Trong 10 tháng qua, nền kinh tế của nước ta ghi nhận nhiều dấu ấn quan trọng khi tổng kim ngạch xuất nhập khẩu vượt mốc 1.000 tỷ USD; Vốn FDI đăng ký tăng 74%; Sản xuất công nghiệp và các hoạt động thương mại, dịch vụ tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực.
Tính đến hết 10 tháng năm 2026, các tổ chức tài chính và xếp hạng quốc tế lớn như IMF, World Bank, ADB, Standard Chartered, UOB đều đưa ra những đánh giá rất tích cực và nâng dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam. Standard Chartered là tổ chức lạc quan nhất khi nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam năm 2026 lên mức 9,5% (dự kiến nửa cuối năm có thể đạt tới 10,6%). Tổ chức này đánh giá cao khả năng chống chịu vững vàng của nền kinh tế dựa trên nhu cầu nội địa vững chắc cùng hoạt động thương mại sôi động.
Bên cạnh đó, IMF đánh giá tỷ lệ nợ công của Việt Nam năm 2026 chỉ ở mức 28,3% GDP, giúp Việt Nam nằm trong nhóm 20 nền kinh tế có tỷ lệ nợ công thấp nhất thế giới, tạo dư địa tài khóa lớn để ứng phó các cú sốc.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2026 tăng 0,20% so với tháng trước, chủ yếu do giá xăng dầu trong nước điều chỉnh tăng theo giá nhiên liệu thế giới. CPI trong tháng tăng 4,41% so với tháng 12/2025 và tăng 5,09% so với cùng kỳ năm ngoái. Bình quân 10 tháng năm 2026, CPI tăng 4,57% so với cùng kỳ năm 2025; lạm phát cơ bản tăng 4,24%.
Trong 11 nhóm hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng chính, 7 nhóm có chỉ số giá tăng và 4 nhóm có chỉ số giá giảm. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,61%, tác động làm CPI chung tăng 1,65 điểm phần trăm; Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,66%, tác động làm CPI chung tăng 1,51 điểm phần trăm; Nhóm giao thông tăng 6,98%, tác động làm CPI chung tăng 0,7 điểm phần trăm, trong đó giá nhiên liệu tăng 13,09%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại đều có chỉ số giá tăng: Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,72%; Đồ uống và thuốc lá tăng 3,8%; Giáo dục tăng 3,29%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,88%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,75%; May mặc, mũ nón và giày dép tăng 2,04%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,19%; Thông tin và truyền thông tăng 0,12%.
Lạm phát cơ bản tháng 10/2026 giảm 0,05% so với tháng 9/2026 và tăng 4,04% so với cùng kỳ năm 2025. Bình quân 10 tháng năm 2026, lạm phát cơ bản tăng 4,24% so với cùng kỳ năm ngoái, thấp hơn mức tăng 4,57% của CPI bình quân chung, chủ yếu do giá xăng dầu, gas, lương thực, thực phẩm tươi sống, dịch vụ y tế biến động làm CPI chung tăng, trong khi các nhóm này được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.
Bình quân giá vàng thế giới tính đến ngày 28/10 ở mức 4.137,85 USD/ounce, giảm 6,69% so với tháng 9/2026, chủ yếu do đồng USD mạnh lên, lợi suất trái phiếu Mỹ duy trì ở mức cao, thị trường gia tăng kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ để kiểm soát lạm phát cùng với áp lực bán chốt lời của các nhà đầu tư. Trong nước, chỉ số giá vàng tháng 10/2026 giảm 2,85% so với tháng 9/2026; giảm 2,94% so với cùng kỳ năm 2025. Bình quân 10 tháng năm 2026, chỉ số giá vàng tăng 37,28% so với cùng kỳ năm ngoái.
