, yêu cầu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về hoàn thiện thể chế phát triển có ý nghĩa đặc biệt thiết thực: "Lấy thực thi làm thước đo"; đồng thời phải tháo gỡ rào cản, khơi thông nguồn lực, tạo động lực phát triển mới...

VACOD-HBA tăng tốc chuẩn bị chuỗi sự kiện tháng 10, mở hướng chăm sóc sức khỏe chủ động cho doanh nhân

VACOD-HBA tăng tốc chuẩn bị chuỗi sự kiện tháng 10, mở hướng chăm sóc sức khỏe chủ động cho doanh nhân

Chủ trì Chương trình Bữa sáng Doanh nhân ngày 12/9, Chủ tịch VACOD-HBA nhấn mạnh các nội dung trọng tâm trong công tác chuẩn bị chuỗi sự kiện diễn ra vào tháng 10. Và kết nối cộng đồng doanh nhân về công nghệ tế bào gốc, y học tái tạo; mở ra góc nhìn mới trong chăm sóc, điều trị, nâng cao sức khỏe…

Giải Golf doanh nhân quốc tế VACOD-HBA 2026 tạo dấu ấn lớn, khí thế hướng đến tháng doanh nhân Việt Nam

Giải Golf doanh nhân quốc tế VACOD-HBA 2026 tạo dấu ấn lớn, khí thế hướng đến tháng doanh nhân Việt Nam

Chủ trì Chương trình Bữa sáng Doanh nhân ngày 5/9, TS Nguyễn Hồng Sơn nêu rõ Giải Golf Doanh nhân Quốc tế VACOD – HBA ghi nhận sức hút và tinh thần đồng hành mạnh mẽ của cộng đồng doanh nhân; đồng thời chia sẻ những đánh giá tích cực từ đợt kiểm tra liên ngành đối với hoạt động của VACOD...