Chỉ số giá đô la Mỹ bình quân trên thị trường quốc tế tính đến ngày 28/10 đạt 101,88 điểm, tăng 2,39 điểm so với tháng 9/2026, trong bối cảnh kỳ vọng Fed duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt và lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ ở mức cao. Trong nước, chỉ số giá đô la Mỹ tháng 10/2026 giảm 0,26% so với tháng 9/2026; giảm 1,26% so với cùng kỳ năm 2025; chủ yếu do nguồn cung ngoại tệ tương đối dồi dào và chính sách điều hành tỷ giá linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Bình quân 10 tháng năm 2026, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,78% so với cùng kỳ năm ngoái.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tăng 14,7% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 10 tháng năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,5% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng 12,9%, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 17%, doanh thu du lịch lữ hành tăng 18,1% và doanh thu dịch vụ khác tăng 13,6%.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành tháng 10/2026 ước đạt 695,5 nghìn tỷ đồng, tăng 1% so với tháng 9/2026 và tăng 14,7% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa của hầu hết các nhóm hàng đều có xu hướng tăng so với tháng trước và cùng kỳ năm ngoái như: Doanh thu nhóm sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 1,7% so với tháng trước và tăng 12,5% so với cùng kỳ năm ngoái; Đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 1,3% và tăng 13,5%; Hàng may mặc tăng 1,1% và tăng 12,6%; Ô tô các loại tăng 1,1% và tăng 2,5%; Gỗ và vật liệu xây dựng tăng 1% và tăng 25,3%.
Một số nhóm hàng có diễn biến trái chiều giữa 2 kỳ so sánh như đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 0,6% so với tháng trước nhưng giảm 3,1% so với cùng kỳ năm ngoái; Vật phẩm văn hóa, giáo dục giảm 1,9% so với tháng trước nhưng tăng 18,3% so với cùng kỳ năm 2025.
Lũy kế 10 tháng năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 6.618,9 nghìn tỷ đồng, tăng 13,5% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7,7% (năm 2025 tăng 7,4%). Doanh thu bán lẻ hàng hóa 10 tháng năm 2026 ước đạt 4.981,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 75,3% tổng mức và tăng 12,9% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, doanh thu nhóm nhiên liệu khác (trừ xăng, dầu) tăng 23,6%; Đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 19,4%; Hàng hóa khác tăng 18,4%; Gỗ và vật liệu xây dựng tăng 18,1%.
Doanh thu bán lẻ hàng hóa 10 tháng năm 2026 so với cùng kỳ năm ngoái của một số địa phương như sau: Đà Nẵng tăng 14%; Quảng Ninh tăng 13,5%; Lâm Đồng tăng 13,4%; Hải Phòng tăng 13,3%; Đồng Nai tăng 12,8%; Hà Nội tăng 12,6%; TP.HCM tăng 12,3%.
Trong tháng, cả nước có gần 12,6 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký gần 254,8 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký gần 66,3 nghìn lao động, tăng 8,7% về số doanh nghiệp, tăng 45% về vốn đăng ký nhưng giảm 12,1% về số lao động so với tháng 9/2026.
So với cùng kỳ năm 2025, tăng 47,7% về số vốn đăng ký nhưng giảm 29,9% về số doanh nghiệp và giảm 29,2% về số lao động. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng 10/2026 đạt 20,2 tỷ đồng, tăng 33,3% so với tháng 9/2026 và tăng 110,6% so với cùng kỳ năm 2025. Bên cạnh đó, cả nước còn có gần 11,1 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 27,4% so với tháng trước nhưng giảm 4,2% so với cùng kỳ năm ngoái.
Cũng trong tháng 10/2026, có 4.726 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 28,7% so với tháng 9/2026 nhưng giảm 22,1% so với cùng kỳ năm 2025; có 8.032 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 14,3% nhưng tăng 18,6%; có 7.513 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 5,1% nhưng tăng 65,6%.
Lũy kế 10 tháng năm 2026, cả nước có gần 162,3 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký 2.138,8 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký 799,4 nghìn lao động, giảm 0,4% về số doanh nghiệp, giảm 17,4% về số lao động nhưng tăng 34,3% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2025. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong 10 tháng năm 2026 đạt 13,2 tỷ đồng, tăng 34,8% so với cùng kỳ năm ngoái.
Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 10 tháng năm 2026 đạt gần 5,8 triệu tỷ đồng, tăng 11,6% so với cùng kỳ năm 2025. Bên cạnh đó, cả nước có gần 81,4 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (giảm 12,5% so với cùng kỳ), nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong 10 tháng năm 2026 lên hơn 243,6 nghìn doanh nghiệp, giảm 4,8% so với cùng kỳ năm ngoái. Bình quân một tháng có 24,4 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.
Lũy kế 10 tháng năm 2026, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là gần 92 nghìn doanh nghiệp, giảm 12,7% so với cùng kỳ năm 2025; hơn 33,7 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 42,3%; gần 56,3 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 109,8%. Bình quân một tháng có 18,2 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.
Trong tháng 10/2026, tổng kim ngạch xuất - nhập khẩu hàng hóa sơ bộ đạt 122,03 tỷ USD, tăng 3,7% so với tháng 9/2026 và tăng 47,4% so với cùng kỳ năm 2025. Đáng chú ý, cán cân thương mại hàng hóa tháng 10/2026 xuất siêu 7,31 tỷ USD, sau khi xuất siêu 1,3 tỷ USD trong tháng 9/2026, đây là tháng thứ 2 liên tiếp ghi nhận xuất siêu trong năm 2026.
Lũy kế 10 tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất - nhập khẩu hàng hóa sơ bộ đạt 1.010,55 tỷ USD, tăng 32,3% so với cùng kỳ năm 2025. Đây là lần đầu tiên tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam vượt mốc 1.000 tỷ USD, đạt mức cao nhất từ trước đến nay, cho thấy quy mô hoạt động thương mại quốc tế tiếp tục được mở rộng mạnh mẽ. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu tăng 27,5%; nhập khẩu tăng 37,4%. Do nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu, cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 12,07 tỷ USD.
Xuất khẩu hàng hóa:
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 10/2026 đạt 64,67 tỷ USD, tăng 8,7% so với tháng 9/2026. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 9,94 tỷ USD, tăng 4,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 54,73 tỷ USD, tăng 9,5%. So với cùng kỳ năm 2025, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng tăng 51,4%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 13,5%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 61,2%.
Lũy kế 10 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 499,24 tỷ USD, tăng 27,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 93,93 tỷ USD, tăng 8,2%, chiếm 18,8% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 405,31 tỷ USD, tăng 33%, chiếm 81,2%.
Trong 10 tháng năm 2026 có 37 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 94,9% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 8 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 73,4%).
Nhập khẩu hàng hóa:
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 10/2026 đạt 57,36 tỷ USD, giảm 1,4% so với tháng 9/2026. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 13,45 tỷ USD, tăng 2,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 43,91 tỷ USD, giảm 2,6%. So với cùng kỳ năm 2025, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng tăng 43,1%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 17,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 53,2%.
Lũy kế 10 tháng năm 2026, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 511,31 tỷ USD, tăng 37,4% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 131,76 tỷ USD, tăng 23%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 379,55 tỷ USD, tăng 43,2%.
Trong 10 tháng năm 2026 có 47 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 95% tổng kim ngạch nhập khẩu (có 8 mặt hàng nhập khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 67,3%).
Sản xuất công nghiệp tháng 10/2026 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. IIP ước tăng 2,3% so với tháng 9/2026 và tăng 15% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 10 tháng năm 2026, chỉ số IIP tăng 12,4% so với cùng kỳ năm ngoái, là mức tăng cao nhất trong cùng kỳ năm trước của giai đoạn 2019 - 2026.
Trong tháng 10/2026, chỉ số sản xuất công nghiệp ngành chế biến, chế tạo và ngành sản xuất và phân phối điện cùng tăng 15,7% so với cùng kỳ năm 2025; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,8%; ngành khai khoáng tăng 4,9%.
Lũy kế 10 tháng năm 2026, IIP ngành chế biến, chế tạo tăng 13% (cùng kỳ năm 2025 tăng 10,4%), đóng góp 10,2 điểm phần trăm vào mức tăng chung; Ngành khai khoáng tăng 7,1% (cùng kỳ tăng 0,2%), đóng góp 1,1 điểm phần trăm; Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 10,6% (cùng kỳ tăng 6,6%), đóng góp 1,0 điểm phần trăm; Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,2% (cùng kỳ tăng 8,5%), đóng góp 0,1 điểm phần trăm.
Chỉ số sản xuất công nghiệp 10 tháng năm 2026 so với cùng kỳ năm 2025 tăng ở 33 địa phương, riêng Sơn La giảm 5%. Một số địa phương có chỉ số IIP đạt mức tăng khá nhờ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao. Ở chiều ngược lại, một số địa phương có chỉ số IIP tăng thấp hoặc giảm do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành khai khoáng và ngành sản xuất, phân phối điện tăng thấp hoặc giảm.
Trong 10 tháng năm 2026, một số sản phẩm công nghiệp chủ lực có mức tăng khá so với cùng kỳ năm 2025 như: Máy tính bảng tăng 36,6%; Xe máy tăng 26,8%; Máy tính xách tay tăng 25,9%; Ô tô tăng 25,1%; Thép cán tăng 24%; Thép thanh, thép góc và thủy hải sản chế biến cùng tăng 22,5%; Đường kính tăng 18,9%; Sắt, thép thô tăng 17%; Bia tăng 14,6%. Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm ngoái như: Bột ngọt giảm 6,7%; Phân hỗn hợp NPK giảm 6,3%; Tivi giảm 5,1%; Khí hóa lỏng LPG giảm 4,9%.
Thu ngân sách nhà nước 10 tháng năm 2026 ước tăng 11% và chi ngân sách nhà nước ước tăng 14,8% so với cùng kỳ năm 2025, đảm bảo các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước, thanh toán các khoản nợ đến hạn cũng như chi trả kịp thời cho các đối tượng theo quy định.
Thu ngân sách Nhà nước:
Thu ngân sách nhà nước tiếp tục duy trì tiến độ tích cực trong bối cảnh thực hiện nhiều chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí và tiền thuê đất để hỗ trợ doanh nghiệp, người dân và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tổng thu ngân sách nhà nước tháng 10/2026 ước đạt 251,5 nghìn tỷ đồng. Lũy kế tổng thu ngân sách nhà nước 10 tháng năm 2026 ước đạt 2.438,9 nghìn tỷ đồng, bằng 96,4% dự toán năm và tăng 11% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, một số khoản thu chính như sau:
- Thu nội địa trong tháng ước đạt 222,3 nghìn tỷ đồng. Lũy kế 10 tháng năm 2026 ước đạt 2.102,8 nghìn tỷ đồng, bằng 95,6% dự toán năm, chiếm 86,2% tổng thu ngân sách nhà nước và tăng 11,4% so với cùng kỳ năm 2025.
- Thu từ dầu thô trong tháng ước đạt 6,3 nghìn tỷ đồng. Lũy kế 10 tháng năm 2026 ước đạt 56,3 nghìn tỷ đồng, bằng 131% dự toán năm, chiếm 2,3% tổng thu ngân sách nhà nước và tăng 38,3% so với cùng kỳ năm ngoái;
- Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu trong tháng ước đạt 22,3 nghìn tỷ đồng. Lũy kế 10 tháng năm 2026 ước đạt 275,8 nghìn tỷ đồng, bằng 99,2% dự toán năm, chiếm 11,3% tổng thu ngân sách nhà nước và tăng 3,6% so với cùng kỳ năm 2025.
Chi ngân sách Nhà nước:
Tổng chi ngân sách nhà nước tháng 10/2026 ước đạt gần 235 nghìn tỷ đồng. Lũy kế 10 tháng năm 2026, chi ngân sách nhà nước ước đạt 2.108,7 nghìn tỷ đồng, bằng 66,8% dự toán năm và tăng 14,8% so với cùng kỳ năm 2025, đáp ứng các nhu cầu chi phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước và thanh toán các khoản chi trả nợ đến hạn, bảo đảm chi trả kịp thời các khoản lương và các khoản có tính chất lương đến các đối tượng thụ hưởng ngân sách nhà nước, góp phần thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội. Trong đó: Chi thường xuyên đạt 1.280 nghìn tỷ đồng, bằng 70,8% dự toán năm, chiếm 60,7% tổng chi ngân sách nhà nước và tăng 2,2% so với cùng kỳ năm 2025; Chi đầu tư phát triển đạt gần 735 nghìn tỷ đồng, bằng 65,6%, chiếm 34,9% và tăng 49,7%; Chi trả nợ lãi 90,2 nghìn tỷ đồng, bằng 74,5%, chiếm 4,3% và tăng 4,5%.
Hoạt động vận tải tháng 10/2026 tiếp tục sôi động, đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân và khách quốc tế, đồng thời phục vụ hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh và xuất - nhập khẩu hàng hóa. So với cùng kỳ năm 2025, vận tải hành khách trong tháng tăng 16,4% về vận chuyển và tăng 14,6% về luân chuyển; vận tải hàng hóa tăng 17,4% về vận chuyển và luân chuyển.
Lũy kế 10 tháng năm 2026, vận tải hành khách tăng 16,7% về vận chuyển và tăng 11,7% về luân chuyển so với cùng kỳ năm ngoái; vận tải hàng hóa tăng tương ứng 15,5% và 13,1%.
Vận tải hành khách tháng 10/2026 ước đạt 646,1 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 1,9% so với tháng 9/2026, tăng 16,4% so với cùng kỳ năm 2025; luân chuyển 29,6 tỷ lượt khách/km, tăng 0,3% và 14,6%. Lũy kế 10 tháng năm 2026, vận tải hành khách ước đạt 5.917,6 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 16,7% so với cùng kỳ năm ngoái và luân chuyển đạt 290,2 tỷ lượt khách/km, tăng 11,7%. Trong đó, vận tải trong nước ước đạt 5.901,1 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 16,7% so với cùng kỳ năm 2025 và 238,2 tỷ lượt khách/km luân chuyển, tăng 14,1%; vận tải ngoài nước ước đạt 16,6 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 3,4% và 52,1 tỷ lượt khách/km luân chuyển, tăng 1,8%.
Vận tải hàng hóa tháng 10/2026 ước đạt 313,8 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 1% so với tháng 9/2026, tăng 17,4% so với cùng kỳ năm 2025; luân chuyển 64,2 tỷ tấn/km, tăng 3,9% và tăng 17,4%. Lũy kế 10 tháng năm 2026, vận tải hàng hóa ước đạt 2.882,6 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 15,5% so với cùng kỳ năm ngoái và luân chuyển 573,4 tỷ tấn/km, tăng 13,1%. Trong đó, vận tải trong nước ước đạt 2.833,2 triệu tấn vận chuyển, tăng 15,6% và 326,9 tỷ tấn/km luân chuyển, tăng 13,5%; vận tải ngoài nước ước đạt 49,4 triệu tấn vận chuyển, tăng 13,6% và 246,5 tỷ tấn/km luân chuyển, tăng 12,7%.
Trong tháng 10/2026, khách quốc tế đến Việt Nam đạt 1,85 triệu lượt người, tăng 4,9% so với tháng 9/2026, tăng 7% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 10 tháng năm 2026 đạt 19,5 triệu lượt người, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm ngoái.
Đạt được kết quả trên là nhờ tình hình an ninh, an toàn, trật tự xã hội được đảm bảo; chính sách thị thực thuận lợi, hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch được đẩy mạnh, sản phẩm du lịch ngày càng đa dạng cùng với lợi thế về cảnh quan thiên nhiên, văn hóa, ẩm thực và chi phí du lịch hợp lý. Bên cạnh đó, 2 đêm diễn của nhóm nhạc Big Bang tại Hà Nội trong tháng 10/2026 đã góp phần thu hút khách quốc tế đến Việt Nam.
Xét theo phương thức nhập cảnh, trong 10 tháng năm 2026, khách quốc tế đến Việt Nam bằng đường hàng không đạt 16,3 triệu lượt người, chiếm 83,2% tổng lượng khách quốc tế đến và tăng 11,5% so với cùng kỳ năm 2025; bằng đường bộ đạt 3 triệu lượt người, chiếm 15,5% và tăng 27,1%; bằng đường biển đạt 255,2 nghìn lượt người, chiếm 1,3% và tăng 24,6%.
Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước tháng 10/2026 ước đạt 121,6 nghìn tỷ đồng, tăng 23,7% so với cùng kỳ năm 2025, bao gồm: Vốn Trung ương quản lý đạt 17,3 nghìn tỷ đồng, tăng 0,8%; Vốn địa phương quản lý đạt 104,3 nghìn tỷ đồng, tăng 28,6%. Lũy kế 10 tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước ước đạt 783,9 nghìn tỷ đồng, bằng 69% kế hoạch năm và tăng 19,8% so với cùng kỳ năm ngoái (cùng kỳ bằng 64,3% và tăng 30,7%).
Trong số 80 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 10 tháng năm 2026, Singapore là nhà đầu tư lớn nhất với 9,52 tỷ USD, chiếm 31% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hàn Quốc 5,81 tỷ USD, chiếm 18,9%; Luxembourg 4,99 tỷ USD, chiếm 16,2%; Đặc khu hành chính Hồng Kông (TQ) 3,57 tỷ USD, chiếm 11,6%; Trung Quốc 2,77 tỷ USD, chiếm 9%; Nhật Bản 1,58 tỷ USD, chiếm 5,1%; Hà Lan 438,5 triệu USD, chiếm 1,4%.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam 10 tháng năm 2026 ước đạt 24,08 tỷ USD, tăng 13,1% so với cùng kỳ năm 2025. Đây là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất trong cùng kỳ 10 tháng của 5 năm qua. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 19,96 tỷ USD, chiếm 82,9% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện; Hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 1,76 tỷ USD, chiếm 7,3%; Sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 785,2 triệu USD, chiếm 3,3%.
Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và điều chỉnh) đạt 3,41 tỷ USD, gấp 3,1 lần so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ đạt 684,8 triệu USD, chiếm 20,1% tổng vốn đầu tư; Vận tải kho bãi đạt 639,4 triệu USD, chiếm 18,8%; Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 585,8 triệu USD, chiếm 17,2%.
Trong 10 tháng năm 2026, có 37 quốc gia và vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam, trong đó: Lào là nước dẫn đầu với 670,9 triệu USD, chiếm 19,7% tổng vốn đầu tư; Cộng hòa Dominica 560 triệu USD, chiếm 16,4%; Campuchia 487 triệu USD, chiếm 14,3%; Ấn Độ 361,7 triệu USD, chiếm 10,6%; Indonesia 340,2 triệu USD, chiếm 10%; Philippines 193,6 triệu USD, chiếm 5,7%; Kazakhstan 149,9 triệu USD, chiếm 4,4%; Mỹ gần 100 triệu USD, chiếm 2,9%.
7 địa phương dẫn đầu về thu hút vốn FDI đăng ký cấp mới là TP.HCM, Thái Nguyên, Nghệ An, Hải Phòng, Bắc Ninh, Đồng Nai và Hưng Yên.